Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

Chóng mặt với số tiền khủng người Mỹ bỏ ra để con vào được ĐH danh giá


Theo kết quả nghiên cứu được đăng trên trên trang Town & Country cho thấy, các gia đình ở Mỹ phải chi trả khoản tiền nhiều hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới để cho con được học tại các trường đại học danh giá.

Năm 1973, tạp chí Town & Country đưa ra phân tích, gia đình Mỹ phải bỏ ra số tiền khoảng 300.000 USD (khoảng 6.8 tỉ VNĐ) để cho con vào được đại học.
Năm 2017, con số ước chừng khoảng 1.7 triệu USD (trên 38.6 tỉ VNĐ) để 1 đứa trẻ gia nhập 1 trong những trường đại học thuộc khối Ivy League.
 chong mat voi so tien khung nguoi my bo ra de con vao duoc dh danh gia hinh anh 1
Nhà giàu ở Mỹ coi trọng việc giáo dục các hoạt động khác hơn giáo dục học tập chính
Trong đó, những khoản chi nổi bật gồm :
- Mầm non: 4.500 USD (khoảng 102 triệu VNĐ) cho thủ tục nhập học, 80.000 USD (trên 1.8 tỉ VNĐ) cho học phí tại trường mầm non Horace Mann ở New York.
- Tiểu học: 156.400 USD (trên 3.5 tỉ VNĐ) cho trường Francis Parker ở Chicago, 164.990 (trên 3.7 tỉ VNĐ) cho Học viện Milton ở Milton, Massachusetts.
- Trung học: 157.000 USD (trên 3.56 tỉ VNĐ) cho 4 năm học tại trường Trung học Harvard-Westlake ở Los Angeles (California), 104.000 USD (trên 2.36 tỉ VNĐ) cho một giáo viên dạy kèm ngôn ngữ trong 40 tuần mỗi năm.
- Lớp học ngoại khóa: 29.870 USD (trên 670 triệu VNĐ) cho các lớp học âm nhạc và nghệ thuật dành cho trẻ từ 4 tuổi, 56,600 USD cho việc tham gia 1 giải đấu thể thao du lịch.
- Chuẩn bị trước khi vào đại học: 100.000 USD (trên 2.27 tỉ VNĐ) cho việc tư vấn tham gia vào các trường đại học danh giá.
- Chi phí 1 năm “gap year”: 55.000 USD (khoảng 1.25 tỉ VNĐ) để trải nghiệm du lịch và văn hóa trước khi vào đại học chính thức.
- Đại học: Chi phí cho 4 năm đại học tại Đại học Yale khoảng 280.000 USD (trên 6.36 tỉ VNĐ).
Phân tích trên cho thấy sự khác biệt rất lớn trong việc tiếp cận giáo dục của gia đình giàu có và gia đình có thu nhập thấp. Sự khác biệt lớn nhất nằm ở các hoạt động khác được coi trọng hơn chương trình học tập chính.
Thậm chí, trước khi học tiểu học, các bậc phụ huynh giàu có còn đầu tư tiền để con của họ tham gia vào các lớp học làm giàu với mong muốn chúng có xuất phát điểm nhanh hơn với những đứa trẻ khác.
Tất nhiên, sự giàu có không phải là yếu tố duy nhất để quyết định sự thành công của mỗi người. Bên cạnh đó, các trường đại học cũng cố gắng tuyển sinh rộng rãi hơn, khuyến khích sinh viên đến từ nhiều quốc gia, dân tộc và tầng lớp kinh tế khác nhau.



Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2017

Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế (Digital Creative Portfolio)


Đối với học bổng của Khoa Truyền thông và Thiết kế, bạn phải nộp Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế (Digital Creative Portfolio). Hồ sơ cho bạn cơ hội thể hiện kỹ năng, sở thích và thế mạnh trong sáng tạo tác phẩm thiết kế hay truyền thông số.
Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế cho phép sinh viên có năng lực sáng tạo vượt trội nhưng có thể không đạt điểm cao trong các môn học truyền thống ở trường trung học được thể hiện sản phẩm sáng tạo của bản thân.
Bạn nên tập hợp Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế cẩn thận và tập trung thể hiện bản thân bạn, đồng thời, qua các tác phẩm của mình thể hiện đam mê sáng tạo và thiết kế của bạn. Hồ sơ không nên tập hợp các tác phẩm rời rạc. Chúng tôi khuyến khích bạn tập trung vào chất lượng của các tác phẩm thay vì số lượng.
Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế có thể gồm những loại sau:
  • Thiết kế đồ họa hoặc tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Video, phim hoạt hình hoặc tác phẩm kỹ xảo;
  • Thiết kế âm thanh, phối nhạc hoặc sáng tác nhạc;
  • Các thiết kế tương tác như trang web, ứng dụng điện thoại hay game;
  • Các tác phẩm nghệ thuật thủ công như tranh vẽ, điêu khắc hay nghệ thuật sắp đặt
  • Và bất kỳ tác phẩm thiết kế tâm đắc nào do bạn thực hiện.
Quan trọng nhất, Hồ sơ năng lực thiết kế của bạn cần sắp xếp phù hợp để truyền tải được ý tưởng đằng sau các tác phẩm. Một hồ sơ năng lực tốt phải thể hiện được bạn là ai và vì sao bạn xứng đáng giành được Học bổng ngành Thiết kế.
Định dạng: Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế phải gồm một file video với thời lượng không quá năm phút. Trang bìa hồ sơ cần ghi rõ “Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế" và tên của bạn.
Nộp hồ sơ: Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế cần được đăng lên một kênh phim trực tuyến như Vimeo hoặc YouTube hoặc bất kỳ kho lưu trữ trực tuyến nào như Google Drive và nộp dưới dạng đường dẫn. Các phương thức nộp hồ sơ khác ngoài hình thức trực tuyến đều không được chấp nhận.
Lưu ý:
  • Tất cả các tác phẩm trong hồ sơ đều phải do chính ứng viên sáng tác.

Diploma in Design Communication

The impact of design solutions on people’s lives is constantly growing. Hence pursuing a design education today means acquiring the thinking capacity and necessary skills to shape the future, especially that of society, with human needs as the key driving force. Whether it’s making furniture, innovative objects for everyday use, or simply improving the way people move, behave and interact in public space, the aim of Diploma in Design Communication Programme is to enable its students to make the salient difference in exploring and developing effective solutions to real-world issues and needs. Its vision is to have its students’ creativity and originality make unexpected and meaningful connections between different professions; not just the classical disciplines of graphic design, advertising and illustration. Regardless whether it’s about engineering the next “fish” to address the issue of overfishing or creating a phone application for a growing population with depression, students in Diploma in Design Communication Programme will be taught to think differently and to brave the world with their ideas and solutions to better living. 
Given the programme’s unique blend of Asian and Western cultures and influences, you will be part of a unique and dynamic learning community and collaborative environment, contributed by multi-disciplinary partnerships amongst programmes and faculties, and with the creative industries. Comprising studio practice, contextual studies and technical studies modules, your time spent on the programme would be a time to prepare yourself for a world that constantly demands creative ideas, initiative and collaborations. The programme’s forward-thinking curriculum endeavors to prepare creative and unique designers, who are starting their professional careers in widely varying places and in an increasing number of corporate and social sectors. 
In Level 1, you will share some common modules across the Diplomas and you will also take discipline-specific modules. The shared modules aim to provide you with a comprehensive grounding in the basic creative processes, art and design fundamentals, technical and academic skills essential for your progression to Level 2 and Level 3. The discipline-specific modules will introduce you to core knowledge and skills required as the first layer to your specialist areas. 
In Level 2, you will be taught technical and design skills specific to Design Communication with a directed approach, which encourages reflection and an understanding to design. These essential skills, which you will acquire through group and individual project briefs, are closely aligned to the demands of the design industry. 
In Level 3, you will undertake modules, which may include self-devised/directed studies or projects. You will be tasked to problem-solve and articulate ideas through a variety of briefs. There will be self-initiated industry placements and/or live projects learning component designed to assist you in gaining an accurate understanding of the design industry associated with Design Communication. 
Career Paths: Illustrator, Advertising Designer, Graphic Designer, Photographer, Visualiser, Concept Artist, Designer for Public Spaces, Designer for Exhibitions/Performances, Motion Graphic Designer, Branding Consultant, Data Visualiser, Layout Artist, Production Manager, Studio Manager, Web Designer, User Interface Designer





HỌC VIỆN LASALLE COLLEGE OF THE ARTS

Được thành lập năm 1984, Học viện Nghệ thuật LASALLE College of the Arts (Singapore) là một trong những cái nôi đào tạo các ngành nghệ thuật hàng đầu tại châu Á – Thái Bình Dương.
 lasalle-college-of-the-arts-singapore
Học viện Lasalle là nơi quan trọng trong việc đưa Singapore trở thành một thành phố nghệ thuật và trung tâm văn hóa của châu Á – Thái Bình Dương. Đây là ngôi trường giáo dục độc lập phi lợi nhuận và được hỗ trợ trực tiếp từ Bộ Giáo dục Singapore.
Bên cạnh đó, các giảng viên và sinh viên tốt nghiệp sẽ được mời tham dự vào các hoạt động, các sự kiện có uy tín trong ngành Nghệ thuật như Venice Biennale (Ý), Giải thưởng Creative Circle (Singapore), Giải thưởng Thời trang quốc tế Smirnoff (New York), Fukuoka Triennale (Nhật Bản), Học viện Nghệ thuật biểu diễn Tây Úc và trường Ballet Hoàng gia (Anh).
Singapore
Lý do để bạn học tại đây:
– Sinh viên có nhiều có hội được tiếp xúc trực tiếp với các nghệ sĩ quốc tế , tham dự các buổi biểu diễn,các sự kiện  văn hóa  nghệ thuật  cao cấp.
– Sinh viên được phép làm thêm 16h/tuần
– Sau khi tốt nghiệp có cơ hội làm việc tại Singapore.
– Khu học xá hiện đại ngay trung tâm Singapore
– Được tiếp xúc với phương pháp giảng dạy độc đáo nhấn mạnh sự sáng tạo của giảng viên – những nhà hoạt động văn hóa quần chúng.
 12165901195_2f30b8b9ef_b
Các khóa học
Tại trường LASALLE College of the Arts có các chuyên ngành cho các khóa Diplome và Cử nhân như sau
  • Thiết kế Sản phẩm / Diễn xuất  / Quản lí Nghệ thuật, Hoạt Hình
  • Thiết Kế Truyền Thông  / Thiết kế Nội thất / Thiết kế Thời trang & Dệt May
  • Đạo Diễn /Múa / Hội họa
  • Kinh Kịch /  Âm nhạc
  • Truyền thông & Công Nghệ Thời Trang
Đối với khóa Thạc sỹ có các ngành như sau:
  • Lịch sử Nghệ thuật
  • Quản lí Văn hóa & Nghệ thuật
  • Liệu pháp Nghệ thuật
  • Mỹ thuật
Yêu cầu nhập học
KHÓA HỌC
TRÌNH ĐỘ
ĐIỀU KIỆN
Khóa DiplomaTốt nghiệp THPT
5.5 IELTS
71 TOEFL iBT
Hồ sơ năng khiếu (portfolio)
Khóa Cử nhânTốt nghiệp Cao đẳng/Đại học
6 IELTS
80 TOEFL iBT
Hồ sơ năng khiếu (portfolio)
Thạc sĩTốt nghiệp Đại học chuyên nghành
7 IELTS
80 TOEFL iBT
Hồ sơ năng khiếu (portfolio)
Với những trường hợp chưa đủ điều kiện tiếng Anh, các bạn không cần phải lo lắng vì các bạn có thể đăng kí làm bài test hoặc đăng ký khóa học tiếng Anh tại nhà trường. Hiện nay, Học viện Nghệ thuật Lasalle có chương trình Tuition Grant với học phí được hỗ trợ bởi Bộ giáo dục Singapore  dành cho các bạn có kết quả học tập tốt cũng như hồ sơ năng khiếu xuất sắc được đăng ký học tại khóa Diploma
Thời gian nhập học của trường thường là vào: tháng 8 hàng năm
Với các khóa tiếng Anh sẽ có thời gian học khác nhau tùy thuộc theo các level. Cụ thể: tháng 7 – 4 level, tháng 9 và tháng 1 – 3 level, tháng 4 – học 1 level .

Học phí

KHÓA HỌCTHỜI GIANHỌC PHÍ (SGD)HP ĐƯỢC HỖ TRỢ – TUITION GRANT (*)
English Languse Programme
(Level 1, 2, 3, 4)
3 tháng/level3.500 / levelKhông
Diploma các chuyên ngành
(Level 1, 2, 3)
3 năm23.800 / năm9.300 / NĂM (chỉ phải nộp )x 3 năm
Foundation Certificate in Visual Arts1 năm23.800 / nămKhông
Bachelor’s Degree
(Level 1, 2, 3)
3 năm23.800 / nămKhông
Master’s Degree1.5 – 2 năm18.000 / nămKhông

# 501-502-503, tầng 5, Tòa nhà công ty Tem, 14 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
Điện thoại: 04 6675 3443 | Di động: 0915 59 19 19

Học bổng và hỗ trợ học phí từ Lasalle, Singapore

Học bổng và hỗ trợ học phí từ Lasalle, Singapore

Học viện Nghệ thuật Lasalle College of the Arts (Singapore) tiếp tục tuyển sinh cho kỳ nhập học tháng 8 với các chương trình hỗ trợ học phí (Tuition Grant) và học bổng hấp dẫn. 

Các bạn học sinh, sinh viên yêu thích các ngành liên quan về nghệ thuật có thể tham dự buổi báo cáo và trao đổi trực tiếp với đại diện của học viện vào lúc 14h chiều thứ bảy ngày 24/1 tại văn phòng Công ty Hợp Điểm (26 Lê Quý Đôn, quận 3, TP HCM) và 9h sáng chủ nhật 25/1 tại tầng 4, tòa nhà Ngân hàng Đông Á, 98 Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
anhsoonline
Ngoài ra, các bạn học sinh, sinh viên chưa đủ điều kiện tiếng Anh theo yêu cầu tuyển sinh có thể đăng ký tham dự kỳ kiểm tra tiếng Anh vào 9h sáng thứ bảy 24/1 tại văn phòng Hợp Điểm (TP HCM) và 14h chiều chủ nhật 25/1 tại văn phòng Hợp Điểm (Hà Nội). Đăng ký tham dự báo cáo tại đây.
Lasalle College of the Arts là tổ chức phi lợi nhuận và là một phần dự án của chính phủ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nghệ thuật tại Singapore. Đây cũng là học viện hàng đầu về giáo dục nghệ thuật đương đại về mỹ thuật, thiết kế, truyền thông và nghệ thuật biểu diễn trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Với gần 30 năm cống hiến cho nền nghệ thuật trong và ngoài nước, cái tên Lasalle được kết giao với sự tiến bộ, chất lượng và tiêu chuẩn kiên quyết trong nền giáo dục nghệ thuật sáng tạo. Danh tiếng của nhà trường được xây dựng từ quá trình nuôi dưỡng tài năng sáng tạo hàng đầu, tạo nên cột trụ của ngành công nghiệp sáng tạo địa phương và khu vực.
Sinh viên của nhà trường sẽ nhận được hỗ trợ tài chính về học phí (Tuition Grant) từ Bộ Giáo Dục Singapore (MOE) trị giá đến 14.000 SGD dành cho những bạn nộp đơn vào chương trình Diploma. Sinh viên nhận được Tuition Grant sẽ phải làm việc cho các Công ty Singapore trong vòng 3 năm trước khi hoàn tất chương trình Bachelor. Bên cạnh đó, nhà trường còn trao nhiều suất học bổng giá trị cho các bạn học sinh sinh viên có hồ sơ năng khiếu và kết quả học tập ưu tú.
anhsoonline
Nhà trường vừa khai trương cơ sở thứ hai tại số 9 Winstedt Road với tổng diện tích là 5.000m2, phục vụ cho hơn 600 sinh viên chuyên ngành nghệ thuật thị giác và thiết kế, thời trang và xưởng dệt may, phòng thí nghiệm và studio nhiếp ảnh, bao gồm 4 tòa nhà đa chức năng, bao quanh bởi cây xanh và một không gian mở tương đương kích thước của 2 sân bóng. Khuôn viên của Winstedt bổ sung vào diện tích 35.000m2 của trường tại đường McNally, đã được đưa vào sử dụng từ năm 2007.
Lasalle được tạp chí SPEAR’s đánh giá là một trong những trường nghệ thuật tốt nhất toàn cầu. Đội ngũ giảng viên là các nhà thực hành nghệ thuật quốc tế, cung cấp môi trường học tập phong phú và chất lượng cho sinh viên nhằm cải tiến tài năng nghệ thuật.
Nghệ thuật tạo hình tại Singapore đang phát triển lành mạnh và đều đặn trong hơn 2 thập niên qua, là kết quả của những nỗ lực hàng đầu để phát triển Singapore như là trung tâm nghệ thuật của khu vực. Có nhiều cá nhân và công ty tư nhân sôi nổi mở đường cho việc phát triển hình ảnh nghệ thuật tại đây. Hiện nay, Singapore là một trung tâm nghệ thuật toàn cầu.
Các công ty sản xuất phim như Lucas Film và Universal Studios, đã có mặt tại Singapore, sẽ là cơ hội cho sinh viên của Lasalle sau tốt nghiệp.
Khuôn viên phát triển hiện đại với cơ sở hạ tầng được đầu tư hàng trăm triệu đô, cơ sở vật chất được trang bị hiện đại cho sinh viên thỏa sức sáng tạo trong một môi trường học tập lý tưởng. Đây là nơi mà bạn có thể biểu lộ chính mình với những cảm xúc nghệ thuật thăng hoa.
Sinh viên Lasalle được làm việc 16 giờ mỗi tuần trong thời gian học tập (dành cho sinh viên chương trình Foundation và năm 1, 2 của chương trình Bachelor).
anhsoonline
Điều kiện nộp đơn vào trường Lasalle:
Chương trình Diploma: thời gian học 3 năm, học phí 23.000 SGD mỗi năm dành cho học sinh tốt nghiệp THPT; IELTS từ 5.5 hoặc TOEFL tương đương; hồ sơ năng khiếu (các tác phẩm nghệ thuật).
Chương trình Bachelor: thời gian học 3 năm, học phí 23.000 SGD mỗi năm dành cho sinh viên hoàn tất ít nhất năm thứ nhất đại học hoặc năm thứ 2 cao đẳng tại Việt Nam có bằng tú tài quốc tế (IB) hoặc A-level; tiếng Anh IELTS từ 6.0 hoặc TOEFL tương đương; hồ sơ năng khiếu (các tác phẩm nghệ thuật).
Riêng sinh viên sau khi học xong chương trình Diploma của trường Lasalle nếu muốn học tiếp chương trình Bachelor thì sẽ vào thẳng năm 2 và học tiếp 2 năm để hoàn tất chương trình đại học.
Chương trình thạc sĩ: thời gian học 2 năm, học phí 18.000 SGD mỗi năm dành cho những sinh viên hoàn tất chương trình đại học; tiếng Anh IELTS từ 7.0 hoặc TOEFL tương đương; hồ sơ năng khiếu (các tác phẩm nghệ thuật) và các loại giấy tờ khác.
Hiện nay, Trung tâm Đào tạo Việt Nam Hợp Điểm tiếp tục tuyển sinh chương trình tiếng Anh ESL, Diploma và Cử nhân khai giảng vào tháng 4 và 8 tới của Học viện Nghệ thuật Lasalle College of the Arts.
Liên hệ đại diện tuyển sinh của Lasalle tại Việt Nam: Công ty Hợp Điểm và Trường ngoại ngữ Sài Gòn Hợp Điểm.
Văn phòng đại diện tại TP HCM: 192 Lý Thái Tổ, quận 3. Tel: 8483833 7747 - 3833 7748.
Trường ngoại ngữ: 26 Lê Quý Đôn quận 3, TP HCM. Tel: 8483930 4812 - 3930 4970. Email: duhoc@vietnamhopdiem.edu.vn.
Văn phòng đại diện tại Hà Nội: tầng 4 toà nhà Ngân hàng Đông Á, 98 Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm. Tel: 84436231665.
Email: duhochanoi@vietnamhopdiem.edu.vn.
Website: www.vietnamcentrepoint.edu.vn; http://duhochopdiem.edu.vn/
.

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Who Invented the Car?


A Frenchmen made the first automobile, but its evolution was a worldwide effort.


The very first self-powered road vehicles were powered by steam engines and by that definition Nicolas Joseph Cugnot of France built the first automobile in 1769 - recognized by the British Royal Automobile Club and the Automobile Club de France as being the first. So why do so many history books say that the automobile was invented by either Gottlieb Daimler or Karl Benz? It is because both Daimler and Benz invented highly successful and practical gasoline-powered vehicles that ushered in the age of modern automobiles.

Daimler and Benz invented cars that looked and worked like the cars we use today. However, it is unfair to say that either man invented "the" automobile.
History of the Internal Combustion Engine - The Heart of the Automobile
An internal combustion engine is any engine that uses the explosive combustion of fuel to push a piston within a cylinder - the piston's movement turns a crankshaft that then turns the car wheels via a chain or a drive shaft. The different types of fuel commonly used for car combustion engines are gasoline (or petrol), diesel, and kerosene.
A brief outline of the history of the internal combustion engine includes the following highlights:
  • 1680 - Dutch physicist, Christian Huygens designed (but never built) an internal combustion engine that was to be fueled with gunpowder.
  • 1807 - Francois Isaac de Rivaz of Switzerland invented an internal combustion engine that used a mixture of hydrogen and oxygen for fuel. Rivaz designed a car for his engine - the first internal combustion powered automobile. However, his was a very unsuccessful design.
  • 1824 - English engineer, Samuel Brown adapted an old Newcomen steam engine to burn gas, and he used it to briefly power a vehicle up Shooter's Hill in London.
  • 1858 - Belgian-born engineer, Jean JosephÉtienne Lenoir invented and patented (1860) a double-acting, electric spark-ignition internal combustion engine fueled by coal gas. In 1863, Lenoir attached an improved engine (using petroleum and a primitive carburetor) to a three-wheeled wagon that managed to complete an historic fifty-mile road trip. (See image at top)
  • 1862 - Alphonse Beau de Rochas, a French civil engineer, patented but did not build a four-stroke engine (French patent #52,593, January 16, 1862).
  • 1864 - Austrian engineer, Siegfried Marcus*, built a one-cylinder engine with a crude carburetor, and attached his engine to a cart for a rocky 500-foot drive. Several years later, Marcus designed a vehicle that briefly ran at 10 mph that a few historians have considered as the forerunner of the modern automobile by being the world's first gasoline-powered vehicle (however, read conflicting notes below).
  • 1873 - George Brayton, an American engineer, developed an unsuccessful two-stroke kerosene engine (it used two external pumping cylinders). However, it was considered the first safe and practical oil engine.
  • 1866 - German engineers, Eugen Langen and Nikolaus August Otto improved on Lenoir's and de Rochas' designs and invented a more efficient gas engine.
  • 1876 - Nikolaus August Otto invented and later patented a successful four-stroke engine, known as the "Otto cycle".
  • 1876 - The first successful two-stroke engine was invented by Sir Dougald Clerk.
  • 1883 - French engineer, Edouard Delamare-Debouteville, built a single-cylinder four-stroke engine that ran on stove gas. It is not certain if he did indeed build a car, however, Delamare-Debouteville's designs were very advanced for the time - ahead of both Daimler and Benz in some ways at least on paper.
  • 1885 - Gottlieb Daimler invented what is often recognized as the prototype of the modern gas engine - with a vertical cylinder, and with gasoline injected through a carburetor (patented in 1887). Daimler first built a two-wheeled vehicle the "Reitwagen" (Riding Carriage) with this engine and a year later built the world's first four-wheeled motor vehicle.
  • 1886 - On January 29, Karl Benz received the first patent (DRP No. 37435) for a gas-fueled car.
  • 1889 - Daimler built an improved four-stroke engine with mushroom-shaped valves and two V-slant cylinders.
  • 1890 - Wilhelm Maybach built the first four-cylinder, four-stroke engine.
  • Further Reading - The Mechanics of Internal Combustion Engines - What is a 2-stroke? 4-stroke?
Engine design and car design were integral activities, almost all of the engine designers mentioned above also designed cars, and a few went on to become major manufacturers of automobiles.
 All of these inventors and more made notable improvements in the evolution of the internal combustion vehicles.
The Importance of Nicolaus Otto
One of the most important landmarks in engine design comes from Nicolaus August Otto who in 1876 invented an effective gas motor engine. Otto built the first practical four-stroke internal combustion engine called the "Otto Cycle Engine," and as soon as he had completed his engine, he built it into a motorcycle. Otto's contributions were very historically significant, it was his four-stoke engine that was universally adopted for all liquid-fueled automobiles going forward. (Learn more about Nicolaus Otto)
The Importance of Karl Benz
In 1885, German mechanical engineer, Karl Benz designed and built the world's first practical automobile to be powered by an internal-combustion engine. On January 29, 1886, Benz received the first patent (DRP No. 37435) for a gas-fueled car. It was a three-wheeler; Benz built his first four-wheeled car in 1891. Benz & Cie., the company started by the inventor, became the world's largest manufacturer of automobiles by 1900. Benz was the first inventor to integrate an internal combustion engine with a chassis - designing both together. (Learn more about Karl Benz)
The Importance of Gottlieb Daimler
In 1885, Gottlieb Daimler (together with his design partner Wilhelm Maybach) took Otto's internal combustion engine a step further and patented what is generally recognized as the prototype of the modern gas engine. Daimler's connection to Otto was a direct one; Daimler worked as technical director of Deutz Gasmotorenfabrik, which Nikolaus Otto co-owned in 1872. There is some controversy as to who built the first motorcycle Otto or Daimler.
The 1885 Daimler-Maybach engine was small, lightweight, fast, used a gasoline-injected carburetor, and had a vertical cylinder. The size, speed, and efficiency of the engine allowed for a revolution in car design. On March 8, 1886, Daimler took a stagecoach and adapted it to hold his engine, thereby designing the world's first four-wheeled automobile. Daimler is considered the first inventor to have invented a practical internal-combustion engine.
In 1889, Daimler invented a V-slanted two cylinder, four-stroke engine with mushroom-shaped valves. Just like Otto's 1876 engine, Daimler's new engine set the basis for all car engines going forward. Also in 1889, Daimler and Maybach built their first automobile from the ground up, they did not adapt another purpose vehicle as they had always been done previously. The new Daimler automobile had a four-speed transmission and obtained speeds of 10 mph.
Daimler founded the Daimler Motoren-Gesellschaft in 1890 to manufacture his designs. Eleven years later, Wilhelm Maybach designed the Mercedes automobile. (Learn more about Gottlieb Daimler & Wilhelm Maybach)
*If Siegfried Marcus built his second car in 1875 and it was as claimed, it would have been the first vehicle powered by a four-cycle engine and the first to use gasoline as a fuel, the first having a carburetor for a gasoline engine and the first having a magneto ignition. However, the only existing evidence indicates that the vehicle was built circa 1888/89 - too late to be first.
By the early 1900s, gasoline cars started to outsell all other types of motor vehicles. The market was growing for economical automobiles and the need for industrial production was pressing.
The first car manufacturers in the world were French: Panhard & Levassor (1889) and Peugeot (1891). By car manufacturer we mean builders of entire motor vehicles for sale and not just engine inventors who experimented with car design to test their engines - Daimler and Benz began as the latter before becoming full car manufacturers and made their early money by licensing their patents and selling their engines to car manufacturers.
Rene Panhard and Emile Levassor
Rene Panhard and Emile Levassor were partners in a woodworking machinery business, when they decided to become car manufacturers. They built their first car in 1890 using a Daimler engine. Edouard Sarazin, who held the license rights to the Daimler patent for France, commissioned the team. (Licensing a patent means that you pay a fee and then you have the right to build and use someone's invention for profit - in this case Sarazin had the right to build and sell Daimler engines in France.) The partners not only manufactured cars, they made improvements to the automotive body design.
Panhard-Levassor made vehicles with a pedal-operated clutch, a chain transmission leading to a change-speed gearbox, and a front radiator. Levassor was the first designer to move the engine to the front of the car and use a rear-wheel drive layout. This design was known as the Systeme Panhard and quickly became the standard for all cars because it gave a better balance and improved steering. Panhard and Levassor are also credited with the invention of the modern transmission - installed in their 1895 Panhard.
Panhard and Levassor also shared the licensing rights to Daimler motors with Armand Peugot. A Peugot car went on to win the first car race held in France, which gained Peugot publicity and boosted car sales. Ironically, the "Paris to Marseille" race of 1897 resulted in a fatal auto accident, killing Emile Levassor. (Learn more about Panhard and Levassor)
Early on, French manufacturers did not standardize car models - each car was different from the other. The first standardized car was the 1894, Benz Velo. One hundred and thirty four identical Velos were manufactured in 1895.
Charles and Frank Duryea
America's first gasoline-powered commercial car manufacturers were Charles and Frank Duryea. The brothers were bicycle makers who became interested in gasoline engines and automobiles and built their first motor vehicle in 1893, in Springfield, Massachusetts. By 1896, the Duryea Motor Wagon Company had sold thirteen models of the Duryea, an expensive limousine, which remained in production into the 1920s. (Learn more aboutCharles and Frank Duryea)
Ransome Eli Olds
The first automobile to be mass produced in the United States was the 1901, Curved Dash Oldsmobile, built by the American car manufacturer Ransome Eli Olds (1864-1950). Olds invented the basic concept of the assembly line and started the Detroit area automobile industry. He first began making steam and gasoline engines with his father, Pliny Fisk Olds, in Lansing, Michigan in 1885. Olds designed his first steam-powered car in 1887. In 1899, with a growing experience of gasoline engines, Olds moved to Detroit to start the Olds Motor Works, and produce low-priced cars. He produced 425 "Curved Dash Olds" in 1901, and was America's leading auto manufacturer from 1901 to 1904.
Henry Ford
American car manufacturer, Henry Ford (1863-1947) invented an improved assembly line and installed the first conveyor belt-based assembly line in his car factory in Ford's Highland Park, Michigan plant, around 1913-14. The assembly line reduced production costs for cars by reducing assembly time. Ford's famous Model T was assembled in ninety-three minutes. Ford made his first car, called the "Quadricycle," in June, 1896. However, success came after he formed the Ford Motor Company in 1903. This was the third car manufacturing company formed to produce the cars he designed. He introduced the Model T in 1908 and it was a success. After installing the moving assembly lines in his factory in 1913, Ford became the world's biggest car manufacturer. By 1927, 15 million Model Ts had been manufactured.
Another victory won by Henry Ford was patent battle with George B. Selden. Selden, who had never built an automobile, held a patent on a "road engine", on that basis Selden was paid royalties by all American car manufacturers. Ford overturned Selden's patent and opened the American car market for the building of inexpensive cars. (Learn more aboutHenry Ford)












1946 Willys Jeep CJ2A


Jeeps








  1. Willys MA (Original Jeep Concept)
  2. Willys MB (1941–1945) 335,531 produced.
  3. Willys CJ2 (1944–45)
  4. Willys CJ2A (1946–49)
  5. Willys Wagon (1946–65) 300,000 produced.
  6. Willys CJ3A (1949–1953) 132,000 are produced.
  7. Willys Pickup (1947–65) 200,000 are produced.
  8. Willys Jeep FC
  9. Willys Jeepster (1948–50) 19,000 are produced.
  10. Willys M38 (1951–52) 61,423 produced.
  11. Willys CJ3B (1952–68) 155,000 are produced.
  12. Willys M38A1 (1952–57)
  13. Willys CJ5 later Jeep CJ5 (1954–1983) 600,000 are produced.
  14. Rural Jeep (1960–1969) or Ford Rural (1970–77) (Brazil)
  15. Willys Jeep Pickup (1960–1969) or Ford F-75 (1970–83) (Brazil)
  16. Willys Corvo (19??–?) (Chile)

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017

Xuân Từ Bi Hỷ Xả


Theo dòng thời gian, xuân lại về trên ngàn cây muôn hoa thắm tươi, trên khí hậu ấm áp hài hòa, trên vạn vật căng đầy nhựa sống. Hòa cùng sức sống của vạn pháp, Tăng Ni và Phật tử hãy cùng đón xuân, hưởng một mùa Xuân Di Lặc đạo hạnh, với nụ cười từ ái, bao dung, hoan hỷ của Bồ-tát Di Lặc.
Xuân Từ Bi Hỷ Xả
Ngài Di Lặc ra đời vào đúng dịp xuân về. Phải chăng Ngài muốn nhắc nhở chúng ta không nên vướng bận với mùa xuân sanh diệt ngắn ngủi, chóng tàn. Bồ-tát Di Lặc đã mở ra một chân trời xuân thường hằng vĩnh cửu cho những hành giả muốn tiến bước trên con đường giải thoát.
phatdilac.jpg
Nụ cười hoan hỷ của Đức Phật Di Lặc 
Xuân đến, xuân đi, theo định luật tuần hoàn của vũ trụ. Xuân có một, nhưng tùy theo tâm tư, hoàn cảnh, hay nói chung tùy nghiệp thức của mỗi người mà cảm nhận về xuân khác nhau.
Theo thường tình của thế nhân, có kẻ vui mừng, hớn hở khi Tết đến xuân sang, có người lo sợ, tiếc nuối xuân tàn, hoặc thất vọng, âu sầu, khi nghĩ đến xuân:
Xuân đang tới nghĩa là xuân chưa qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết là đời ta cũng hết.
(Xuân Diệu)
Trái lại, dưới mắt thiền sư đắc đạo, xuân đến rồi đi, hoa nở rồi tàn. Tất cả mọi sự đổi thay, chuyển hóa của vạn vật không hề gợn sóng trong lòng các ngài. Trụ nơi tâm an nhiên, tự tại, các ngài thấy bốn mùa đều là xuân. Một mùa xuân nở trong tâm hồn, sống mãi trong lòng, không phải là mùa xuân tàn phai theo tháng năm bên ngoài:
Thị phi tiếng rụng theo hoa sớm
Danh lợi lòng băng với bão đêm
Mưa tạnh hoa rơi non vắng vẻ
Chim kêu xuân lại quá bên thềm.
Bốn câu thơ trên biểu hiện rõ nét niềm vui duy nhất của người tu hành, hay mùa xuân nở trọn vẹn cho hành giả, không gì khác hơn là ngộ đạo, đạt được lý tưởng sau một quá trình miệt mài tu hành dài lâu.
Cuộc đời dưới mắt người tu không có gì vui. Hoàn cảnh bên ngoài nhiều khi thật là hẩm hiu, nhưng một niềm vui sâu xa vô tận vẫn luôn trải rộng trong lòng hành giả. Vui vì hàng phục được ma oán, dẹp tan những chướng nghiệp, thị phi, danh lợi, tham lam, ghét ganh… nổi lên trong tâm hành giả.
Mới bước vào cuộc sống của người tu, hành giả luôn phải đối diện với hai mặt thuận nghịch. Bao nhiêu việc thị phi, phải trái, tốt xấu, khen ngợi, phỉ báng tràn ngập, nhồi nắn cuộc sống hành giả như trận bão lòng. Nhưng hành giả đã dứt khoát để ngoài tai những thị phi thế gian đầy phiền nhiễu này, xem chúng như những cánh hoa tàn úa rơi xuống đất, trả về cho cát bụi, không đáng quan tâm. Chẳng những thị phi không làm dao động tâm hồn hành giả, cho đến mọi cám dỗ, được thua, quyền lợi, danh thơm, tiếng xấu… chẳng có chút tác dụng gì đối với lòng hành giả đã đóng băng như tuyết lạnh trong đêm đen. Dưới mắt hành giả, thị phi, danh lợi chỉ là những thứ giả huyễn, rồi cũng tan biến ra mây khói, khi thân này chui xuống nấm mồ. Quán tưởng như vậy và lặn sâu vào lý Pháp giới để sống, tâm hồn hành giả thăng hoa theo từng bước tu chứng.
Trong thế giới khổ của chúng sanh, hành giả không khổ, vì đang sống với tạng tâm của mình. Sóng gió thị phi, danh lợi không còn khuấy động, hành giả tìm được niềm vui trong sự an tịnh. Một nguồn vui an tịnh không tìm cầu bằng cách sống ẩn dật, lánh xa trần thế, mà đó là niềm vui của tâm hồn bình ổn, thanh thản, lạc quan, kết quả của một quá trình từng bước diệt trừ vô minh, loại bỏ phiền não do tham lam, chấp trước gây ra.
Trong chân lý Khổ tập, Đức Phật chỉ rõ rằng chính lòng tham là nguyên nhân trực tiếp phát sinh mọi tội lỗi, khổ đau. Tâm ham muốn của con người, nếu có hình tướng, thì không còn chỗ nào dung chứa. Chúng sanh vì quá tham lam, muốn ôm tất cả những gì ngoài tầm tay, nên trở thành ngu si, mờ ám. Họ không còn thấy thực tế, hành động mê muội, làm thiệt hại quyền lợi của người và trái ngược với định luật khách quan hiện hữu. Vì vậy, họ phải chuốc lấy đau khổ, khổ trong từng sát-na tâm, không phải chết mới khổ.
Ghi nhớ lời Phật dạy, trên bước đường tu, hành giả quán sát tham dục là cội nguồn của bất hạnh, khổ đau, nhận chìm hành giả trong chốn sanh tử luân hồi. Từ đó, hành giả sẵn sàng đoạn dứt lòng tham, thường niệm tri túc, sống với những gì trong tầm tay. Hành giả đứng đúng vị trí của mình, không sanh vọng tâm tham đắm, mong cầu gì khác. Chỉ làm việc theo yêu cầu của người, của xã hội, thân tâm hành giả được hoàn toàn tự tại, an vui.
Khi lòng tham đã được cắt bỏ, hoa thị phi rơi rụng, mưa danh lợi dứt tạnh, thì bốn núi sanh, lão, bệnh, tử hoàn toàn vắng vẻ đối với hành giả. Thoát khỏi sự chi phối của thân ngũ ấm, hành giả nở nụ cười nhẹ trước sự hợp tan của cái thân phù du, bèo bọt. Từ đó, hành giả chợt bừng tỉnh, nghe được tiếng chim oanh hót báo hiệu mùa đông giá lạnh đã qua, nhường chỗ cho mùa xuân đến. Nói cách khác, tác động của ngũ ấm, hay thị phi, danh lợi, tham muốn đã tan biến hoàn toàn, thì chơn tâm hiển hiện bừng sáng. Hành giả trực nhận được pháp âm vi diệu của Đức Phật Thích Ca, bắt gặp được Pháp thân hằng hữu không sanh không diệt trong chính mình, chấm dứt chuỗi ngày u buồn đen tối. Đạt đến trạng thái ngộ đạo này, mùa xuân bao la, kỳ diệu đã nở trong lòng hành giả. Đó là mùa xuân vĩnh viễn, hay Niết-bàn mà hàng Nhị thừa tu chứng được. Nhờ trải qua một quá trình tu dưỡng thân tâm, gạn lọc, cắt bỏ tánh tham lam, ghét ganh, thị phi, danh lợi của chúng sanh, hành giả đạt đến bốn tướng Niết-bàn là chơn thường, chơn lạc, chơn ngã và chơn tịnh.
DSC 0082
An trụ trong tướng Niết-bàn thứ nhất, hành giả tìm được chơn lạc là nguồn vui thường hằng, không cần đối tượng. Vui trong lòng với chính mình, nên mùa xuân được tô điểm bằng những đóa hoa lòng không bao giờ tàn phai, vì chúng không lệ thuộc vào sự mất còn của đối tượng, vào ngoại cảnh, hay vào người khác. Niềm vui vô tận lưu chuyển trong nội tâm của người tu chứng. Kẻ ngoại cuộc hoàn toàn không thể bước chân vào thế giới chơn lạc của hành giả. Kinh thường ví như chỉ có người uống nước mới biết được mùi vị của nước như thế nào. Hơn thế nữa, chỉ riêng con người thật của hành giả là chơn ngã mới sống được với niềm vui và tận hưởng chơn hạnh phúc ấy. Còn con người sanh diệt của hành giả cũng hoàn toàn tuyệt phần.
Chơn lạc và chơn ngã tự phản ứng ngay trong lòng hành giả. Cả hai tác động hỗ tương mật thiết đến độ tuy hai mà một, vượt ra ngoài trạng thái sanh diệt. Chúng hằng hữu dưới dạng Vô sanh, nên được gọi là chơn thường, hay tướng Niết-bàn thứ ba. Nói theo kinh điển, từ Như Lai tạng tâm ở dạng Vô sanh, các pháp Vô sanh. Tâm và pháp Vô sanh duyên với nhau, tạo thành Niết-bàn không sanh tử của A-la-hán.
Đạt được ba tướng Niết-bàn là chơn thường, chơn lạc và chơn ngã không nằm trong sanh diệt, thì đương nhiên hiện hữu tướng Niết-bàn thứ tư có tính cách chơn tịnh, hoàn toàn trong sạch. Đó là quá trình của hàng Nhị thừa tu từ nhân hướng về quả. Họ dùng pháp Phật rửa sạch vọng tưởng điên đảo, thân tâm được an lạc. Họ thành tựu bốn tướng Niết-bàn, đắc quả La-hán.
Với tâm hồn trong sáng, thoát ly sanh tử của cảnh giới Niết-bàn, hành giả nhìn lại cuộc đời thấy đúng như lời Phật dạy rằng nước mắt chúng sanh nhiều hơn đại dương. Hành giả khởi tâm từ bi, bắt đầu dấn thân hành Bồ-tát đạo, chan hòa tình thương cho mọi người, mong muốn mọi người cũng được giải thoát, an lạc như mình.
Ngày nay, bước theo dấu chân Phật, tình thương phát khởi trong tâm hồn chúng ta, thể hiện thành những việc làm hữu ích cho xã hội. Tình thương, sự giúp đỡ nhau một cách chánh đáng, chân thành, bất vụ lợi về vật chất, cũng như dìu dắt người thăng hoa tri thức. Những việc làm này đều nói lên đạo hạnh từ bi trong sáng của hàng đệ tử Phật.
Khởi đầu bằng tâm từ bi có giới hạn, tiến lên thực hiện tâm từ bi vô cùng, nhưng cả hai đều phát xuất từ chơn tâm hay chơn tình của hành giả đối với người. Thực sự lòng từ bi khởi từ chơn tâm, dù có giúp hay không, người vẫn quý mến hành giả. Trái lại, thực hiện lòng từ bi theo tâm lượng của chúng sanh, nghĩa là tu trên Căn, Trần, Thức, thì không phải là pháp của Bồ-tát. Vì thế, giúp người mà buộc họ phải lệ thuộc mình; hễ làm trái ý là ta ghét bỏ họ ngay.
Chúng ta dễ dàng nhận ra được tâm từ bi sai pháp khi người muốn giúp đỡ, bố thí, mà không ai dám nhận lòng tốt của họ, hoặc đôi khi người nhận của bố thí cảm thấy như nuốt viên sắt nóng. Quan sát phản ứng của người, để chúng ta biết mình đang tu hạnh từ bi trên Căn, Trần, Thức, hay trên chơn tánh.
Ở giai đoạn thứ nhất tu hành, nghiệp và phiền não của chúng sanh rất đáng sợ đối với hành giả. Nhưng đến giai đoạn hai, đứng trên lập trường giải thoát, trở lại cuộc đời, đối tượng của Bồ-tát là chúng sanh đau khổ. Kinh Duy Ma dạy rằng chúng sanh không có nghiệp ví như đất không có mầu mỡ, không gieo trồng gì được. Cỏ không mọc được, thì cây bồ-đề lại càng khó lên.
Nhờ tiếp cận chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não, hành giả nhận ra được những tệ xấu của chúng sanh và của chính bản thân. Trên bước đường tự hành hóa tha, phục vụ chúng sanh, đồng thời cũng diệt trừ được nghiệp ác của mình, hay tự lợi tức lợi tha. Với pháp tu này, chúng sanh chính là ân nhân trợ giúp Bồ-tát sớm thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác. Trái lại, chúng sanh gặp chúng sanh, thì nghiệp và phiền não càng đổ ra bao nhiêu, chúng ta càng chìm sâu trong phiền não bấy nhiêu. Vì vậy, ở lập trường ngũ uẩn, chúng ta sẽ bị khổ nhiều khi tiếp cận nhiều với chúng sanh.
DSC 0085
Phát khởi niệm tâm từ bi dẫn Bồ-tát hội nhập vào cuộc đời để cứu vớt chúng sanh. Cứu một người, hai người, cho đến cứu được nhiều người, cuối cùng, nương theo tâm từ bi vô lượng của Đức Phật, Bồ-tát cứu độ muôn loài. Dù gặp chúng sanh thuận theo hay ác nghịch, tâm Bồ-tát vẫn bao dung, không bỏ sót loài nào. Thật vậy, tất cả loài hữu tình đến với Đức Phật đều thương Ngài như đấng Cha lành. Việc làm thánh thiện của Đức Phật thể hiện rõ nét tâm từ bi hỷ xả. Những người tu sai pháp thì chỉ từ bi hỷ xả trên đầu môi chót lưỡi. Cuộc sống của họ chẳng những không tiêu biểu một chút gì hỷ xả từ bi, mà còn trái ngược, có khác gì phỉ báng pháp Phật.
Vị Bồ-tát tiêu biểu cho hạnh nguyện từ bi viên mãn, kế thừa sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca ở cõi Ta-bà là Di Lặc Bồ-tát. Ngài là vị Bồ-tát duy nhất được Đức Thích Ca thọ ký thành Phật kế tiếp cũng có tên là Di Lặc. Di Lặc dịch từ Phạn âm Maitreya, dịch nghĩa là Từ Thị.
Ngài có danh hiệu này vì theo kinh Hoa nghiêm, khi phát tâm tu hành đạo Bồ-tát, Ngài đã khởi tu tâm từ trước nhất. Và Ngài nguyện đời đời kiếp kiếp ở bất cứ nơi nào cũng mang tên Từ Thị, cho đến thành Phật cũng vẫn giữ danh hiệu này. Nghĩa là trong thâm tâm của Bồ-tát Di Lặc luôn luôn theo đuổi mục tiêu mang vui cho đời. Trải qua quá trình tu đạo Bồ-tát dài lâu, tâm nguyện của Ngài trở thành sự thật. Ngài chứng được Từ tâm Tam muội.
Kinh Đại thừa diễn tả Bồ-tát Di Lặc ở nhiều dạng khác nhau. Theo kinh Hoa nghiêm, ngài Di Lặc đứng ở vị trí thứ 51 trong 53 nấc thang, từ khi phát tâm tu Bồ-tát đạo đến thành Phật. Đây là giai đoạn cuối đối với hành giả nào muốn tu Bồ-tát hạnh, thành quả Vô thượng Bồ-đề, thì phải diện kiến ngài Di Lặc. Như Thiện Tài đồng tử đã trải qua 50 chặng đường cầu đạo, gặp 110 thiện tri thức, mãn Thập địa Bồ-tát, mới gặp Di Lặc. Gặp Di Lặc cũng có nghĩa là tu tâm từ, đồng hạnh đồng nguyện với Ngài, cho đến thành tựu Từ tâm Tam muội bằng như Thiện Tài đồng tử, mới được Di Lặc Bồ-tát mở cửa Tỳ Lô Giá Na lâu các để thâm nhập Pháp giới.
Chúng ta theo gót ngài Di Lặc, tu tâm từ, quyết chí mang an vui cho người. Tuy nhiên, phước đức của chúng ta còn kém, khả năng còn yếu, chúng ta tự nhủ lòng rằng bất cứ lúc nào đủ điều kiện, sẽ đáp ứng yêu cầu của người. Quán tưởng tâm từ thuần thục, đến mức độ trở thành tánh thì có lực tác dụng vào chúng sanh vô hạn, gọi là Từ tâm Tam muội.
Từ tâm Tam muội của Di Lặc được trắc nghiệm trong Pháp giới. Ngài không trực tiếp đến an ủi chúng ta. Ngài nhập định, sử dụng Từ tâm Tam muội, thì giữa ngài và chúng sanh có sự tương giao. Chúng sanh nào có nhân duyên căn lành với Bồ-tát Di Lặc, sẽ cảm thấy vui khi khởi niệm nghĩ đến ngài. Nguồn vui của Di Lặc mang đến không phải là cái vui do tác ý. Vì khi có tác ý, chúng ta đã hành động trên “Thức”, nên luôn luôn bị phản ứng phụ; nghĩa là chúng ta làm cho A vui thì sẽ làm mất lòng B.
Sống với bốn tâm vô lượng này, để chuyển đổi đời mình 
thành mùa xuân đầy hoa đạo, tỏa ngát hương thơm Từ Bi Hỷ Xả
Sống trong giải thoát, thấy chúng sanh khổ, hành giả khởi tâm đại bi, giúp người cùng an vui. Tuy nhiên, gặp cảnh khổ mà vội vàng giải quyết ngay, thì chỉ là cách ứng xử của Bồ-tát nhập ám. Bồ-tát có trí tuệ phải thấy một sự kiện xảy ra có liên hệ đến nhiều vấn đề khác, nên không thể giải quyết đơn giản, một mặt được. Thí dụ nhìn thấy sự hốt hoảng của con nai khi bị con hổ vồ, ai mà không khởi tâm thương xót con nai. Nhưng nếu cứu con nai thì sự sống của con hổ sẽ được giải quyết cách nào đây.
Vì thế, mỗi khi làm việc gì, Bồ-tát phải quán sát sự tương quan tương duyên chằng chịt, phức tạp giữa các loài trên thế gian. Gỡ rối mọi việc thế nào cho công bằng, hợp tình hợp lý là việc không đơn giản. Trên bước đường tu, cởi trói cho riêng mình tương đối dễ. Cởi bỏ vướng mắc giùm người khác thì khó quá, vì chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não là cả một vấn đề.
Nhận chân rõ như vậy, bên cạnh hạnh từ bi, hành giả phải thực hành tâm hoan hỷ, luôn chấp nhận tất cả khó khăn đổ lên thân tâm mình. Ý này được ngài Phổ Hiền dạy rằng Bồ-tát phát nguyện chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường chư Phật. Dấn thân hành Bồ-tát đạo nghĩa là chấp nhận khổ, nhưng chấp nhận với lòng đại bi. Vì thế, dù gặp hoàn cảnh xấu ác, hay dễ dàng, Bồ-tát luôn nở nụ cười hoan hỷ như ngài Di Lặc. Riêng tôi, hành đạo gặp nhiều khó khăn, gai góc, tôi vẫn cảm nhận được sự huy hoàng trong đời sống tâm linh, vì đã vượt qua được một chướng ngại để sống gần Phật hơn.
Cần cảnh giác rằng trên đường hiểm sanh tử, chúng ta luôn phải đối đầu với nhiều tệ ác mỗi ngày một lớn hơn. Trải qua vô số gian nan, vất vả, mới đến Bảo sở. Nếu thiếu hỷ tâm sẽ không thể nào bước vào cõi đời này để tu Bồ-tát hạnh được.
 Và sau cùng, muốn đạt đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác, hành giả phải trang bị tâm xả. Hành giả đến với chúng sanh, trải rộng thế giới thương yêu hiểu biết cho họ, không chút lòng mong cầu báo đáp, không muốn người bị lệ thuộc. Hành giả chỉ theo đuổi mục tiêu duy nhất là giúp cho mình và người cùng được giải thoát. Chúng sanh vô tình hay cố ý gây khó khăn, phá hại, hành giả vẫn khoan dung, tha thứ cho họ.
Chẳng những xả bỏ việc xấu ác, ngay cả việc làm tốt của người, hay của chính mình, hành giả cũng không để vướng bận trong lòng, dù là nhỏ như một hạt bụi.
Tâm gương của hành giả hoàn toàn vắng lặng, trong ngần, dứt sạch mối manh đối đãi, sanh diệt, thể nhập vào Tỳ Lô Giá Na tánh. Hành giả tự trang nghiêm bốn tâm vô lượng Từ Bi Hỷ Xả đầy đủ, mới có thể tiếp tục thực hiện các Bồ-tát hạnh khác.
Trước thềm năm mới, mừng đón xuân về, mừng ngày Đản sanh Đức Phật Di Lặc, chúng ta cùng ôn lại hạnh nguyện Từ Bi Hỷ Xả của Đức Di Lặc. Và chúng ta cũng ghi nhớ, sống với bốn tâm vô lượng này, để chuyển đổi đời mình thành mùa xuân đầy hoa đạo, tỏa ngát hương thơm Từ Bi Hỷ Xả. Chúng ta cùng nhau dâng lên cúng dường Đức Từ Thị những đóa hoa đạo hạnh Từ Bi Hỷ Xả, kết thành mùa xuân bất diệt trên bước đường thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, làm sáng đẹp cho đời trong hiện tại và mãi mãi muôn kiếp về sau.

HT Thích Trí Quảng