Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Người Công giáo di cư


Khúc quanh lịch sử

Ngày 8/5/1954, Điện Biên Phủ thất thủ, Pháp quân đại bại. Ngày 26/5/1954, tại hội nghị Genève Việt – Pháp thoả thuận ngưng bắn, thu quân về những khu vực chỉ định. Ở Sài Gòn, ngày 7/7/1954, quốc trưởng Bảo Đại trao cho ông Ngô Đình Diệm lập Chính Phủ. Ngày 20 liền sau Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Việt Minh) và Cộng hoà Pháp quốc tạm thời chia đôi nước Việt Nam, lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm ranh giới. Miền Bắc thuộc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, miền Nam ông Ngô Đình Diệm lập Chính Phủ quốc gia. Dành 300 ngày cho dân chúng được di chuyển từ khu này sang khu vực bên kia. Ngày 20/7/1956 sẽ mở cuộc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền.

Từ đây khởi sự một cuộc di cư lịch sử: gần một triệu người từ miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, cũng như một số từ miền Nam tập kết ra Bắc. Từ ngày 4/8/1954, một cầu hàng không (1.174km) cả trăm phi cơ Pháp, Hoa Kỳ, công ty tư nhân, bắt tay hoạt động. Trong lòng các máy bay di cư, người ta tháo gỡ hết ghế ngồi để bớt nặng và thêm rộng chỗ. Giữa Hà Nội hoặc Hải Phòng và Sài Gòn là một vòng bay vào bay ra, tích cực hoạt động để vận chuyển vào Nam trung bình mỗi ngày 2.000 người, có ngày trên 4.000. Cứ  sáu phút một phi cơ hạ cánh, biến sân bay Tân Sơn Nhất thành một phi trường hoạt động nhất thế giới lúc bấy giờ. Người ta tính có đến 4.280 chuyến bay chuyên chở 213.635 người. Đường biển còn hoạt động mạnh hơn: tàu “Há Mồm”, tàu chiến của Pháp, Hoa Kỳ, Việt Nam, Anh, Trung Quốc, Ba Lan chuyên chở 553.037 người. Ngoài ra còn 102.861 người đi bằng phương tiện riêng.

Từ khi cuộc di cư bắt đầu, thủ tướng Ngô Đình Diệm đã ra Hà Nội thị sát. Ngày 6/8/1954, ông đặt bộ trưởng Lê Quang Luật làm đại biểu chính phủ “phụ trách công việc ở Bắc Việt, đặc biệt về tản cư dân tị nạn”. Ba ngày sau, ông thiết lập “Tổng Uỷ Di Cư”, có nhiệm vụ điều khiển công việc đón tiếp và gây cơ sở mới cho đồng bào di cư.

Về phía người Công giáo, Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi được Đức Khâm Sứ Toà Thánh Dooky ký thác việc coi sóc giáo dân và giáo sĩ di cư, có Cha Hoàng Mạnh Hiền dòng Đaminh và linh mục Nguyễn Khắc Ngữ (Lạng Sơn) làm phụ tá.

Với các tổ chức trên, lại được các nước khác giúp đỡ, tiếp viện thực phẩm, thuốc men, tiền bạc, vật liệu xây cất, nên không đầy một năm gần một triệu đồng bào đã có chỗ tạm cư, tại nhiều địa điểm trong các tỉnh Trung Việt, Cao Nguyên Trung Việt, nhất là ở Nam Việt (Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Gia Định, Tây Ninh, Chợ Lớn,v.v…). Đời sống tạm cư dần dần trở thành định cư lập nghiệp, làm lại cuộc đời 1.

Năm 1954, Giáo Phận Thái Bình có 80.000 giáo dân cùng với trên 60 linh mục theo làn sóng di cư: Đức Cha Ubierna Ninh quyết tâm ở lại giáo phận, nhưng người được lệnh của quân đội Pháp phải ra đi trong 24 tiếng đồng hồ. Đức Cha cưỡng lại không được, nhưng cũng đòi viên sĩ quan chỉ huy phải cho người một văn kiện, chứng minh người phải ra đi vì cưỡng bức bằng võ lực. Viên sĩ quan đã chiều theo và làm như  ý Đức Cha yêu cầu². Sau khi đã đặt Cha Đaminh Đinh Đức Trụ, nguyên là linh hướng chủng viện Mỹ Đức vào chức bề trên tổng quản giáo phận. Ngày 30/6/1954, Đức Cha cùng với cha Rodriguez Khoan rời khỏi Thái Bình, lưu lạc vào Sài Gòn3.

Giã từ quê hương yêu dấu 

 

“Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất ta sẽ chỉ cho” (St.12,1)

Giáo xứ Lai Ổn xưa kia được thành lập năm 1659, còn được gọi là Kẻ On hay xứ Phủ Thái, thuộc địa phận Đàng Ngoài. Giáo xứ bao gồm nhiều nhóm họ đã lãnh nhận Đức Tin Công Giáo cư ngụ trong các làng mạc chiếm cả phía Bắc tỉnh Thái Bình ngày nay. Năm 1679, giáo xứ thuộc địa phận Đông, năm 1848 thuộc địa phận Trung và năm 1924 thuộc địa phận Bùi Chu. Năm 1936, giao xứ thuộc địa phận Thái Bình. Năm 1954, giáo xứ chỉ còn tám họ gồm: Lai Ổn, Đồng Bằng, Vọng Lỗ, Đại Điền, Trung Chu, Đồng Au, Thuỷ Cơ, và Cao Nội. Người giáo dân chủ yếu sống bằng nghề nông, hiền lành, chất phác. Nhiều người cả đời chưa hề bước chân ra khỏi khu vực sinh sống. Cảnh bom rơi, đạn lạc ngày càng tăng cường độ làm nhiều người phải mất mạng, nhiều gia đình phải tản cư đến nơi khác an toàn hơn, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống gia đình.

Sự kiện tháng 7 năm 1954, người nông dân chẳng biết sự gì đã xảy đến. Chẳng ai bảo ai, những người còn ở lại các giáo họ xa xôi đã ùn ùn kéo về nhà xứ như những dòng nước từ con suối nhỏ đổ ra suối cái. Tất cả họ dừng chân tại nhà xứ để nghỉ ngơi, kiểm tra dân số và nhận thông báo về cuộc di cư  1.
(Người Công giáo di cư năm năm 1954, Nguồn: Internet)

Sáng ngày 27/7/1954, cha chánh xứ Đaminh Đỗ Đức Thụ cùng toàn thể dân xứ hiệp dâng thánh lễ cuối cùng tại nhà thờ nhà xứ Lai Ổn để xin ơn bình an cho cuộc lữ hành. Sau thánh lễ, cha xứ bùi ngùi lên tiếng từ giã thầy xứ và những người giáo dân ở lại, từ giã ngôi thánh đường thân yêu, giã từ quê hương yêu dấu là nơi các bậc tổ tiên đang an nghỉ, làm nhiều người mủi lòng và khóc nức nở.

Đúng 13 giờ cùng ngày, cha xứ dẫn đoàn chiên lên đường, đoàn người lũ lượt theo nhau, tay xách, nách mang ra đi trong thinh lặng buồn bã. Họ bỏ lại sau lưng tất cả nhà cửa, trâu bò, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên. Hành trang quý nhất họ mang theo là một “niềm tin”. Thỉnh thoảng người ta ngoảnh đầu lại ngắm nhìn làng xã thân yêu mỗi lúc một xa dần, rồi mất hút. Sau ba cây số, qua sông Luộc rồi họ nghỉ đêm tại Phụ Dực. Sáng ngày, một đoàn xe đến chở dân xứ sang An Thổ, nghỉ lại đây một đêm, cha xứ cho giết con ngựa quý của mình đãi giáo dân một bữa tiệc.

Ngày hôm sau, đoàn xe lại đến chở dân xứ ra Xuân Sơn (Kiến An), nghỉ lại đây 25 ngày tại giáo xứ Liễu Dinh để chờ đón những người trong xứ đi sau. Ở đây, tất cả mọi người đều được chích ngừa và chủng đậu. Ngày thứ 25, xe lại đến chuyển dân xứ ra Hải Phòng tá túc qua đêm. Sáng sớm hôm sau, dưới cơn mưa dầm, đoàn xe tiếp tục chuyển bánh ra bờ biển, sau đó mọi người được hướng dẫn xuống tàu “Há Mồm”. Tàu ra khơi, dân xứ được đưa lên chiếc tàu loại lớn, bên hông tàu có đề con số 500 đã đậu sẵn ngoài Biển Đông. Dân xứ được dành cho một boong tàu rất rộng, nên sớm tối người giáo dân được tham dự thánh lễ và rước lễ như của ăn đàng mà đi cho đến nơi. Sau bốn ngày lênh đênh trên biển cả, con tàu dừng lại thả neo. Lần lượt từng chiếc ca-nô cặp sát con tàu, chở dân xứ tiến thẳng vào bến đò Bình Đông Sài Gòn. Ở đây người ta đã dành sẵn những gian nhà kho (chứa gạo) rộng lớn cho dân di cư tạm dừng chân. Tại đây, cha xứ cử hành thánh lễ tạ ơn Chúa vì cuộc hải hành của dân xứ được bình an. Cha cũng căn dặn mọi người hãy yên tâm nghỉ lại đây để cha đi tìm địa điểm định cư thích hợp. Thời gian ở lại đây, cha đã mua được một bộ kèn trống và não bạt 2.

Một buổi chiều trung tuần tháng 9/1954, đoàn xe của Tổng Uỷ Di Cư đến. Mọi người thu hành trang lên xe, đoàn xe len lỏi rồi hướng ra quốc lộ 1 tiến về địa phận tỉnh Biên Hoà. Đến cây số 9 Hố Nai (gần chợ Thánh Tâm ngày nay), đoàn xe dừng lại, lúc này trời đã chạng vạng tối. Trước mắt mọi người là hàng loạt những chiếc lều bạt lớn nhỏ đã được căng sẵn, trông giống như một làng của những người tí hon giữa cánh rừng hoang sơ tàn tạ. Các lều bạt được phân chia theo khu vực cho từng giáo họ, gia đình nhiều người thì được chia cho chiếc lều lớn hơn gia đình ít người. Mọi người lo thu dọn nền đất rồi kiếm ít cỏ rác để lót nền. Đêm đầu tiên trong cảnh màn trời chiếu đất giữa cánh rừng hoang vu thật là kinh hãi. Nghe nói trong rừng có thú dữ, nhiều người không ngủ được, đêm khuya thanh vắng, tiếng côn trùng rên rỉ khắp mặt đất. Đột nhiên, có tiếng của một người phụ nữ thét lên, rên la đau đớn. Nhiều người chạy đến cứu giúp, nhưng chẳng thấy có vết thương nào ngoài một nốt chấm đỏ. Với ánh đèn kỳ leo lét, người ta tìm kiếm mãi mới phát giác thấy một con côn trùng có hình hài ghê sợ. Đầu nó có hai cái càng to, có nhiều chân nhỏ và một cái đuôi uốn cong vút. Ngoài đồng bằng bắc bộ người ta chưa thấy con gì như vậy 3. Tiếp theo sau là một cơn mưa tầm tã, khiến mọi người ngồi xổm mà thức suốt đêm.


Qua đêm đầu tiên, khi bình minh ló dạng, mọi tín hữu lại tụ tập quanh bàn thờ tạm, cùng với cha xứ dâng thánh lễ tạ ơn Chúa với tâm tình sốt mến. Sáng hôm đó, người ta chở đến gồm: Thực phẩm, nước và các dụng cụ dùng trong xây dựng để cấp cho dân. Cha và các vị trùm họ cùng nhau đi thị sát các khu vực chung quanh để lên phương án lập cư. Trước tiên, họ đi theo một con đường lớn từ quốc lộ vào rừng, ngay đầu đường có một cái bảng ghi là “Đường Colonel” (con đường chợ Thánh Tâm ngày nay). Tiến sâu vào chừng 200 mét, phái đoàn phát giác ra một con suối lớn có nước trong vắt, ngọt và chảy thường xuyên, đây là tín hiệu đáng mừng, vì nguồn nước do Uỷ Ban Định Cư cung cấp chỉ đủ uống mà thôi.


1 – Không ai được mang hành trang nặng quá 50kg.
2 – Bộ trống kèn này cha mua của người dân di cư thuộc gốc Rí (Đọ)
   - Giáo xứ cũng mang theo được 2 cây kèn không có phím.
3 – Người phụ nữ bị bọ cạp chích

Định cư 

 

Sau ít ngày lên kế hoạch lập cư, mọi dự tính chưa được thực hiện. Giáo xứ được thông báo phải di chuyển đến cây số 10, nhường khu vực cây số 9 lại cho Giáo Phận Hà Nội để xây bệnh viện và đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Thế là cha con lại lục tục dỡ lều bạt kéo nhau đến cây số 10 1 (khu vực giáo xứ Hoà Bình ngày nay).
(Trại định cư năm 1954, Nguồn: Internet)

Giáo xứ Lai Ổn được chia cho phần đất nằm về phía tay phải quốc lộ 1 (hướng Biên Hoà, Long Khánh). Phía trong là đường ray xe lửa. Phía bên trái đường là dân xứ Tràng Quan và một số dân của các giáo xứ khác đi theo cha Đa Minh Mai Đức Cận. Hai bên quốc lộ, người ta đã làm sẵn cho mấy căn nhà lợp tôn ghép ván. Cha xứ ở một căn, những căn còn lại tạm chia cho các họ để tùy nghi sử dụng. Giáo xứ dựng căn nhà bạt lớn ở trung tâm làm nơi thờ phượng, giáo dân căng bạt ở chung quanh theo họ đạo của mình. Ở đấy, người dân được cung cấp nước uống, thực phẩm và tiền theo nhân danh 2. Ngoài ra còn được cung cấp quần áo, đồ dùng, đồ chơi trẻ em. Khu vực này xa nguồn suối nên cha xứ phải lo sớm đào giếng để có nước sinh hoạt cho giáo dân.

Về mặt hành chính, người ta chia mỗi giáo phận di cư thành một trại. Mỗi trại có một vị linh mục làm trưởng trại và một Uỷ ban Định cư. Mỗi giáo xứ là một ấp. Mỗi ấp có một Ban Định Cư, trong đó vị trưởng ban cũng là trưởng ấp. Ban Định Cư cũng gồm các vị trùm đại diện giáo xứ dưới quyền của cha xứ.

Theo thông báo của toà Tổng Giám Mục Sài Gòn, các giáo xứ di cư không đủ số giáo dân cần thiết để giữ nguyên tên xứ cũ, thì phải kết hợp với các giáo xứ khác ở lân cận để thành lập giáo xứ mới.

Cha Đa Minh Đỗ Đức Thụ và cha Đa Minh Mai Đức Cận đã ngồi lại với nhau để thảo luận tìm ra một cái tên thích hợp cho việc thành lập xứ mới. Nhân dịp này, bà Tôma là một người Pháp gốc Việt, trước đây bà đã được cả hai cha giúp cho tị nạn chiến tranh tại giáo xứ, nay bà lại tìm đến thăm các cha và dân xứ Lai Ổn. Bà ngỏ ý muốn giúp giáo xứ, đặc biệt là những vật liệu cần thiết để làm nhà thờ, nhà xứ, hầu tỏ lòng biết ơn hai cha và dân xứ. Bà được biết hai cha đang băn khoăn về việc đặt tên cho giáo xứ mới, bà liền xin hai cha đặt tên xứ là Lộ Đức, quê hương của chồng bà ở Pháp (La Salette), cũng là nơi Đức Mẹ đã hiện ra 3.

Sau ít ngày cầu nguyện và thăm dò ý kiến của giáo dân, hai cha đã cùng lập đơn xin xứ lên Đức Cha giáo phận. Trong thời gian chờ đợi, hai cha cho giáo dân làm nhà thờ, vì đây là nhu cầu cấp thiết của người tín hữu. Hai cha cũng cho chức sắc của hai xứ cũ họp lại để bầu ra Ban Đại diện xứ.

1- Theo sự sắp xếp của Tổng Uỷ Di Cư. Tại vùng Hố Nai, mỗi giáo phận di cư được dành cho hai cây số theo quốc lộ 1 bắt đầu từ cầu Săn Máu (tức cây số 6) – Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hoá, Bùi Chu, Bắc Ninh – Kết thúc tại cầu Suối Đỉa.
2 – Mỗi ngày mỗi nhân danh được hưởng 6 đồng cho trẻ em và 12 đồng cho người lớn.
3 – Cha già Cận cũng là cha xứ cũ của giáo xứ Lai Ổn (1943 – 1948) – theo lời kể của cụ cố Lộng người họ Đồng Bằng: “Bà Tôma là người Việt lấy chồng Pháp ở giáo xứ Lộ Đức. Bà về Sài Gòn kinh doanh buôn bán. Năm 1940, chồng bà qua đời. Sau khi an táng chồng, bà lại về Hải Phòng lập thêm cơ sở kinh doanh. Năm 1946, Hải Phòng bị Pháp tấn công, bà chạy đến xin tá túc ở xứ Lai Ổn. Cha Cận cho phép bà đến họ Đồng Bằng và thầy già Tốn thu xếp cho bà ở với bà Thoa tại nhà phòng giáo họ. Bà rất giàu có.

Cùng xây dựng ngôi nhà chung 

 

Trong những ngày đầu định cư trên vùng đất mới, mặc dù người dân còn phải lo cuộc sống và làm nhà ở cho gia đình, nhưng tất cả đều rất nhiệt thành tham gia vào công trình xây dựng nhà thờ của giáo xứ.
(Xây nhà thờ, Nguồn: Internet)

Công việc được phân chia cho các giáo họ tuỳ theo số giáo dân nhiều hay ít. Các thanh niên khoẻ mạnh rủ nhau vào rừng, xuống những khe đồi, khe suối sâu, rậm rạp, tìm cho ra những cây gỗ tốt và đủ kích cỡ. Việc đưa được một cột từ dưới khe lên mặt đồi thật là vất vả, sau đó mới hò nhau khiêng về. Ở nhà đã có sẵn toán thợ lành nghề, họ đẽo gọt, bào nhẵn nhụi từng cây rồi đục mộng, cắt mang. Những người kém sức khoẻ hơn thì ở nhà tham gia công việc nhẹ.

Ngày cất nhà thờ như một ngày hội, các thanh niên, thanh nữ khoẻ mạnh đều đến tham gia, nét mặt cha con ai nấy hết sức vui mừng. Theo lệnh của thợ cả, từng vì đã được cất lên trong tiếng reo hò, chẳng mấy chốc các vì đã sừng sững, đứng hiên ngang giữa bầu trời trong sáng. Nhà thờ có chiều dài 45 mét, chiều ngang 10 mét với 4 hàng cột, hai hàng cột cái, hai hàng cột quân được chống kỹ lưỡng.

Ngày lợp tôn chỉ có các thợ lành nghề ở trên, còn số người khác thì ở phía dưới. Từng tấm tôn fibrô cement nặng nề được kéo lên bằng dây thừng, lợp xong tấm này rồi đến tấm khác. Khi đã lợp được 2/3 mái, cha xứ đi ra từ nhà xứ tiến vào trong nhà thờ, nhìn lên mái nhà rồi gật đầu mấy lần, ngài khích lệ những người thợ. Đột nhiên những tiếng răng rắc, rồi một tiếng rầm thật lớn. Cha xứ không rõ chuyện gì liền chạy vội ra, không thấy nhà thờ đâu nữa, mà chỉ thấy bụi mù cuồn cuộn bốc lên. Cha xứ chạy đến nơi, các giáo dân ở chung quanh gần đấy cũng vừa la hét vừa chạy ra. Những người tại hiện trường đều xanh máu mặt, nhất là những ông thợ ở trên nóc nhà bay xuống. Cha cho kiểm tra lại kĩ lưỡng xem có ai thương vong không? Rất may, chỉ có hai người bị thương nhẹ. Thế là bao nhiêu công sức của cả cha lẫn con đều tan thành mây khói, tôn bị vỡ, kèo cột thì vỡ mang, gẫy mộng không còn dùng được nữa. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng. Đến năm 1955, nhà thờ cũng tạm ổn định. Dù chưa kịp cán nền, mọi người vẫn cố gắng hối thúc nhau để kịp ngày Đức Giám Mục ghé lại để làm phép nhà thờ mới.

Cuối năm 1955, khi mùa mưa vừa chấm dứt, những con nắng hanh và lốc xoáy bắt đầu xuất hiện. Một cuộc hoả hoạn đã xảy đến với giáo khu Tràng Quan. Theo các cụ thì đây là một cuộc hoả hoạn lớn chưa từng thấy. Khi lửa đã bắt đầu vào được vách lá, những tàu lá buông vừa cháy vừa bay lên trời cao theo chiều gió như những cánh diều lửa, vì thế lửa lan đi rất nhanh. Nó thiêu rụi toàn bộ nhà cửa của giáo khu Tràng Quan và một phần của giáo xứ Văn Côi. Ngay sau cuộc hoả hoạn, để tránh sự phẫn nộ của một số người, Hiến Binh đã đến dẫn đi người chủ căn nhà là ông Đa Minh Nguyễn Văn Tung. Chính phủ và hai cha cũng đã bắt tay ngay vào việc trợ cấp lương thực, thực phẩm cho dân và giúp cho mỗi gia đình nạn nhân 200 đồng để ổn định lại cuộc sống.

Năm 1955 là một năm đầy gian nan vất vả. Tuy nhiên, vượt qua bao nhiêu gian khổ đó, người giáo dân giờ đây đã có nơi thờ phượng.

Mặc dù đời sống vật chất của người giáo dân trong xứ còn rất nhiêu khê, chưa được ổn định, nhưng đời sống đạo đức của họ thật tuyệt vời. Sớm tối trong thánh lễ hoặc các giờ kinh nguyện đều đầy ắp giáo dân. Thứ năm, thứ sáu, thứ bảy hàng tuần, các đoàn thể chia nhau làm giờ đền tạ, chầu Thánh Thể rất sốt sắng. Mặc dù, đa số các vị trong Hội Dòng Ba đã cao tuổi, nhưng họ không nghỉ trưa mà lại cùng nhau đến Thánh Đường để cầu nguyện.

Cha xứ đặc biệt quan tâm đến hùng tâm dũng chí. Ngài tiến cử ông quản Đaminh Đinh Tuận và bà quản Maria Đỗ Thị Huyền, để các vị trông coi và dạy giáo lý cho các em. Các em chuẩn bị xưng tội lần đầu và chịu phép thêm sức thì được quan tâm đặc biệt về giáo lý. Các em lớn hơn còn được hướng dẫn về các kĩ năng sinh hoạt đạo đức tập thể như: Nguyện ngắm, dâng hoa, dâng hạt…

Hội Bát Am đã được thành lập từ ngoài Bắc, cũng được duy trì và mở rộng, để phục vụ những ngày lễ trọng có tổ chức rước kiệu, hoặc đệm trong lúc tế lễ hoặc ngắm lễ. Bát âm còn được dùng trong nghi thức lễ tang.

Trên đường di cư, cha xứ đã mua được một bộ trống, sâm ban và một số kèn đồng, nên Ngài đã cho thành lập hội kèn. Cha tiến cử ông Phạm Kim Động làm trưởng ban và ông ký Ân người gốc Thuần Tuý ở giáo khu Tràng Quan làm nhạc trưởng, huấn luyện các hội viên.


Để nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, cha xứ thường xuyên kêu gọi mọi người hãy cầu nguyện và năng đến thăm hỏi những người đau ốm, tàn tật, các gia đình gặp hoạn nạn, giúp đỡ họ về tinh thần, vật chất nếu có thể được. Cha xứ là người đi tiên phong trong việc này. Có những ngày rất bận vì công việc, nhưng cha vẫn dành thời giờ để viếng thăm, phát thuốc, ban các phép Bí Tích, hoặc giúp đỡ tiền bạc cho những hoàn cảnh như trên.

Bằng những vật liệu tạm bợ, mái lợp bằng lá buông, vách bưng bằng lá buông hoặc tre đập dập, chẳng mấy kín đáo nhưng người dân đã làm được nhà để ở. Tuy nhiên, vì điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn, đôi khi hai ba gia đình mới làm được một căn, cuộc sống chen chúc khổ sở. Nguồn viện trợ thực phẩm cũng đã thưa dần, cây cối trong rừng cũng cạn kiệt, người dân không còn đi chặt đòn tay, chặt róc, hoặc lá buông về bán như trước được nữa.
(Di dời, Nguồn: Internet)

Dù người dân bày ra làm bánh hú, bánh dầy, bánh rán đội đi chợ Biên Hoà cách 10 cây số để bán, cũng chẳng mấy ai mua, vì người miền Nam không quen ăn loại bánh này. Bày ra đan lát rổ rá, nong nia cũng chẳng bán cho ai được mặc dù người miền Bắc thì ai cũng biết  làm việc đó khi tre đã có sẵn trong rừng. Thế nhưng điều lo ngại nhất vẫn là nạn thóc cao, gạo kém, năm nay đột nhiên giá gạo càng ngày càng cao, từ  ba ngàn nay lên tới chín ngàn mốt.

Bấy giờ, các linh mục vì lo cho cuộc sống của đoàn chiên nên rất khổ tâm. Các Ngài đã đi thị sát ở nhiều nơi xem ở đâu có ruộng cho giáo dân vốn dĩ là nông dân, để họ có thể tự túc lo lương thực cho mình để tránh được nạn đói có thể xảy ra, mà an tâm giữ đạo.

Cha cố Thụ thấy thương dân mà không còn cách nào khác, Ngài đã họp quý chức lại và tuyên bố: “Anh em có thể tự ý đi bất cứ đâu mà anh em sống được!” Người giáo dân xứ Lai Ổn xưa nay vẫn hằng kính trọng và thương mến các cha nên không nỡ bỏ cha xứ mà đi tứ tán. Các quí chức sau khi bàn thảo với nhau, đã trình lên với cha xứ về vùng Đồng Lách: “Chúng con thấy ở vùng Đồng Lách, nơi chúng con vẫn vào chặt tre và lá buông về bán, ở đấy có rất nhiều ruộng bỏ hoang, cha có thể xem xét rồi đưa chúng con vào đó, nó gần hơn”.

Cha xứ đã đích thân theo chân các chức sắc, len lỏi qua những lối mòn trong rừng rậm, vượt đồi, lội suối. Đi qua khu vực đá xay, phái đoàn đặt chân đến một ngọn đồi thấp, cỏ cây chằng chịt, cây lớn còn rất ít. Phái đoàn tiếp tục tiến sâu hơn về phía Đông Bắc, đến mé đồi, cha xứ tỏ ra hài lòng khi nhìn thấy một cánh đồng cỏ bát ngát, phía xa xa thấp thoáng những bóng người, có vài cột khói bốc lên.

Ngày hôm sau, cha cho họp toàn thể quí chức trong xứ. Sau đó thông báo cho giáo dân ở nhà thờ: “Trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống hiện nay, cha quyết định sẽ rời giáo xứ vào Đồng Lách, gia đình nào đi thì ghi danh với các ông trùm họ để được chia đất ở và ruộng”. Đại đa số các gia đình giáo khu Lai Ổn và mấy gia đình ở giáo khu Tràng Quan xin đăng ký.

Cha và các chức sắc lại vào Đồng Lách, vẽ sơ đồ định cư cho dân, tìm hướng để ủi đường vào. Theo thứ tự các họ và con số giáo dân, ban định cư khoanh vùng rồi trao lại cho các ban trùm giáo họ chia cho các gia đình. Vì diện tích mặt bằng hạn hẹp, số giáo dân lại đông, nên mỗi nhân danh chỉ được cấp ba mét đất thổ cư theo mặt đường, khu vực trung tâm dành để làm nhà thờ và nhà xứ.

Bước thứ hai là chia ruộng. Ban định cư đã gặp phải sự tranh chấp của một số giáo dân xứ Đông Hải do cha Tôma Lý Quang Phụng đưa vào định cư ở đây trước. Cha cố Thụ và ban định cư đã phải sang gặp cha Phụng và các chức sắc xứ Đông Hải để giải quyết. Trong tinh thần thương yêu đùm bọc giữa những người Công giáo cùng cảnh ngộ, giáo xứ Đông Hải đã đồng ý nhượng lại số ruộng họ đã nhận nhưng chưa phát cỏ và khu vực Lò Than, Suối Sao cho người Lai Ổn. Tuy vậy, số ruộng so với số nhân khẩu còn quá ít, nên mỗi nhân danh chỉ được cấp cho 72m2  ruộng, phần còn lại 3.600m2 ở chân đồi cuối làng dành cho nhà xứ làm của chung. Ban ngày, các gia đình phải chia đôi, người ở nhà lo kiếm lương thực cho gia đình, người thì vào Đồng Lách làm chòi ở tạm để vỡ ruộng.

Đồng Lách xưa kia là một ấp thuộc xã Bình Trước, tổng Phước Vĩnh Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hoà. Năm 1943-1946, “vì quân Pháp truy lùng Việt Minh ráo riết nên phần lớn những người có máu mặt bỏ ấp lên thành, số còn lại canh tác ở phía ngoài, còn bao nhiêu bỏ hoang. Năm 1951, vùng này bị hạn hán nặng. Năm Nhâm Thìn 1952, các vùng trũng dọc theo sông Đồng Nai bị trận lũ lụt rất lớn tàn phá, kéo dài suốt từ giữa tháng Chín sang đầu tháng Mười. Mực nước ở các vùng trũng như Đồng Lách rất cao, vì thế, đồng ruộng bị mất trắng, các đàn gia súc, gia cầm cũng tiêu tan theo. Người dân Đồng Lách lúc bấy giờ sống rải rác trên cánh đồng ruộng do cha ông họ khai phá. Họ đã phải vội vàng bỏ của chạy lên đồi 50 (đồi cao Hố Nai ) vì nước lũ băng rừng kéo đến quá nhanh. Sau trận lũ, người dân đã bỏ ấp đi các nơi khác lập nghiệp. Một lần nữa ruộng đất ở vùng Đồng Lách đều bị bỏ hoang.
Đồng Lách hoang sơ giữa chốn này
Chim muông cầm thú với cỏ cây
Đồng ruộng bao la không người cấy
Nước non khô cạn sống sao đây?
Về vị trí địa lý, Đồng Lách nằm cách cây số 10 Quốc lộ 1 về hướng Đông Đông Bắc khoảng 3 km. Từ chân đồi 50 (Hố Nai) trở vào là những ngọn đồi thấp nằm nối tiếp nhau. Các loại gỗ quí đã bị khai thác, chỉ còn lại những cây gỗ tạp thưa thớt. Cây non, cây chồi thì rất dày, xen lẫn với các loại cỏ dây, cỏ cây nên rất rậm rạp. Vùng này vào thuở xa xưa không biết có bị ngập nước hay không? Nhưng trên mặt đất thì toàn đá cuội đủ màu, cuội trắng, cuội đen, cuội nâu, và các loại đá bọc có ruột màu xanh rất cứng. Đặc biệt là có rất nhiều những con sò, ốc, hến và rùa hoá thạch. Đào bới lên người ta còn phát giác cây gỗ hoá thạch. Tầng dưới nhiều chỗ cách mặt đất từ 20 đến 50 phân trở xuống thì toàn đá xanh còn non, khi đào thì rất cứng, nhưng khi vứt lên mặt đất, sau một tháng trở đi thì vỡ vụn ra. Chính vì thế mà nguồn nước mạch ở đây có men bột đá không uống được. Về mùa mưa nguồn nước ở đây rất dồi dào, nhưng về mùa nắng thì chỉ có một con suối cái, và khu vực Suối Sao là có nước mà thôi. Ngoài đồng ruộng, vì bị bỏ hoang lâu năm nên cỏ mọc cao và rất rậm. Trong những khu rừng ở sát chân đồi cao và khu Suối Sao thì có đủ mọi loại thú rừng như: nai, mển, chồn, sóc, hươu, khỉ, heo, thỏ, nhím và rất nhiều các loại chim chóc.

Năm 1955 đến 1957, dân di cư từ miền Bắc vào, đã biến Đồng Lách thành 5 ấp:
- Ấp Trung Đồng và ấp Sài Quất do cha Sabastianô Nguyễn Duy Nhật đưa đến.
- Ấp Thanh Bình do cha Giuse Nguyễn Văn Ngự thành lập, bao gồm cả người dân tộc Nùng.
- Ấp Đông Hải được thành lập do cha Tôma Lý Quang Phụng, bao gồm dân của các xứ: Hoàng Độc, Mai Trung, Kẻ Sặt, Đồng Xá, Bắc Ninh… Họ ở dọc theo con Suối Cái.
- Đến sau cùng là giáo dân giáo xứ Lai Ổn, được cha Đaminh Đỗ Đức Thụ đưa vào và thành lập ấp Lộ Đức II.
Chúa ban mưa xuống nước dư đầy
Cha con vui sướng tiến vào đây
Khai hoang lập ấp từ thuở ấy
Cuộc sống phơi trên những luống cày.
Những ngày trước và sau tết Đinh Dậu (1957), cha xứ kêu gọi giáo dân vào Đồng Lách tham gia công việc phá tre, cắt cây đổ nền nhà thờ. Quí chức cũng như giáo dân hàng ngày thay phiên nhau vào thu dọn, đào đất ở hai bên hông rồi vận chuyển vào khu vực giữa quả đồi. Chẳng bao lâu, một cái nền nhà thờ dài 45 mét, rộng 12 mét, cao 1 mét được hoàn thành.

Ngoài ra các đoạn đường băng qua các khe đồi bị ngập nước cũng được đóng kè, làm cống và đổ đất cao ráo để xe cộ vận chuyển có thể qua lại dễ dàng.

Tháng 4 năm 1957, sau khi con đường nối từ nhà thờ ra ngã ba đã hoàn tất, cha Đaminh Đỗ Đức Thụ kêu gọi các gia đình thu dọn đồ đạc vào định cư Vĩnh Viễn tại Đồng Lách, vì thời vụ gieo trồng đã tới. Cha cũng thông báo, trước đây ai đã gửi tiền bạc ở nơi cha thì hãy lên gặp cha để lấy về. Các chức sắc và giáo dân cắt cử nhau, chia làm hai tốp: một tốp dỡ nhà thờ ở ngoài Hố Nai, chở vào Đồng Lách; tốp thứ hai ở trong Đồng Lách, khi xe chở vào tới đâu, thì ráp nối và dựng lên tới đó. Chẳng bao lâu, một ngôi Thánh Đường rộng rãi, thoáng mát, lợp tôn fibrô cement, vách bưng bằng tôn lá, sừng sững đứng giữa ngọn đồi đầy hoa thơm, cỏ lạ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét