Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Thiên Hậu Thánh mẫu

















Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense

 - Một ngày sau khi gần như toàn bộ các thành viên của CLB Chapecoense gặp tai nạn máy bay, nhiều công trình, biểu tượng nổi tiếng, sân vận động trên thế giới đã chuyển sang màu xanh lá cây - màu sắc truyền thống của CLB Brazil để tưởng nhớ HLV Caio Junior và các học trò.
Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense
Tượng Chúa Kitô cứu thế ở Rio de Janeiro (Brazil)

Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense
Tòa nhà chọc trời Torre Colpatria nổi tiếng ở Bogota (Colombia)

Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense
SVĐ Allianz Arena của CLB Bayern Munich (Đức)

Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense
SVĐ Monterrey Bancomer BBVA (Mexico)

Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense
Tượng đài Obelisk ở Buenos Aires (Argentina)

Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense
SVĐ Beira-Rio (Brazil)

Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense
Tháp Eiffel (Pháp)

Nhiều biểu tượng trên thế giới đổi màu xanh tưởng nhớ CLB Chapecoense
SVĐ Wembley (Anh)
Q.C

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

CANON 910IS



CANON IXY 910IS
, 8.0mpxs, zoom quang học 3,8X, zoom KTS 4X, khẩu độ F2.8 - 5.8, có chế độ nhạy sáng cao High sensitivity đạt ISO 1600 giúp tốc độ chụp nhanh và giảm bớt rung tay. Chống mắt đỏ. Đặc biệt máy còn được trang bị bộ xử lý hình ảnh nâng cao DIGIC III độc nhất vô nhị của Canon, có tính năng dò tìm đa khuôn mặt ; Zoom điểm AF sẽ giúp bạn ngắm cận cảnh khuôn mặt của vật chụp trước khi chụp vật ở tư thế với nụ cười đẹp nhất. Tính năng AE dò tìm khuôn mặt sẽ giúp bạn cài đặt độ sáng ở mức lý tưởng nhất để chụp được khuôn mặt với nét sáng hoàn hảo. Tính năng FE dò tìm khuôn mặt sẽ giúp bạn chụp vật chính với ánh sáng nổi bật nhất khi bạn sử dụng đèn flash. Tính năng WB dò tìm khuôn mặt (MỚI) sẽ tối ưu hoá cân bằng trắng cho khuôn mặt trong bất kỳ một điều kiện chụp hình nào. Và 1 điều đặc biệt của dòng này nữa là tiêu thụ điện năng ở mức thấp nhất.

Máy này chụp chất lượng ảnh tuyệt vời, chụp k thua với các loại 12MP đời đầu nha.

Có nhiều chế độ chụp, quay film không giới hạn tùy theo thẻ nhớ của mình. Chất lượng hình chụp khỏi chê. Có chế độ chụp và in ảnh trực tiếp.

Máy cầm chắc tay, màn hình 3 inch.

Hình thức bên ngoài mới 97%, màn hình hiễn thị có 2 đốm đen nhỏ (như hình) nhưng k ảnh hưởng gì đến chất lượng ảnh nhe, vì nó chỉ là màn hình hiển thị thôi, k phải bị ống kính chụp. Xem hình em nó chụp sẽ rõ.
Made in Japan.

Phụ kiện kèm theo gồm : Fullbox gồm Thân máy, pin Lithium, sạc, usb cable, dây đeo, thẻ 1GB & hộp sách đĩa.

Giá tốt : đã ra đi

Hình em nó đây :

Người Công giáo di cư


Khúc quanh lịch sử

Ngày 8/5/1954, Điện Biên Phủ thất thủ, Pháp quân đại bại. Ngày 26/5/1954, tại hội nghị Genève Việt – Pháp thoả thuận ngưng bắn, thu quân về những khu vực chỉ định. Ở Sài Gòn, ngày 7/7/1954, quốc trưởng Bảo Đại trao cho ông Ngô Đình Diệm lập Chính Phủ. Ngày 20 liền sau Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Việt Minh) và Cộng hoà Pháp quốc tạm thời chia đôi nước Việt Nam, lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm ranh giới. Miền Bắc thuộc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, miền Nam ông Ngô Đình Diệm lập Chính Phủ quốc gia. Dành 300 ngày cho dân chúng được di chuyển từ khu này sang khu vực bên kia. Ngày 20/7/1956 sẽ mở cuộc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền.

Từ đây khởi sự một cuộc di cư lịch sử: gần một triệu người từ miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, cũng như một số từ miền Nam tập kết ra Bắc. Từ ngày 4/8/1954, một cầu hàng không (1.174km) cả trăm phi cơ Pháp, Hoa Kỳ, công ty tư nhân, bắt tay hoạt động. Trong lòng các máy bay di cư, người ta tháo gỡ hết ghế ngồi để bớt nặng và thêm rộng chỗ. Giữa Hà Nội hoặc Hải Phòng và Sài Gòn là một vòng bay vào bay ra, tích cực hoạt động để vận chuyển vào Nam trung bình mỗi ngày 2.000 người, có ngày trên 4.000. Cứ  sáu phút một phi cơ hạ cánh, biến sân bay Tân Sơn Nhất thành một phi trường hoạt động nhất thế giới lúc bấy giờ. Người ta tính có đến 4.280 chuyến bay chuyên chở 213.635 người. Đường biển còn hoạt động mạnh hơn: tàu “Há Mồm”, tàu chiến của Pháp, Hoa Kỳ, Việt Nam, Anh, Trung Quốc, Ba Lan chuyên chở 553.037 người. Ngoài ra còn 102.861 người đi bằng phương tiện riêng.

Từ khi cuộc di cư bắt đầu, thủ tướng Ngô Đình Diệm đã ra Hà Nội thị sát. Ngày 6/8/1954, ông đặt bộ trưởng Lê Quang Luật làm đại biểu chính phủ “phụ trách công việc ở Bắc Việt, đặc biệt về tản cư dân tị nạn”. Ba ngày sau, ông thiết lập “Tổng Uỷ Di Cư”, có nhiệm vụ điều khiển công việc đón tiếp và gây cơ sở mới cho đồng bào di cư.

Về phía người Công giáo, Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi được Đức Khâm Sứ Toà Thánh Dooky ký thác việc coi sóc giáo dân và giáo sĩ di cư, có Cha Hoàng Mạnh Hiền dòng Đaminh và linh mục Nguyễn Khắc Ngữ (Lạng Sơn) làm phụ tá.

Với các tổ chức trên, lại được các nước khác giúp đỡ, tiếp viện thực phẩm, thuốc men, tiền bạc, vật liệu xây cất, nên không đầy một năm gần một triệu đồng bào đã có chỗ tạm cư, tại nhiều địa điểm trong các tỉnh Trung Việt, Cao Nguyên Trung Việt, nhất là ở Nam Việt (Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Gia Định, Tây Ninh, Chợ Lớn,v.v…). Đời sống tạm cư dần dần trở thành định cư lập nghiệp, làm lại cuộc đời 1.

Năm 1954, Giáo Phận Thái Bình có 80.000 giáo dân cùng với trên 60 linh mục theo làn sóng di cư: Đức Cha Ubierna Ninh quyết tâm ở lại giáo phận, nhưng người được lệnh của quân đội Pháp phải ra đi trong 24 tiếng đồng hồ. Đức Cha cưỡng lại không được, nhưng cũng đòi viên sĩ quan chỉ huy phải cho người một văn kiện, chứng minh người phải ra đi vì cưỡng bức bằng võ lực. Viên sĩ quan đã chiều theo và làm như  ý Đức Cha yêu cầu². Sau khi đã đặt Cha Đaminh Đinh Đức Trụ, nguyên là linh hướng chủng viện Mỹ Đức vào chức bề trên tổng quản giáo phận. Ngày 30/6/1954, Đức Cha cùng với cha Rodriguez Khoan rời khỏi Thái Bình, lưu lạc vào Sài Gòn3.

Giã từ quê hương yêu dấu 

 

“Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất ta sẽ chỉ cho” (St.12,1)

Giáo xứ Lai Ổn xưa kia được thành lập năm 1659, còn được gọi là Kẻ On hay xứ Phủ Thái, thuộc địa phận Đàng Ngoài. Giáo xứ bao gồm nhiều nhóm họ đã lãnh nhận Đức Tin Công Giáo cư ngụ trong các làng mạc chiếm cả phía Bắc tỉnh Thái Bình ngày nay. Năm 1679, giáo xứ thuộc địa phận Đông, năm 1848 thuộc địa phận Trung và năm 1924 thuộc địa phận Bùi Chu. Năm 1936, giao xứ thuộc địa phận Thái Bình. Năm 1954, giáo xứ chỉ còn tám họ gồm: Lai Ổn, Đồng Bằng, Vọng Lỗ, Đại Điền, Trung Chu, Đồng Au, Thuỷ Cơ, và Cao Nội. Người giáo dân chủ yếu sống bằng nghề nông, hiền lành, chất phác. Nhiều người cả đời chưa hề bước chân ra khỏi khu vực sinh sống. Cảnh bom rơi, đạn lạc ngày càng tăng cường độ làm nhiều người phải mất mạng, nhiều gia đình phải tản cư đến nơi khác an toàn hơn, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống gia đình.

Sự kiện tháng 7 năm 1954, người nông dân chẳng biết sự gì đã xảy đến. Chẳng ai bảo ai, những người còn ở lại các giáo họ xa xôi đã ùn ùn kéo về nhà xứ như những dòng nước từ con suối nhỏ đổ ra suối cái. Tất cả họ dừng chân tại nhà xứ để nghỉ ngơi, kiểm tra dân số và nhận thông báo về cuộc di cư  1.
(Người Công giáo di cư năm năm 1954, Nguồn: Internet)

Sáng ngày 27/7/1954, cha chánh xứ Đaminh Đỗ Đức Thụ cùng toàn thể dân xứ hiệp dâng thánh lễ cuối cùng tại nhà thờ nhà xứ Lai Ổn để xin ơn bình an cho cuộc lữ hành. Sau thánh lễ, cha xứ bùi ngùi lên tiếng từ giã thầy xứ và những người giáo dân ở lại, từ giã ngôi thánh đường thân yêu, giã từ quê hương yêu dấu là nơi các bậc tổ tiên đang an nghỉ, làm nhiều người mủi lòng và khóc nức nở.

Đúng 13 giờ cùng ngày, cha xứ dẫn đoàn chiên lên đường, đoàn người lũ lượt theo nhau, tay xách, nách mang ra đi trong thinh lặng buồn bã. Họ bỏ lại sau lưng tất cả nhà cửa, trâu bò, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên. Hành trang quý nhất họ mang theo là một “niềm tin”. Thỉnh thoảng người ta ngoảnh đầu lại ngắm nhìn làng xã thân yêu mỗi lúc một xa dần, rồi mất hút. Sau ba cây số, qua sông Luộc rồi họ nghỉ đêm tại Phụ Dực. Sáng ngày, một đoàn xe đến chở dân xứ sang An Thổ, nghỉ lại đây một đêm, cha xứ cho giết con ngựa quý của mình đãi giáo dân một bữa tiệc.

Ngày hôm sau, đoàn xe lại đến chở dân xứ ra Xuân Sơn (Kiến An), nghỉ lại đây 25 ngày tại giáo xứ Liễu Dinh để chờ đón những người trong xứ đi sau. Ở đây, tất cả mọi người đều được chích ngừa và chủng đậu. Ngày thứ 25, xe lại đến chuyển dân xứ ra Hải Phòng tá túc qua đêm. Sáng sớm hôm sau, dưới cơn mưa dầm, đoàn xe tiếp tục chuyển bánh ra bờ biển, sau đó mọi người được hướng dẫn xuống tàu “Há Mồm”. Tàu ra khơi, dân xứ được đưa lên chiếc tàu loại lớn, bên hông tàu có đề con số 500 đã đậu sẵn ngoài Biển Đông. Dân xứ được dành cho một boong tàu rất rộng, nên sớm tối người giáo dân được tham dự thánh lễ và rước lễ như của ăn đàng mà đi cho đến nơi. Sau bốn ngày lênh đênh trên biển cả, con tàu dừng lại thả neo. Lần lượt từng chiếc ca-nô cặp sát con tàu, chở dân xứ tiến thẳng vào bến đò Bình Đông Sài Gòn. Ở đây người ta đã dành sẵn những gian nhà kho (chứa gạo) rộng lớn cho dân di cư tạm dừng chân. Tại đây, cha xứ cử hành thánh lễ tạ ơn Chúa vì cuộc hải hành của dân xứ được bình an. Cha cũng căn dặn mọi người hãy yên tâm nghỉ lại đây để cha đi tìm địa điểm định cư thích hợp. Thời gian ở lại đây, cha đã mua được một bộ kèn trống và não bạt 2.

Một buổi chiều trung tuần tháng 9/1954, đoàn xe của Tổng Uỷ Di Cư đến. Mọi người thu hành trang lên xe, đoàn xe len lỏi rồi hướng ra quốc lộ 1 tiến về địa phận tỉnh Biên Hoà. Đến cây số 9 Hố Nai (gần chợ Thánh Tâm ngày nay), đoàn xe dừng lại, lúc này trời đã chạng vạng tối. Trước mắt mọi người là hàng loạt những chiếc lều bạt lớn nhỏ đã được căng sẵn, trông giống như một làng của những người tí hon giữa cánh rừng hoang sơ tàn tạ. Các lều bạt được phân chia theo khu vực cho từng giáo họ, gia đình nhiều người thì được chia cho chiếc lều lớn hơn gia đình ít người. Mọi người lo thu dọn nền đất rồi kiếm ít cỏ rác để lót nền. Đêm đầu tiên trong cảnh màn trời chiếu đất giữa cánh rừng hoang vu thật là kinh hãi. Nghe nói trong rừng có thú dữ, nhiều người không ngủ được, đêm khuya thanh vắng, tiếng côn trùng rên rỉ khắp mặt đất. Đột nhiên, có tiếng của một người phụ nữ thét lên, rên la đau đớn. Nhiều người chạy đến cứu giúp, nhưng chẳng thấy có vết thương nào ngoài một nốt chấm đỏ. Với ánh đèn kỳ leo lét, người ta tìm kiếm mãi mới phát giác thấy một con côn trùng có hình hài ghê sợ. Đầu nó có hai cái càng to, có nhiều chân nhỏ và một cái đuôi uốn cong vút. Ngoài đồng bằng bắc bộ người ta chưa thấy con gì như vậy 3. Tiếp theo sau là một cơn mưa tầm tã, khiến mọi người ngồi xổm mà thức suốt đêm.


Qua đêm đầu tiên, khi bình minh ló dạng, mọi tín hữu lại tụ tập quanh bàn thờ tạm, cùng với cha xứ dâng thánh lễ tạ ơn Chúa với tâm tình sốt mến. Sáng hôm đó, người ta chở đến gồm: Thực phẩm, nước và các dụng cụ dùng trong xây dựng để cấp cho dân. Cha và các vị trùm họ cùng nhau đi thị sát các khu vực chung quanh để lên phương án lập cư. Trước tiên, họ đi theo một con đường lớn từ quốc lộ vào rừng, ngay đầu đường có một cái bảng ghi là “Đường Colonel” (con đường chợ Thánh Tâm ngày nay). Tiến sâu vào chừng 200 mét, phái đoàn phát giác ra một con suối lớn có nước trong vắt, ngọt và chảy thường xuyên, đây là tín hiệu đáng mừng, vì nguồn nước do Uỷ Ban Định Cư cung cấp chỉ đủ uống mà thôi.


1 – Không ai được mang hành trang nặng quá 50kg.
2 – Bộ trống kèn này cha mua của người dân di cư thuộc gốc Rí (Đọ)
   - Giáo xứ cũng mang theo được 2 cây kèn không có phím.
3 – Người phụ nữ bị bọ cạp chích

Định cư 

 

Sau ít ngày lên kế hoạch lập cư, mọi dự tính chưa được thực hiện. Giáo xứ được thông báo phải di chuyển đến cây số 10, nhường khu vực cây số 9 lại cho Giáo Phận Hà Nội để xây bệnh viện và đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Thế là cha con lại lục tục dỡ lều bạt kéo nhau đến cây số 10 1 (khu vực giáo xứ Hoà Bình ngày nay).
(Trại định cư năm 1954, Nguồn: Internet)

Giáo xứ Lai Ổn được chia cho phần đất nằm về phía tay phải quốc lộ 1 (hướng Biên Hoà, Long Khánh). Phía trong là đường ray xe lửa. Phía bên trái đường là dân xứ Tràng Quan và một số dân của các giáo xứ khác đi theo cha Đa Minh Mai Đức Cận. Hai bên quốc lộ, người ta đã làm sẵn cho mấy căn nhà lợp tôn ghép ván. Cha xứ ở một căn, những căn còn lại tạm chia cho các họ để tùy nghi sử dụng. Giáo xứ dựng căn nhà bạt lớn ở trung tâm làm nơi thờ phượng, giáo dân căng bạt ở chung quanh theo họ đạo của mình. Ở đấy, người dân được cung cấp nước uống, thực phẩm và tiền theo nhân danh 2. Ngoài ra còn được cung cấp quần áo, đồ dùng, đồ chơi trẻ em. Khu vực này xa nguồn suối nên cha xứ phải lo sớm đào giếng để có nước sinh hoạt cho giáo dân.

Về mặt hành chính, người ta chia mỗi giáo phận di cư thành một trại. Mỗi trại có một vị linh mục làm trưởng trại và một Uỷ ban Định cư. Mỗi giáo xứ là một ấp. Mỗi ấp có một Ban Định Cư, trong đó vị trưởng ban cũng là trưởng ấp. Ban Định Cư cũng gồm các vị trùm đại diện giáo xứ dưới quyền của cha xứ.

Theo thông báo của toà Tổng Giám Mục Sài Gòn, các giáo xứ di cư không đủ số giáo dân cần thiết để giữ nguyên tên xứ cũ, thì phải kết hợp với các giáo xứ khác ở lân cận để thành lập giáo xứ mới.

Cha Đa Minh Đỗ Đức Thụ và cha Đa Minh Mai Đức Cận đã ngồi lại với nhau để thảo luận tìm ra một cái tên thích hợp cho việc thành lập xứ mới. Nhân dịp này, bà Tôma là một người Pháp gốc Việt, trước đây bà đã được cả hai cha giúp cho tị nạn chiến tranh tại giáo xứ, nay bà lại tìm đến thăm các cha và dân xứ Lai Ổn. Bà ngỏ ý muốn giúp giáo xứ, đặc biệt là những vật liệu cần thiết để làm nhà thờ, nhà xứ, hầu tỏ lòng biết ơn hai cha và dân xứ. Bà được biết hai cha đang băn khoăn về việc đặt tên cho giáo xứ mới, bà liền xin hai cha đặt tên xứ là Lộ Đức, quê hương của chồng bà ở Pháp (La Salette), cũng là nơi Đức Mẹ đã hiện ra 3.

Sau ít ngày cầu nguyện và thăm dò ý kiến của giáo dân, hai cha đã cùng lập đơn xin xứ lên Đức Cha giáo phận. Trong thời gian chờ đợi, hai cha cho giáo dân làm nhà thờ, vì đây là nhu cầu cấp thiết của người tín hữu. Hai cha cũng cho chức sắc của hai xứ cũ họp lại để bầu ra Ban Đại diện xứ.

1- Theo sự sắp xếp của Tổng Uỷ Di Cư. Tại vùng Hố Nai, mỗi giáo phận di cư được dành cho hai cây số theo quốc lộ 1 bắt đầu từ cầu Săn Máu (tức cây số 6) – Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hoá, Bùi Chu, Bắc Ninh – Kết thúc tại cầu Suối Đỉa.
2 – Mỗi ngày mỗi nhân danh được hưởng 6 đồng cho trẻ em và 12 đồng cho người lớn.
3 – Cha già Cận cũng là cha xứ cũ của giáo xứ Lai Ổn (1943 – 1948) – theo lời kể của cụ cố Lộng người họ Đồng Bằng: “Bà Tôma là người Việt lấy chồng Pháp ở giáo xứ Lộ Đức. Bà về Sài Gòn kinh doanh buôn bán. Năm 1940, chồng bà qua đời. Sau khi an táng chồng, bà lại về Hải Phòng lập thêm cơ sở kinh doanh. Năm 1946, Hải Phòng bị Pháp tấn công, bà chạy đến xin tá túc ở xứ Lai Ổn. Cha Cận cho phép bà đến họ Đồng Bằng và thầy già Tốn thu xếp cho bà ở với bà Thoa tại nhà phòng giáo họ. Bà rất giàu có.

Cùng xây dựng ngôi nhà chung 

 

Trong những ngày đầu định cư trên vùng đất mới, mặc dù người dân còn phải lo cuộc sống và làm nhà ở cho gia đình, nhưng tất cả đều rất nhiệt thành tham gia vào công trình xây dựng nhà thờ của giáo xứ.
(Xây nhà thờ, Nguồn: Internet)

Công việc được phân chia cho các giáo họ tuỳ theo số giáo dân nhiều hay ít. Các thanh niên khoẻ mạnh rủ nhau vào rừng, xuống những khe đồi, khe suối sâu, rậm rạp, tìm cho ra những cây gỗ tốt và đủ kích cỡ. Việc đưa được một cột từ dưới khe lên mặt đồi thật là vất vả, sau đó mới hò nhau khiêng về. Ở nhà đã có sẵn toán thợ lành nghề, họ đẽo gọt, bào nhẵn nhụi từng cây rồi đục mộng, cắt mang. Những người kém sức khoẻ hơn thì ở nhà tham gia công việc nhẹ.

Ngày cất nhà thờ như một ngày hội, các thanh niên, thanh nữ khoẻ mạnh đều đến tham gia, nét mặt cha con ai nấy hết sức vui mừng. Theo lệnh của thợ cả, từng vì đã được cất lên trong tiếng reo hò, chẳng mấy chốc các vì đã sừng sững, đứng hiên ngang giữa bầu trời trong sáng. Nhà thờ có chiều dài 45 mét, chiều ngang 10 mét với 4 hàng cột, hai hàng cột cái, hai hàng cột quân được chống kỹ lưỡng.

Ngày lợp tôn chỉ có các thợ lành nghề ở trên, còn số người khác thì ở phía dưới. Từng tấm tôn fibrô cement nặng nề được kéo lên bằng dây thừng, lợp xong tấm này rồi đến tấm khác. Khi đã lợp được 2/3 mái, cha xứ đi ra từ nhà xứ tiến vào trong nhà thờ, nhìn lên mái nhà rồi gật đầu mấy lần, ngài khích lệ những người thợ. Đột nhiên những tiếng răng rắc, rồi một tiếng rầm thật lớn. Cha xứ không rõ chuyện gì liền chạy vội ra, không thấy nhà thờ đâu nữa, mà chỉ thấy bụi mù cuồn cuộn bốc lên. Cha xứ chạy đến nơi, các giáo dân ở chung quanh gần đấy cũng vừa la hét vừa chạy ra. Những người tại hiện trường đều xanh máu mặt, nhất là những ông thợ ở trên nóc nhà bay xuống. Cha cho kiểm tra lại kĩ lưỡng xem có ai thương vong không? Rất may, chỉ có hai người bị thương nhẹ. Thế là bao nhiêu công sức của cả cha lẫn con đều tan thành mây khói, tôn bị vỡ, kèo cột thì vỡ mang, gẫy mộng không còn dùng được nữa. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng. Đến năm 1955, nhà thờ cũng tạm ổn định. Dù chưa kịp cán nền, mọi người vẫn cố gắng hối thúc nhau để kịp ngày Đức Giám Mục ghé lại để làm phép nhà thờ mới.

Cuối năm 1955, khi mùa mưa vừa chấm dứt, những con nắng hanh và lốc xoáy bắt đầu xuất hiện. Một cuộc hoả hoạn đã xảy đến với giáo khu Tràng Quan. Theo các cụ thì đây là một cuộc hoả hoạn lớn chưa từng thấy. Khi lửa đã bắt đầu vào được vách lá, những tàu lá buông vừa cháy vừa bay lên trời cao theo chiều gió như những cánh diều lửa, vì thế lửa lan đi rất nhanh. Nó thiêu rụi toàn bộ nhà cửa của giáo khu Tràng Quan và một phần của giáo xứ Văn Côi. Ngay sau cuộc hoả hoạn, để tránh sự phẫn nộ của một số người, Hiến Binh đã đến dẫn đi người chủ căn nhà là ông Đa Minh Nguyễn Văn Tung. Chính phủ và hai cha cũng đã bắt tay ngay vào việc trợ cấp lương thực, thực phẩm cho dân và giúp cho mỗi gia đình nạn nhân 200 đồng để ổn định lại cuộc sống.

Năm 1955 là một năm đầy gian nan vất vả. Tuy nhiên, vượt qua bao nhiêu gian khổ đó, người giáo dân giờ đây đã có nơi thờ phượng.

Mặc dù đời sống vật chất của người giáo dân trong xứ còn rất nhiêu khê, chưa được ổn định, nhưng đời sống đạo đức của họ thật tuyệt vời. Sớm tối trong thánh lễ hoặc các giờ kinh nguyện đều đầy ắp giáo dân. Thứ năm, thứ sáu, thứ bảy hàng tuần, các đoàn thể chia nhau làm giờ đền tạ, chầu Thánh Thể rất sốt sắng. Mặc dù, đa số các vị trong Hội Dòng Ba đã cao tuổi, nhưng họ không nghỉ trưa mà lại cùng nhau đến Thánh Đường để cầu nguyện.

Cha xứ đặc biệt quan tâm đến hùng tâm dũng chí. Ngài tiến cử ông quản Đaminh Đinh Tuận và bà quản Maria Đỗ Thị Huyền, để các vị trông coi và dạy giáo lý cho các em. Các em chuẩn bị xưng tội lần đầu và chịu phép thêm sức thì được quan tâm đặc biệt về giáo lý. Các em lớn hơn còn được hướng dẫn về các kĩ năng sinh hoạt đạo đức tập thể như: Nguyện ngắm, dâng hoa, dâng hạt…

Hội Bát Am đã được thành lập từ ngoài Bắc, cũng được duy trì và mở rộng, để phục vụ những ngày lễ trọng có tổ chức rước kiệu, hoặc đệm trong lúc tế lễ hoặc ngắm lễ. Bát âm còn được dùng trong nghi thức lễ tang.

Trên đường di cư, cha xứ đã mua được một bộ trống, sâm ban và một số kèn đồng, nên Ngài đã cho thành lập hội kèn. Cha tiến cử ông Phạm Kim Động làm trưởng ban và ông ký Ân người gốc Thuần Tuý ở giáo khu Tràng Quan làm nhạc trưởng, huấn luyện các hội viên.


Để nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, cha xứ thường xuyên kêu gọi mọi người hãy cầu nguyện và năng đến thăm hỏi những người đau ốm, tàn tật, các gia đình gặp hoạn nạn, giúp đỡ họ về tinh thần, vật chất nếu có thể được. Cha xứ là người đi tiên phong trong việc này. Có những ngày rất bận vì công việc, nhưng cha vẫn dành thời giờ để viếng thăm, phát thuốc, ban các phép Bí Tích, hoặc giúp đỡ tiền bạc cho những hoàn cảnh như trên.

Bằng những vật liệu tạm bợ, mái lợp bằng lá buông, vách bưng bằng lá buông hoặc tre đập dập, chẳng mấy kín đáo nhưng người dân đã làm được nhà để ở. Tuy nhiên, vì điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn, đôi khi hai ba gia đình mới làm được một căn, cuộc sống chen chúc khổ sở. Nguồn viện trợ thực phẩm cũng đã thưa dần, cây cối trong rừng cũng cạn kiệt, người dân không còn đi chặt đòn tay, chặt róc, hoặc lá buông về bán như trước được nữa.
(Di dời, Nguồn: Internet)

Dù người dân bày ra làm bánh hú, bánh dầy, bánh rán đội đi chợ Biên Hoà cách 10 cây số để bán, cũng chẳng mấy ai mua, vì người miền Nam không quen ăn loại bánh này. Bày ra đan lát rổ rá, nong nia cũng chẳng bán cho ai được mặc dù người miền Bắc thì ai cũng biết  làm việc đó khi tre đã có sẵn trong rừng. Thế nhưng điều lo ngại nhất vẫn là nạn thóc cao, gạo kém, năm nay đột nhiên giá gạo càng ngày càng cao, từ  ba ngàn nay lên tới chín ngàn mốt.

Bấy giờ, các linh mục vì lo cho cuộc sống của đoàn chiên nên rất khổ tâm. Các Ngài đã đi thị sát ở nhiều nơi xem ở đâu có ruộng cho giáo dân vốn dĩ là nông dân, để họ có thể tự túc lo lương thực cho mình để tránh được nạn đói có thể xảy ra, mà an tâm giữ đạo.

Cha cố Thụ thấy thương dân mà không còn cách nào khác, Ngài đã họp quý chức lại và tuyên bố: “Anh em có thể tự ý đi bất cứ đâu mà anh em sống được!” Người giáo dân xứ Lai Ổn xưa nay vẫn hằng kính trọng và thương mến các cha nên không nỡ bỏ cha xứ mà đi tứ tán. Các quí chức sau khi bàn thảo với nhau, đã trình lên với cha xứ về vùng Đồng Lách: “Chúng con thấy ở vùng Đồng Lách, nơi chúng con vẫn vào chặt tre và lá buông về bán, ở đấy có rất nhiều ruộng bỏ hoang, cha có thể xem xét rồi đưa chúng con vào đó, nó gần hơn”.

Cha xứ đã đích thân theo chân các chức sắc, len lỏi qua những lối mòn trong rừng rậm, vượt đồi, lội suối. Đi qua khu vực đá xay, phái đoàn đặt chân đến một ngọn đồi thấp, cỏ cây chằng chịt, cây lớn còn rất ít. Phái đoàn tiếp tục tiến sâu hơn về phía Đông Bắc, đến mé đồi, cha xứ tỏ ra hài lòng khi nhìn thấy một cánh đồng cỏ bát ngát, phía xa xa thấp thoáng những bóng người, có vài cột khói bốc lên.

Ngày hôm sau, cha cho họp toàn thể quí chức trong xứ. Sau đó thông báo cho giáo dân ở nhà thờ: “Trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống hiện nay, cha quyết định sẽ rời giáo xứ vào Đồng Lách, gia đình nào đi thì ghi danh với các ông trùm họ để được chia đất ở và ruộng”. Đại đa số các gia đình giáo khu Lai Ổn và mấy gia đình ở giáo khu Tràng Quan xin đăng ký.

Cha và các chức sắc lại vào Đồng Lách, vẽ sơ đồ định cư cho dân, tìm hướng để ủi đường vào. Theo thứ tự các họ và con số giáo dân, ban định cư khoanh vùng rồi trao lại cho các ban trùm giáo họ chia cho các gia đình. Vì diện tích mặt bằng hạn hẹp, số giáo dân lại đông, nên mỗi nhân danh chỉ được cấp ba mét đất thổ cư theo mặt đường, khu vực trung tâm dành để làm nhà thờ và nhà xứ.

Bước thứ hai là chia ruộng. Ban định cư đã gặp phải sự tranh chấp của một số giáo dân xứ Đông Hải do cha Tôma Lý Quang Phụng đưa vào định cư ở đây trước. Cha cố Thụ và ban định cư đã phải sang gặp cha Phụng và các chức sắc xứ Đông Hải để giải quyết. Trong tinh thần thương yêu đùm bọc giữa những người Công giáo cùng cảnh ngộ, giáo xứ Đông Hải đã đồng ý nhượng lại số ruộng họ đã nhận nhưng chưa phát cỏ và khu vực Lò Than, Suối Sao cho người Lai Ổn. Tuy vậy, số ruộng so với số nhân khẩu còn quá ít, nên mỗi nhân danh chỉ được cấp cho 72m2  ruộng, phần còn lại 3.600m2 ở chân đồi cuối làng dành cho nhà xứ làm của chung. Ban ngày, các gia đình phải chia đôi, người ở nhà lo kiếm lương thực cho gia đình, người thì vào Đồng Lách làm chòi ở tạm để vỡ ruộng.

Đồng Lách xưa kia là một ấp thuộc xã Bình Trước, tổng Phước Vĩnh Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hoà. Năm 1943-1946, “vì quân Pháp truy lùng Việt Minh ráo riết nên phần lớn những người có máu mặt bỏ ấp lên thành, số còn lại canh tác ở phía ngoài, còn bao nhiêu bỏ hoang. Năm 1951, vùng này bị hạn hán nặng. Năm Nhâm Thìn 1952, các vùng trũng dọc theo sông Đồng Nai bị trận lũ lụt rất lớn tàn phá, kéo dài suốt từ giữa tháng Chín sang đầu tháng Mười. Mực nước ở các vùng trũng như Đồng Lách rất cao, vì thế, đồng ruộng bị mất trắng, các đàn gia súc, gia cầm cũng tiêu tan theo. Người dân Đồng Lách lúc bấy giờ sống rải rác trên cánh đồng ruộng do cha ông họ khai phá. Họ đã phải vội vàng bỏ của chạy lên đồi 50 (đồi cao Hố Nai ) vì nước lũ băng rừng kéo đến quá nhanh. Sau trận lũ, người dân đã bỏ ấp đi các nơi khác lập nghiệp. Một lần nữa ruộng đất ở vùng Đồng Lách đều bị bỏ hoang.
Đồng Lách hoang sơ giữa chốn này
Chim muông cầm thú với cỏ cây
Đồng ruộng bao la không người cấy
Nước non khô cạn sống sao đây?
Về vị trí địa lý, Đồng Lách nằm cách cây số 10 Quốc lộ 1 về hướng Đông Đông Bắc khoảng 3 km. Từ chân đồi 50 (Hố Nai) trở vào là những ngọn đồi thấp nằm nối tiếp nhau. Các loại gỗ quí đã bị khai thác, chỉ còn lại những cây gỗ tạp thưa thớt. Cây non, cây chồi thì rất dày, xen lẫn với các loại cỏ dây, cỏ cây nên rất rậm rạp. Vùng này vào thuở xa xưa không biết có bị ngập nước hay không? Nhưng trên mặt đất thì toàn đá cuội đủ màu, cuội trắng, cuội đen, cuội nâu, và các loại đá bọc có ruột màu xanh rất cứng. Đặc biệt là có rất nhiều những con sò, ốc, hến và rùa hoá thạch. Đào bới lên người ta còn phát giác cây gỗ hoá thạch. Tầng dưới nhiều chỗ cách mặt đất từ 20 đến 50 phân trở xuống thì toàn đá xanh còn non, khi đào thì rất cứng, nhưng khi vứt lên mặt đất, sau một tháng trở đi thì vỡ vụn ra. Chính vì thế mà nguồn nước mạch ở đây có men bột đá không uống được. Về mùa mưa nguồn nước ở đây rất dồi dào, nhưng về mùa nắng thì chỉ có một con suối cái, và khu vực Suối Sao là có nước mà thôi. Ngoài đồng ruộng, vì bị bỏ hoang lâu năm nên cỏ mọc cao và rất rậm. Trong những khu rừng ở sát chân đồi cao và khu Suối Sao thì có đủ mọi loại thú rừng như: nai, mển, chồn, sóc, hươu, khỉ, heo, thỏ, nhím và rất nhiều các loại chim chóc.

Năm 1955 đến 1957, dân di cư từ miền Bắc vào, đã biến Đồng Lách thành 5 ấp:
- Ấp Trung Đồng và ấp Sài Quất do cha Sabastianô Nguyễn Duy Nhật đưa đến.
- Ấp Thanh Bình do cha Giuse Nguyễn Văn Ngự thành lập, bao gồm cả người dân tộc Nùng.
- Ấp Đông Hải được thành lập do cha Tôma Lý Quang Phụng, bao gồm dân của các xứ: Hoàng Độc, Mai Trung, Kẻ Sặt, Đồng Xá, Bắc Ninh… Họ ở dọc theo con Suối Cái.
- Đến sau cùng là giáo dân giáo xứ Lai Ổn, được cha Đaminh Đỗ Đức Thụ đưa vào và thành lập ấp Lộ Đức II.
Chúa ban mưa xuống nước dư đầy
Cha con vui sướng tiến vào đây
Khai hoang lập ấp từ thuở ấy
Cuộc sống phơi trên những luống cày.
Những ngày trước và sau tết Đinh Dậu (1957), cha xứ kêu gọi giáo dân vào Đồng Lách tham gia công việc phá tre, cắt cây đổ nền nhà thờ. Quí chức cũng như giáo dân hàng ngày thay phiên nhau vào thu dọn, đào đất ở hai bên hông rồi vận chuyển vào khu vực giữa quả đồi. Chẳng bao lâu, một cái nền nhà thờ dài 45 mét, rộng 12 mét, cao 1 mét được hoàn thành.

Ngoài ra các đoạn đường băng qua các khe đồi bị ngập nước cũng được đóng kè, làm cống và đổ đất cao ráo để xe cộ vận chuyển có thể qua lại dễ dàng.

Tháng 4 năm 1957, sau khi con đường nối từ nhà thờ ra ngã ba đã hoàn tất, cha Đaminh Đỗ Đức Thụ kêu gọi các gia đình thu dọn đồ đạc vào định cư Vĩnh Viễn tại Đồng Lách, vì thời vụ gieo trồng đã tới. Cha cũng thông báo, trước đây ai đã gửi tiền bạc ở nơi cha thì hãy lên gặp cha để lấy về. Các chức sắc và giáo dân cắt cử nhau, chia làm hai tốp: một tốp dỡ nhà thờ ở ngoài Hố Nai, chở vào Đồng Lách; tốp thứ hai ở trong Đồng Lách, khi xe chở vào tới đâu, thì ráp nối và dựng lên tới đó. Chẳng bao lâu, một ngôi Thánh Đường rộng rãi, thoáng mát, lợp tôn fibrô cement, vách bưng bằng tôn lá, sừng sững đứng giữa ngọn đồi đầy hoa thơm, cỏ lạ.

Saigon - Chợ Lớn: thế kỷ 17 đến thế kỷ 19



Đồng nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông cá lội, trên giồng cọp um

Tư liệu quan trọng và hầu như duy nhất về vùng đất Saigon-Gia Định thuở ban đầu nói riêng và miền Nam nói chung là quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825). Trịnh Hoài Đức có lúc cũng là quan tổng trấn Gia Định thành (1816-1819).
Ngoài ra ta có các tư liệu và sách của các doanh nhân, nhà ngoại giao, giáo sĩ, y sĩ Tây phương; như R. Purefoy, John White, George Finlayson và John Crawfurd; viết về Saigon - Gia Định khi họ viếng thăm nơi này trong khoảng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19.
Tư liệu chính về Saigon trong các thập niên đầu thế kỷ 19 trước khi người Pháp đến lập thuộc địa (1859) và phát triển Saigon làm trung tâm Nam kỳ là các tác phẩm của Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) viết giữa thế kỷ 19. Petrus Trương Vĩnh Ký là người của thời đó nên ông đã ghi lại các sự kiện, phong cảnh và sinh hoạt đời sống trong các thập niên trước thời kỳ Pháp thuộc. Các quan sát của ông rất có giá trị về lịch sử phát triển thành phố Saigon. Ngoài ra các dữ kiện trước thời ông không xa lắm vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 cũng được ông ghi lại bổ sung cho những tư liệu trong chính sử và các nguồn của các tác giả nước ngoài ghi lại khi viếng Saigon và Nam bộ.
Có thể nói Trịnh Hoài Đức, R. Purefoy, George Finlayson, John White và Petrus Trương Vĩnh Ký đã phác họa cho ta thấy một chân dung mặc dầu không toàn diện chi tiết lắm nhưng đủ để ta hình dung lại hình ảnh về vùng đất Gia Định trong thời kỳ đầu trước khi người Pháp đến.
Bài viết này có mục đích phác họa sự phát triển thành phố Saigon về phương diện lịch sử văn hóa và con người vào thế kỷ 17 đến nửa đầu thế kỷ 19. Ngoài những tư liệu đã được biết như của Trịnh Hoài Đức, John Barrow, John White, John Crawfurd và George Finlayson, nguồn tư liệu mới của một thương gia người Anh tên R. Purefoy sẽ được dùng để bổ túc thêm về thông tin liên quan đến đời sống và con người Saigon ở đầu thế kỷ 19. Đặc biệt tư liệu của thuyền trưởng John White và bác sĩ người Tô Cách Lan George Finlayson sẽ được để ý và phân tách chi tiết hơn cho thấy đặc tính và hành xử của người Saigon đủ mọi giai cấp, nhất là tả quân Lê Văn Duyệt. Chính Charles Darwin, nhà khoa học đề xuất ra thuyết tiến hóa nổi tiếng, đã đọc và dùng tư liệu của Georges Finlayson quan sát về hình dạng và đặc tính của người Saigon để làm một trong nhiều dữ liệu chứng minh về nguồn gốc con người trong sách “The Descent of Man” của ông.

1. Saigon theo Trịnh Hoài Đức


Theo biên niên sử Khmer, mà Maspéro và Moura đã dịch (18) thì vua Cao Miên Chey Chetta II sau khi lên ngôi và cưới một người con gái của chúa Nguyễn Phước Nguyên năm 1618 có khuynh hướng dùng hậu thuẫn của chúa Nguyễn để đương đầu với Xiêm (Thái Lan). Năm 1623, chúa Nguyễn xin phép vua Chey Chetta II mượn xứ Prei Nokor và Kras Krobey (Saigon và Bến Nghé) để mở trạm thuế thương chính và được phép gởi quan đến quản lý thương mại, hành chánh và thu thuế. Điều này chứng tỏ trước đó, ít nhất ở đầu thế kỷ 17, đã có lưu dân người Việt đến định cư trong khu vực gần Saigon, chủ yếu là vùng Mô Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai phía gần biển mà Trịnh Hoài Đức đã ghi như sau (1):
Lúc ấy địa đầu của Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai (nay là trấn Biên Hòa) đã có lưu dân của nước ta đến cùng với dân Cao Miên khai khẩn ruộng đất. Người Cao Miên rất khâm phục uy đức của triều đình, họ đem nhượng đất ấy rồi kéo nhau tránh đi nơi khác, chẳng dám tranh chấp điều gì.
Trạm thu thuế này, kho Quản Thảo, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu (18) là ở vị trí khu đất chợ Cầu Kho (Quận 1, ngày nay), sát sông Saigon cũ (sông An Thông hay rạch Bến Nghé ngày nay) và cạnh rạch Cầu Kho (rạch bắt đầu từ đầu đường Lê Lai chảy dọc đường Nguyễn Trãi ngày nay rồi đổ ra rạch Bến Nghé).
Gia Định thành thông chí có nói:
Tháng 9 mùa thu năm thứ 11 Mậu Tuất (1658) thời Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế (Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần) vua Cao Miên là Nặc Ong Chăn xâm phạm biên giới. Khâm mệnh dinh Trấn Biên (thời mới khai thác thì những chỗ đầu biên giới gọi là Trấn Biên, ở đây tức Phú Yên ngày nay), Phó tướng quân Yến Vũ hầu, Tham mưu Minh Lộc hầu, Tiên phong Cai đội Xuân Thắng hầu đem 3 ngàn quân đi trong 2 tuần đến thành Mô Xoài của nước Cao Miên, phá thành và bắt vua Nặc Ong Chăn giải về Quảng Bình là nơi hành tại. Vua ra dụ xá tội cho, rồi phong làm Cao Miên quốc vương, luôn phải giữ đạo phiên thần, thường xuyên phải triều cống, không được xâm lấn cư dân ở ngoài biên, rồi sai quan binh hộ tống cho về nước.
Sử Việt Nam lần đầu tiên nói đến Saigon là vào năm 1674 khi Nặc Ông Đài (Neac Ang Chei theo biên niên sử Khmer) đuổi vua Nặc Ông Nộn (Neac Ang Non), tiến xuống chiếm lũy Saigon. Nộn cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn (Thái Tông) sai Nguyễn Dương Lâm và Nguyễn Diên Phái đem binh đánh, phá vỡ 3 lũy Saigon, Gò Bích và Nam Vang. Đài thua và tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ông Thu làm Cao Miên quốc vương ngự trị ở thành Vũng Long (Oudong), còn Nặc Ông Nộn làm phó vương ngự trị ở Saigon (18). Nặc Ông Nộn đóng đô ở Saigon 15 năm (1674 -1688) đã nhiều lần chiêu mộ lính (chắc là chủ yếu lưu dân Việt, người Minh hương và Chăm) để đánh Nặc Ông Thu ở Cao Miên (Thu dựa vào Xiêm La). Chúa Nguyễn cũng lập đồn dinh Tân Mỹ gần đó năm 1679, coi như một thứ chính quyền bán chính thức ở vùng Saigon để hỗ trợ nặc Ông Nộn và bảo vệ lưu dân.
Cũng theo Nguyễn Đình Đầu thì doanh trại và dinh thự của phó vương Nặc Ông Nộn có lẽ là ở vùng từ chùa Cây Mai tới trường đua Phú Thọ trên một dải đất gò cao ráo. Thuyết này có nhiều cơ sở vì vùng quanh chùa Cây Mai, Phú Lâm, trường đua Phú Thọ (và xa hơn nữa đi về phía Bà Hom, An Sơn, Đức Hòa, tỉnh Long An) là những nơi có nhiều di tích khảo cổ, di tích văn hóa định cư của người Khmer được tìm thấy nhiều hơn những nơi khác ở gần sông Saigon như vùng Tân Kiểng, thành Ô ma. Và người Khmer theo phong tục tôn giáo của họ thì vua chúa đều xây đền thờ, chùa trên gò cao (như gò Cây Mai) chung quanh là ao hồ, tượng trưng cho núi Meru nơi các thần linh ngự trị giữa đại dương. Vì thế nơi phó vương trú đóng là phải ở gần gò Cây Mai. Riêng khu trường đua Phú Thọ, nhà khảo cổ Pháp Malleret cho biết từ các không ảnh chụp trong thập niên 1930 có thể thấy các đường chạy cắt nhau như bàn cờ. Đấy có thể là vết tích của một khu định cư cổ xưa còn nhận dạng được. Cũng theo Malleret thì có thể cung điện này mà người Việt gọi là “Tây cung” (cung điện phía tây) gần Chợ Lớn để phân biệt với thành Saigon ở Bến Nghé phía đông, và từ “Tây Cung” sau này để chỉ Chợ Lớn mà người Hoa gọi là “Xigong” phát âm gần với từ Saigon.
Trịnh Hoài Đức nói về vùng đất Saigon trong giai đoạn này:
Gia Định (tức đất Sài Gòn) nguyên xưa có nhiều ao chằm rừng rú, thuở vua Thái Tông (Nguyễn Phước Tần, 1648-1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng rộng rãi, tức là chỗ chợ Điều Khiển ngày nay, xây cất đồn dinh làm chỗ cho quan Tổng tham mưu cư trú, lại đặt dinh Tân Thuận, tức nay là Lân Tân Thuận, có cất nhà thự cho các quan Giám quân, Cai bộ và Ký lục ở, lại có quân trại hộ vệ, ngăn ra từng khu rào, ngoài ra thì cho dân trưng chiếm chia lập làng xóm phố chợ” (1).
Lân Tân Thuận ở khoảng xóm chợ Đũi trên đường Nguyễn Trãi ngày nay. Chợ Điều Khiển ở vị trí ngã ba đường Nguyễn Trãi và Nam Quốc Cang ngày nay và đồn Tân Mỹ ở vùng sau này là thành Ô Ma mà Pháp thiết lập (18).
Trịnh Hoài Đức cũng có tả về một thắng cảnh khác ở vùng Saigon: Mai khâu (Gò Cây Mai):
Ở về phía nam cách trấn thành 13 dặm rưỡi, gò đất nổi cao, có nhiều cây nam mai thân cỗi nghiêng ngang, nhưng khi trổ hoa nở không bung xòe trắng tinh rạng rỡ, cánh hoa vẫn còn úp túm giữ mùi thơm. Thứ hoa này vốn bẩm linh khí mà sinh ra, không thể dời trồng ở nơi khác được. Trên có chùa Ân Tông, đêm tụng kinh, chiều giộng chuông, âm thanh tản mạn trong mây khói, giống như đang ở giữa thế giới núi Linh Thứu của Phật. Lại có suối trong chảy quanh chân núi, các du nữ chiều mát quẫy mạnh mái chèo đi hái sen; gặp khi trời đẹp, văn nhân thi sĩ mang bầu rượu leo từng bậc cấp lên đây ngâm vịnh dưới gốc hoa ở đầu gò, câu chữ nồng nàn, thật là một thắng cảnh cho người du lãm.
Nơi đây, ngày xưa là chỗ chùa tháp đất Phật của nước Cao Miên, nền móng xưa còn thấy rõ. Năm Bính Tý (1816) niên hiệu Gia Long thứ 15, có nhà sư sửa sang lại chùa và đã đào lấy được nhiều gạch lớn, ngói xưa, và cả 2 miếng vàng lá hình vuông, mỗi bề hơn 3 phân, mỗi miếng nặng 3 đồng cân, trên mặt chạm hình cổ Phật kỵ tượng (Phật cưỡi voi), có thể đây là cái vật của Hồ tăng dùng để trấn tháp đó chăng ?” (1)
Chùa trên gò Cây Mai, Mai khâu tự hay Mai Sơn tự, còn được gọi là chùa Cây Mai. Gò cây Mai là nơi mà nhiều văn nhân như Trịnh Hoài Đức trong nhóm “Bình Dương thi xã” ở cuối thế kỷ 18 và sau này nhóm “Bạch Mai thi xã” của Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, Hồ Huấn Nghiệp, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa…đến thưởng ngoạn. Khi Pháp đến Saigon, họ chiếm chùa làm đồn để làm phòng tuyến tấn công đồn Kì Hòa. Ngày nay là trại quân đội ở đường Hồng Bàng, vết tích chùa không còn, chỉ còn một gốc cây mai trong trại. Chùa Cây Mai khác với chùa gần đó gọi là chùa Gò. Địa điểm chùa Gò ngày nay là Phụng Sơn Tự, trên đường 3 tháng 2, Quận 10. Theo Charles Lemire (24) vào năm 1869 (chỉ vài năm sau khi Pháp chiếm Saigon), lúc ông đến gò Cây Mai trong chuyến viếng thăm Saigon-Chợ Lớn thì từ trên gò Cây Mai, có thể nhìn thấy các ruộng lúa trải dài dọc theo rạch Tàu Hủ, cánh đồng mã, chiến tuyến đồn Kì Hòa, cách đồng và rừng Gò Vấp, cho đến tận núi ở Tây Ninh, với khoảng cách ba mươi dặm. Ông tả cảnh ở gò Cây Mai như sau:
Khoảng 15 phút từ Cholen (Chợ Lớn), trên đường đi Mitho (Mỹ Tho), là đồn Cây Mai. Một lối đi, hai bên trồng cây keo (acacia), dẫn chúng tôi đến chân một ngọn núi nhân tạo, trong một cảnh quan tuyệt diệu; một ngọn suối nhỏ chảy róc rách đến chân một bậc thang làm bằng đá; ba cửa vòng cung, một còn nguyên vẹn, tạo thành cổng vào đồn, trong đồn người ta thấy trên đỉnh gò là một chùa tám cạnh có tháp chuông; bên cạnh đó là cây cọ (palmier à sucre) và đặc biệt là Cay-mai, một loại cây họ mận (prunier rhéédia), có hoa thơm, mà ngày xưa không ai được sờ đụng nếu không phải bị tội tử hình. Những hoa này được tiến cung dâng vua, và được dùng để ướp trà cho vua.
Những vị sư ở đây giữ chùa và cây mai này. Nơi đây là điểm hành hương của nhiều tín đồ. Một viên quan bậc lớn người An Nam, vị tổng trấn Saigon và tác giả Gia-dinh thong chi, đã tả cho chúng ta một cảnh rất ý nhị. Đây là một đại diện tiêu biểu của thơ người An Nam…
Cũng theo Lemire thì người Việt cho đến đầu thế kỷ 19 vẫn còn gọi thành phố Cholen (Chợ Lớn) là Saigon và vùng đa số cư dân người Việt ở cạnh sông Saigon (Tân Bình) lúc đó là Bến Nghé hay Bến Thành (tức bến cạnh thành Phiên An). Nhưng người Pháp đã nhầm lẫn gọi cả khu vực là Saigon, mà chủ yếu tập trung vào khu trung tâm gần thành (citadelle).
Theo Petrus Trương Vĩnh Ký (3), trước 1680, Saigon chỉ là một làng Khmer nhỏ. Năm 1680, Saigon là địa điểm của vua thứ hai Khmer, vị vua chính ở Gò Bích (bên Cambodge). Đây cũng là thời gian mà hai tướng nhà Minh dẫn 3000 quân, cùng gia đình của họ trên 60 thuyền đi từ Nam Trung quốc vào lập nghiệp sau khi được chúa Nguyễn cho phép. Trong hai vị tướng chỉ huy, một vị tướng là Trần Thượng Xuyên dẫn một đoàn đến Cù Lao phố (Biên Hòa) và một là Dương Ngạn Địch đi xuống Mỹ Tho lập nghiệp.
Vài năm sau, vị vua Khmer ở Saigon, vì nằm ở giữa 2 đạo quân nhà Minh cảm thấy bị đe dọa nên đã báo chúa Nguyễn là các quân nhà Minh có ý làm phản (sau khi phó tướng của Dương Ngạn Địch là Hoàng Tấn giết Ngạn Địch và mưu đồ cát cứ làm phản). Chúa Nguyễn gởi tướng Mai Vạn Long vào đánh thắng quân Hoàng Tấn ở Mỹ Tho. Sau đó cùng với Trần Thượng Xuyên ở Cù Lao Phố và Nặc Ông Nôn tiến lên Gò Bích (Oudong) đánh vua Nặc Ông Thu (1688). Trong cuộc hành quân này, Nặc Ông Nộn chết. Con Nặc Ông Nộn là Nặc Ông Yêm lên thay làm phó vương ở Saigon. Năm 1697, Nặc Ông Nêm về Oudong vì được nặc Ông Thu gả con gái và hy vọng sẽ lên thay Ông Thu làm vua Cao Miên sau khi Ông Thu mất. Từ năm đó, chức phó vương ở Saigon không còn nữa.
Năm sau (1698), chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, chính thức hóa cai trị vùng đất mới mà trên thực tế phó vương Cao Miên chỉ đứng tên, quyền hành và hành chánh thực sự nằm trong tay chúa Nguyễn. Gia Định thành thông chí viết như sau:
Mùa xuân năm thứ 8, Mậu Dần (1698) thời Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế (chúa Nguyễn Phúc Chu), triều đình sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu họ Nguyễn (Hữu Cảnh) sang kinh lược đất Cao Miên, ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh lập ra chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai trị. Về vệ thuộc thì có hai ty Xá, Lại để làm việc, quân binh thì có tinh binh cơ đội thuyền thủy bộ và thuộc binh để hộ vệ. Ngàn dặm đất đai, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chính đến lập nghiệp, lập ra thôn xã phường ấp, phân định địa giới, ruộng đất, lập ra tô thuế, xây dựng đinh điền bạ tịch. Con cháu người Hoa nếu ở Trấn Biên được quy lập thành xã Thanh Hà, còn ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương rồi cho phép vào hộ tịch.
Mùa thu năm thứ 9, Kỷ Mão (1699), triều đình tra xét bắt đạo Hoa Lang, phàm nhân dân ta ai có đạo thì phải bỏ để trở lại làm dân bình thường, lấy nhà tu làm nhà ở, lại còn đốt sách vở của đạo ấy, còn người phương Tây thì buộc họ phải về nước.
Tháng 8 mùa thu năm thứ 18, Mậu Tý (1708), triều đình phong cho người Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông là Mạc Cửu làm Thống binh Hà Tiên.”
(…)
Tháng 6 mùa hạ năm thứ 17, Giáp Tuất (1754), chia quân Gia Định ra làm hai đạo, Nghi Biểu hầu đem kỳ binh từ sông Bát Đông tiến phát, quân đến đâu địch thua đến đó, rồi đến Tần Lê Bắc ra sông lớn hội cùng chính binh Tiền Giang của Thiện Chính hầu ở đồn Lò Yêm. Bốn phủ Xoài Lạp (Soi Rạp), Tầm Đôn, Cầu Nôm và Nam Vang của Cao Miên đều hàng. Tiếp đó liền sai thuộc tướng Cai đội Chấn Long hầu đến phủ Tầm Phong Tiêm chiêu dụ người Côn Man Thuận Thành để gây thanh thế. Lúc ấy quốc vương Cao Miên là Nặc Ong Nguyên chạy lánh sang phủ Tầm Phong Thu (nay là phủ La Vách) lại gặp trận lụt mùa thu quá lớn, quan quân phải trở về đồn nghỉ ngơi.
Mùa xuân năm thứ 18, Ất Hợi (1755), đại binh của Thiện Chính hầu đã về trước ở đồn Mỹ Tho, rồi lệnh cho người Côn Man Thuận Thành phải bỏ vùng Ca Khâm đem hết bộ lạc xe cộ xuống đồn trú ở Bình Thanh, tinh tráng hơn vạn người, khi đến đất Vô Tà Ân liền bị hơn một vạn binh của Cao Miên thừa cơ tập kích, quân Côn Man sức yếu thế cô, liền đem hết xe chất thành lũy và một lòng chống giữ, mặt khác cho quân đi cấp báo. Thiện Chính hầu vì ao đầm ngăn trở nhất thời khó bề cứu viện ngay được, chỉ Nghi Biểu hầu dẫn 5 đội tùy quân đến ứng cứu, quân Cao Miên nghe hơi đã phải rút lui. Nghi Biểu hầu đón hơn 5000 dân Côn Man cả nam lẫn nữ về trú dưới chân núi Bà Đinh (Đen) rồi hạch tấu Thiện Chánh hầu về tội làm hỏng quân cơ, rút quân thiếu kỷ luật, bỏ rơi người mới quy phụ, không cứu viện - để quân giặc bắt đi. Tấu được dâng lên, triều đình cho tra xét rồi giáng Thiện Chánh hầu xuống làm Cai đội, thu quyền Thống suất, ra lệnh cho Cai đội Du chính hầu Trương Phúc Du làm Thống suất, dùng người Côn Man dẫn đường để tiến đánh Cầu Nôm và Nam Vang và giết được một số Ốc nha. Vua nước ấy quá sợ nên phải chạy sang nương thân vào Đô đốc Tông Đức hầu Mạc Thiên Tứ ở trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ thay lời tâu rằng: Việc ấy do biên tướng Cao Miên là Chiêu trùy Ếch đàn áp người Côn Man, vua nước ấy xin chịu nhận tội.
Năm thứ 19, Bính Tý (1756). Quốc vương Cao Miên là Nặc Ông Nguyên xin hiến đất hai phủ Tầm Đôn và Xoài Lạp (Soi Rạp) để chuộc tội, đồng thời xin cống nạp lễ vật còn thiếu ba năm trước đó.
(Gia Định thành thông chí)
Người Côn Man Thuận Thành (Chiêm Thành) đây là chỉ người Chăm ở Bình Thuận và ở vùng đất thuộc Cao Miên trong xứ Gia Định-Đồng Nai. Như vậy vùng đất Saigon-Gia Định vào giữa thế kỷ 18 đã có người Chăm, lưu dân Việt, Hoa và người Khmer cư ngụ cùng với những người bản xứ, chủ nhân cũ của miền Saigon, Biên Hòa, Gia Định, Bà Rịa và Cần Giờ: người Mạ và người Stieng.
Trịnh Hoài Đức mô tả một thắng cảnh chùa Gíác Lâm gần thành Saigon như sau (1):
Ở trên gò Cẩm Sơn, cách lũy Bán Bích về phía tây 3 dặm, gò chùa nầy như đống vàng bỗng nổi lên giữa chỗ đồng bằng trải thẳng cả trăm dặm, giống như tựa bình phong, đội nón, mở trướng, trải thảm, rộng 3 dặm, cây to thành rừng, hoa núi dệt gấm, sớm chiều mây khói bốc lên quấn cuộn, tuy nhỏ nhưng lý thú. Mùa xuân năm Giáp Tý (1744) đời Thế Tông năm thứ 7, người xã Minh Hương là Lý Thụy Long quyên của xây dựng chùa trang nghiêm, cửa thiền u tịch, đến ngày Thanh minh, Trùng cửu nhàn hạ, thi nhân du khách kết đoàn 5, 3 người đến đây mở tiệc thưởng hoa, nâng chén quỳnh mà ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa đời thường, bụi bặm xa cách ra ngoài tầm mắt, thật là một nơi đáng du lịch và thưởng ngoạn. Gần đây có Viên Quang đại lão hòa thượng đời thứ 36 thuộc phái Lâm Tế chính tông, mật hạnh kiên trì, trải từ tuổi nhỏ cho đến khi già, kiên trì tu hành ngày càng tinh tấn, lại có tính yêu cảnh sương khói suối khe, ít khi để chân đến chốn thị thành huyên náo. Từ khi ông đến đây dừng trụ trong núi dứt phiền não, dưới rừng lộ chùa chiền. Năm Gia Long thứ 16 (1817) ông mở đại giới đàn, từ đó thiện nam tín nữ đến quy y rất đông, mà sơn môn lại thêm phần khởi sắc.
Và chợ Tân Kiển (hay chợ Quán):
Cách trấn về phía nam hơn 6 dặm, phố chợ rất đông đúc, thường năm đến ngày Nguyên đán có tổ chức chơi đu tiên vân xa, đáng gọi là một chợ lớn. Từ trước, đến cuối năm thường có chém tù ở đây. Cách sông ở bờ phía đông, ngày trước có người Cao Miên là Nặc Đích theo Nặc Tha đến, cắm dùi sống luôn ở đấy, y bèn làm cầu ngang qua sông để thông đến chợ, gọi là cầu Nặc Đích, sau trải qua loạn lạc nên hư hỏng. Đầu phía tây đường lớn có đồn bắt trộm cướp đóng giữ.
Ngày 25 tháng giêng năm Canh Dần (1770) đời Duệ Tông (Định vương Nguyễn Phúc Thuần), sau khi bình định, có con hổ dữ vào nhà dân ở phía nam chợ, nó gầm rống rất dữ, dân quanh vùng đều hoảng sợ, họ báo với đồn dinh để phái quân vây bắt. Sau phải triệt hạ phòng ốc, làm nhiều lớp hàng rào bao quanh, nhưng con hổ rất dữ, không ai dám đối đầu. Qua ngày thứ 3, có thầy tu đi vân du là Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng xin vào đánh cọp. Hồng Ân cùng hổ quần thảo một hồi, hổ bị côn đánh rát quá, nhảy núp vào lùm tre, Hồng Ân đuổi nà theo, hổ bị dồn ngặt nên cự trở lại với Hồng Ân. Hồng Ân lui chân té xuống mương nhỏ, bị hổ tát thọ thương. Trí Năng tiếp viện đánh trúng đầu, hổ chết dưới làn côn, nhưng Hồng Ân bị thương nặng nên cũng mất liền khi ấy. Người ở chợ cảm nghĩa đem xác Hồng Ân chôn tại chỗ đấy rồi xây tháp, nay vẫn còn.”
Về văn hóa, trong giai đoạn này cũng bắt đầu phát triển và có những đặc thù riêng biệt phản ảnh tinh thần ở vùng đất mới. Gia định thành thông chí viết về người Saigon như sau: "Gia định ở về địa vị Dương Minh, nhiều người trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dầu là hàng phụ nữ cũng thế". Văn học có Nguyễn Đình Chiểu làm truyện “Lục Vân Tiên” ở Saigon nói lên đạo đức nghĩa tiết của con người lục tỉnh. Sách dạy chữ nho đặc biệt "Minh tâm bửu giám", không có trong chương trình thi cử, được soạn ra và trở thành cuốn sách gối đầu giường của miền Lục tỉnh. Sách hướng về ứng dụng thực tế tập hợp những trích đoạn của những sách Nho, Lão, Phật gồm những câu nói đạo đức, triết lý nhân sinh nhằm rèn luyện bồi dưỡng đức hạnh hướng dẫn việc ứng sữ hàng ngày (19). Sách phản ảnh triết lý bao dung và tinh thần phóng khoáng thực tế của con người đất Saigon-Gia Định.
Trường học nổi tiếng đất Saigon - Gia Định vào thế kỷ 18 là trường của nhà giáo Võ Trường Toản ở Hòa Hưng. Học trò của ông có nhiều người được ghi danh trong văn học như Trịnh Hoài Đức, ông nghè Chiêu, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định. Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh còn lập ra "Bình Dương thi xã", các hội viên thi xã thường gặp nhau ở khu vực chùa Cây Mai và xã Minh hương vùng đất Saigon làm thơ phú lấy hứng thú từ cảnh vật chung quanh lúc đó vẫn còn thiên nhiên hoang dại với cây nước, ao hồ, gò cao và chim thú...
Bài vịnh Cổ Gia Định bằng chữ Nôm (có lẽ là của Ngô Nhân Tĩnh) nói về cảng Saigon, nơi tàu các nước đến, như sau (19)
"Thuyền bắc nam lui tới
Ghe đen mũi, ghe vàng mũi, ra vào coi lòa nước
Người đông tây qua lại,
Tàu xanh mang, tàu đỏ mang, hàng hóa chất ngất trời
"
Có mặt người Việt, Hoa, người Âu, và cả người Phi châu hay Ấn độ da đen nữa:
"Lũ Tây dương da trắng bạc
Mồm giớn giác, miệng xếch xác, hình vóc khác
Quân Ô rồ mặt đen thui
Thể lọ nồi, đầu quấn rít, miệng trớt môi,
In thiên bồng, thiên tướng, thiên lôi
"
Sau cuộc khởi nghĩa Tây Sơn năm 1772 ở Bình Định, chúa Nguyễn Ánh cùng thân quyến chạy vào Gia Định - Đồng Nai - Saigon lánh nạn vào năm 1774. Chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn trở nên gay gắt và Nguyễn Ánh phải nhiều lần bỏ đất Saigon bôn ba ra các đảo và sang Xiêm La. Năm 1789, sau khi chiếm lại Saigon, Gia Long cho xây thành bát quái với sự trợ giúp của một viên sĩ quan hải quân người Pháp, Victor Olivier de Puymaniel, thiết kế thành theo kiểu Vauban ở Âu châu. Đá ong xây thành được lấy từ Biên Hòa (2). Về phía đông bắc Saigon (Biên Hòa) và bắc Saigon (Thủ dầu một, Bình Dương, Tây Ninh) lúc này là đất của người Mạ và người Stieng. Họ vẫn còn cư ngụ rất đông mà người Việt và sau này người Pháp gọi họ là “mọi”. Ở Saigon cũng có một đường người Pháp gọi là “rue des Moïs” (đường người Mọi, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu).
Trong năm 1823, theo John Crawfurd khi ông đến Saigon thì hôm 31/10/1823, sau khi được hội kiến với tổng trấn Gia Định trước khi tổng trấn ra Huế trình với vua về việc đoàn sứ giả Anh do Crawfurd cầm đầu đến Saigon, một buổi trình diễn giải trí sau đó đã được tổ chức trong nguyên ngày với nhiều triển lãm và trình diễn. Trong số khán giả Crawfurd thấy có 8 người ít ăn mặc và diện mạo hoàn toàn khác với những người chung quanh. Vị tổng trấn cho họ mỗi người một bộ quần áo và nói cho Crawfurd biết là những người này mới chính là những thổ dân đích thực của miền Nam trước khi người Việt đến thống trị và dân số họ đông hơn người Việt (7).

2. Saigon và đàng trong theo quan sát của John Barrow (1792-1793)


Người nước ngoài đầu tiên đến và viết lại nhiều tư liệu giá trị về Saigon và đàng trong vào thế kỷ 18 là John Barrow. Năm 1792, thuyền trưởng người Anh John Barrow đi từ Anh, qua Ba Tây (Nam Mỹ), ghé Nam Phi, Java và cuối cùng đến vùng đất mà ông mô tả là Cochinchina thuộc Đàng Trong từ Saigon miền Nam đến Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế, ở Trung phần (12). Ông đến trong năm 1792-1793 vào lúc chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đang diễn ra kịch liệt. Saigon đang nằm trong tay Nguyễn Ánh, trong khi Huế và Đà Nẵng dưới sự ngự trị của vua Quang Toản.
Vì thế, như ông viết, không lạ gì mà khi từ Saigon ra Đà Nẵng năm 1793 đoàn tàu Anh của ông đã gây lo âu và nghi ngờ từ triều đình Tây Sơn “mà người bạn Bồ Đào Nha của chúng ta, Manuel Duomé, đã dùng để làm lợi thế cho ông ta và không bị cản trở đứt đoạn sự buôn bán độc quyền và rất lợi mà ông ta đã có từ nhiều năm qua với những người dân ở xứ này”.

hinh-1
Hình 1: Cảnh một kịch hát ở Đàng Trong (theo John Barrow, 1792)

Qua tư liệu hồi ký của một sĩ quan Pháp tên là Barissy phục vụ cho Nguyễn Ánh, John Barrow đã tóm tắt tình hình lịch sử từ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đến lúc Nguyễn Huệ lên ngôi và đánh bại quân Thanh ở Đông Kinh (Thăng Long) và sau đó Nguyễn Huệ được vua Càn Long nhà Thanh mời sang Bắc Kinh để được tấn phong vua ở Đàng ngoài. Trong khi đó Nguyễn Ánh được Bá Đa Lộc (évêque d’Adran) và các giáo sĩ (như 1 giáo sĩ tên Paul) và giáo dân giúp đỡ lánh nạn Tây Sơn ở miền Nam. Khi chạy vào Saigon thì lúc đó ở Saigon đã có một tàu thương mại do một người Pháp tên là Manuel chỉ huy, 7 thương thuyền Bồ Đào Nha và một số ghe buồm đang trú trong cảng để buôn bán (chú thích của dịch giả: ông Manuel này chính là người có bài vị thờ trong chùa Hiển trung do vua Gia Long sau này xây ở Saigon mà Vương Hồng Sển có nói đến (6)).

hinh-2
Hình 2: Một nhóm người ở Đàng Trong tụ tập chơi một trò chơi (theo John Barrow, 1792).

Qua cố vấn của giám mục Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh đã mua lại và mướn người cho hạm đội đủ loại tàu này, trang bị chúng nhanh chóng để mong sẽ đánh úp thình lình vào vịnh Qui Nhơn lúc Tây Sơn không nghĩ là sự kiện này có thể xảy ra. Nhưng sự tấn công vào Qui Nhơn không thành, Nguyễn Ánh phải bỏ chạy lại vào Saigon, sau đó bị rượt đuổi phải trốn ở đảo “Poulo wai” trong vịnh Thái Lan, sau đó chạy qua Siam để lánh nạn. Không bao lâu, Nguyễn Ánh cũng phải rời Siam, trở lại Poulo Wai khi có hiềm khích với vua Siam. Từ đảo này giám mục Bá Đa Lộc đã mang hoàng tử Cảnh sang Pháp hy vọng gặp vua Louis 16 để được giúp đỡ. Một hiệp ước đã được ký kết giữa vua Louis 16 và hoàng tử Cảnh, qua đó vua Pháp gởi quân và tàu chiến đến giúp đỡ và được đặt dưới quyền của Nguyễn Ánh. Đổi lại sau khi thống nhất, nhà vua Việt Nam phải nhường lại cảng Đà Nẵng, các đảo ngoài Hội An. Sau khi đã ký, Bá Đa Lộc được Louis 16 bổ nhiệm là Đại sứ của vua Pháp ở Việt Nam.

hinh-3
Hình 3: Cúng trái cây cho thần (theo John Barrow, 1792)

Hạm đội Pháp trên đường đến Cochinchine ghé vào Pondichery (một nhượng địa của Pháp ở Ấn Độ, nơi mà nhiều người Ấn sau này đến Saigon và Việt Nam). Ở đây vì Bá Đa Lộc không hài lòng với việc toàn quyền Pháp Conway có vợ lẽ, bà Madame de Vienne, bà này vì thế gây hiềm khích giữa Conway với Bá Đa Lộc, Conway ra lệnh đoàn tàu dừng lại vô hạn định và không đi tiếp cho đến khi Conway trực tiếp nhận được tin từ vua Louis 16. Không lâu sau đó cách mạng Pháp nổi lên, chấm dứt sự can thiệp của Pháp và chuyến đi bị bỏ hẳn. Chỉ có Bá Đa Lộc, vài người thân cận và hoàng tử Cảnh trở về Nam kỳ. Lúc này Nguyễn Ánh cũng đã bỏ đảo quay về Saigon sau 2 năm khổ cực ăn rễ cây trên đảo. Hoàng tử Cảnh đoàn tụ với chúa Nguyễn năm 1790 ở Saigon.
(chú thích: Conway là người Pháp gốc Ái Nhĩ Lan. Rất nhiều người Ái Nhĩ Lan theo đạo công giáo khác với Tin lành ở Anh làm sĩ quan trong quân đội Pháp như Hennessey mà sau này lập nghiệp và sản xuất rượu mạnh Hennessey ở Pháp).

3. Saigon theo quan sát của R. Purefoy (1800-1807)


Đầu thế kỷ 19, trong các năm 1800 đến 1807, ông R. Purefoy đến Saigon để buôn bán. Năm 1826 viết lại về vùng Saigon trong tập san Á châu vùng Ấn và phụ cận, ông cho biết (22) như sau:
Saigon chính thật ra, hay như người bản xứ phát âm, Thai Gone, nằm ở phía trên một nhánh nhỏ của con sông, khoảng tám hay mười dặm Tây Bắc của Bến Nghé, là cảng chính của thương mại. Thành phố này lớn đáng kể, được xây chủ yếu bằng gạch: nơi đây là các nhà thương gia chủ yếu của đất nước này cư ngụ.
Người Bồ Đào Nha ở Macao đã giao thương độc quyền ở cảng này từ nhiều năm trước 1800, nên khi một tàu Anh đến đây từ Madras, sự ghen ghét của họ dao động lên cao đến độ họ viết thư lên tổng trấn Saigon nói là họ coi họ mang nhiều ơn lớn với ngài vua đàng trong nên báo cho ngài biết về sự nguy cơ to lớn khi cho phép những tàu người Anh vào bất cứ cảng nào trong xứ, và bảo đảm với ngài là người Anh đến dựng cớ là thương mại nhưng kỳ thực là học biết thông tin về nước này để làm dễ dàng sau này ý định xâm chiếm, và trong dịp này họ cũng nói về những thuộc địa của chúng ta ở Ấn Độ. Con trưởng của nhà vua lúc đó là tổng trấn Saigon; ông ta không để ý gì đến bức thư này; rõ ràng ông ta thấy là các tác giả bức thư chỉ có các động cơ tư lợi riêng, bởi vì họ chẳng mang ra được chứng cớ gì về những điều họ nói, và trong lúc tra hỏi ở hội đồng họ đã có ý trái nghịch lẫn nhau.
Vị hoàng tử này, là một người trai trẻ thông minh, nói tiếng Pháp lưu loát, đã được mang qua Pháp khi còn nhỏ bởi giám mục D’Adran, một phần được giáo dục ở Paris. Ông ấy mất vì bị bệnh đậu mùa năm 1802.”
(chú thích: như vậy Saigon, bắt nguồn từ một từ phát âm ra “Thai Gone”, thật sự là chỉ thành phố Chợ Lớn ngày nay)
Ông Purefoy viết tiếp:
Những sản phẩm chính của tỉnh này là trầu (betel-nut) gồm ba loại, đỏ, trắng và một loại nhỏ, mà ở Trung Quốc có nhu cầu rất lớn, đường, gạo, tiêu, quế, bạch đậu khấu (cardamom), lụa, vải, sừng tê giác và nai, thỏi vàng và bạc, ngà voi, và cá khô với số lượng lớn hàng năm được nhập vào Quảng Đông và các cảng khác ở Trung Quốc. Đồng Nai cũng sản xuất gỗ rất tốt để đóng tàu, gọi là ‘shaou’ (sao), một loại gỗ tếch (teak), rất giống gỗ cây sồi Anh (English oak), một loại gỗ khác nữa giống như gỗ cây tần bì (ash), được dùng làm mái chèo thuyền để xuất khẩu, và cột gỗ thông và mù u, rất tốt để làm cột thuyền và sân thuyền; nhựa đen (tar), nhựa vàng (dammar), dầu từ cây (wood oil) có thể thêm vào danh sách trên. Năm 1801, lượng trầu xuất khẩu đạt tới 135000 peculs (1 pecul hay tạ Trung quốc tương đương với 68kg).
Lương thực rất rẻ ở cảng Saigon, nơi đây có bán ba loại gạo, gạo trắng, gạo đỏ và gạo đen; hai loại gạo sau được nghe nói là có đặc tính bổ tốt cho sức khỏe. Họ sấy thịt heo ở đây bằng một quá trình bí mật, làm thịt heo khô có thể được mang lên tàu và dự trữ được rất lâu.…“
Điều này cho thấy vùng Saigon và các tỉnh chung quanh như Đồng Nai rất sung túc về sản phẩm nông nghiệp, hải sản và lâm nghiệp. Từ Saigon (tức Chợ Lớn) hàng hoá được thông thương buôn bán với các nước ngoài và xuất khẩu rất nhiều đi các nơi.

Nguyễn Đức Hiệp




Tham Khảo


(1) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Nxb Đồng Nai,
http://namkyluctinh.org/a-sachsuvn/giadinhthanh-thongchi%5Bp3%5D.pdf
(2) Anatole Petiton, La Cochinchine française: la vie à Saïgon, notes de voyage, Éditeur : Impr. de L. Danel (Lille), 1883.
(3) Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs, conférence faite au collège des interprètes par M. P. Truong Vinh Ky, Éditeur : Impr. coloniale (Saïgon), 1885.
(4) Les colonies françaises: notices illustrées / publ. par ordre du sous-secrétaire d'état des colonies sous la dir. de M. Louis Henrique, Quantin (Paris), 1889-1890.
(5) Trần Ngọc Quang, Saigon và những tên đường xưa,
http://namkyluctinh.org/a-lichsu/tngocquang-saigontenduongxua.pdf.
(6) Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa, 1992, Nxb Trẻ
(7) John Crawfurd, Journal of an embassy from the governor of India to the courts of Siam and Cochinchina; exhibiting a view of the actual state of those kingdom by John Crawfurd. London. Henri Colburn and Richard Bentley, New Burlingtong Street. 1830.
(8) John White, A Voyage To Cochin China; by John White, Lieutenant in The United State Navy, London, 1824. Online:
http://www.archive.org/stream/voyagetocochinch00whitrich#page/n15/mode/2up
(9) Nguyễn Công Tánh, Thay đổi tên đường của Thành Phố Sài Gòn từ năm 1928 đến năm 1993,
http://motgocpho.com/forums/showthread.php?1895-L%E1%BB%8Bch-S%E1%BB%AD-Saigon
(10) Hình ảnh, tư liệu, http://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm
(11) Albert Morice, Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74, par M. le Dr Morice, H. Georg (Lyon), 1876.
(12) John Barrow, A voyage to Cochinchina in the years 1792 and 1793: containing a general view of the valuable productions and the political importance of this flourishing kingdom, T. Cadell and W. Davies in the Strand, London, 1806. online : http://purl.pt/126
(13) Jules Blancsubé, Notes sur les réformes les plus urgentes à apporter dans l'organisation des pouvoirs publics en Cochinchine (Signé : Jules Blancsube [31 Décembre 1878]), Impr. de Ve Remondet-Aubin (Aix), 1879.
(14) Réveillère, Paul-Émile-Marie (dit Paul Branda), Ça et là. Cochinchine et Cambodge. L'âme khmère. Ang-Kor. Troisième edition, Fischbacher (Paris), 1887.
(15) P. Midan, La Pagode des clochetons et la pagode Barbé, contribution à l'histoire de Saïgon-Cholon, Impr. de l'Union Nguyên-van-Cua (Saïgon), 1934.
(16) Excursions et reconnaissances, No. 4, Imprimerie du gouvernement, Saïgon, 1880.
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5747850m.image.hl.r=Wang-Tai.f5.langEN.pagination
(17) J. Bouchot, Saigon sous la domination cambodgienne et annamite, Bulletin de la Société des études indochinoises, année 1926, 1926 (Nouv Ser,T1), pp. 3-82, Société des études indochinoises (Saïgon).
(18) Nguyễn Đình Đầu, Địa lý lịch sử thành phố Hồ Chí Minh, trong “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb Tph Hồ Chí Minh, 1987, Quyển I, trang 125-231.
(19) Trần Văn Giàu, Lược sử thành phố Hồ Chí Minh, trong Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb Tph Hồ Chí Minh, 1987, Quyển I, trang 235-420.
(20) Josiah Conder, Birmah, Siam, and Anam, London: printed for J. Duncan, Oliver & Boyd, Edingburgh, M. Ogle, Glasgow and R. M. Tims, Dublin, 1826,
http://www.archive.org/stream/birmahsiamanam00condrich#page/n11/mode/2up
(21) George Finlayson, The mission to Siam and Hue the capital of Cochin China in the years 1821-2, London, John Murray, Albemale Street, 1826.
http://www.archive.org/stream/missiontosiaman00raffgoog#page/n7/mode/1up
(22) R. Purefoy, Cursory remarks on Cochin-China, The Asiatic journal and monthly register for Bitish India and its dependencies, Vol. 22, pp. 143-147, pp. 652-655 London, 1826.
(23) Charles Darwin, The Descent of Man: and selection in relation to sex, John Murray, London, 1879.
(24) Charles Lemire, Cochinchine française et royaume de Cambodge, avec l'itinéraire de Paris à Saïgon et à la capitale cambodgienne, Challamel aine, Paris, 1869.