Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Thư Pháp Tự Học

Thư Pháp Tự Học
BÀI 1 : TỔNG QUAN VỀ THƯ PHÁP ( Đề Cương )

( Giáo Trình đã được áp dụng từ tháng 9 năm 2007 đến tháng 10 năm 2012 cho 38 khóa học Chính Quy tại Nhà Văn Hóa THANH NIÊN Tp. Hồ Chí Minh ). Giảng viên : Hiếu Tín - Hoa Nghiêm - Minh Lê

* Mục đích, ý nghĩa : Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về Thư pháp, gợi mở nhiều điều lý thú về Thư pháp chữ Việt. Có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần vào việc kế thừa và phát huy Di sản văn hóa truyền thống của dân tộc.



* Nội dung


1- Từ chữ viết đến nghệ thuật viết chữ

1.1- Nguồn gốc chữ viết

Chữ viết ra đời theo yêu cầu của xã hội loài người. Nó hình thành trên cơ sở những thành quả lao động chân tay và trí óc. Tiển thân gần gũi của nó chính là những hình vẽ mang ý nghĩa thực thể hoặc  tưởng tượng.


 


1.2- Nghệ thuật chữ viết

Cái đẹp trong chữ viết, mà theo cách nói hiện đại là nghệ thuật chữ viết Thư pháp ( Calligraphy - Calligraphie - Calligraphiia ) từ lâu đã được nhiều nước trên thế giới coi trọng và xem là một loại hình nghệ thuật đặc thù " cao cấp " , là biểu tượng thẩm mỹ của nền văn hóa dân tộc ở một số nước phương Đông. Nghệ thuật chữ viết vừa tạo nên giá trị thẩm mỹ, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong cuộc sống của mọi người trên hành tinh của chúng ta.

1.3- Thư pháp

Cách hiểu về nghệ thuật Thư pháp có thể khái quát thành hai nội dung : Một là, nội dung gắn bó với cơ sở mỹ học của thư pháp ( các cách viết, kỹ thuật viết, những bút pháp, đường nét, màu sắc... của người viết ). Hai là, gắn bó với tính cách, tâm tư, tình cảm, quan niện triết học, nhân sinh quan của người viết và phong khí của thời đại.
Vì vậy, ta có thể hiểu thư pháp là : nghệ thuật thể hiện chữ viết và  là phương tiện để bày tỏ tâm thức của con người. Với ý nghĩa này, thư pháp trở thành một nghệ thuật biểu đạt mỹ cảm của mỗi dân tộc, chí hướng, tâm tư và tình cảm chủ quan, có giá trị đạo đức và giá trị mỹ học.


2- Sơ lượt thư pháp Đông - Tây

Trong dòng chày văn hóa truyền thống của các nước phương Đông - Thư pháp được xem như một mạch ngầm, lặng lẽ tồn tại với thời gian nhưng thư pháp lại có vị trí đáng kể và hàm chứa nhiều giá trị nhân bản, đạo đức xã hội trong thế giới nghệ thuật.

_ Thư pháp đối với người Trung Hoa :  là linh hồn của mỹ thuật  Trung Hoa, là loại hình nghệ  thuật có tính tổng hợp cao, có xu hướng vươn tới nghệ thuật biểu hiện tâm hồn chủ quan.




_ Thư đạo Nhật Bản :  Ở Nhật Bản nơi mà khiếu thẩm mỹ luôn dựa vào sự giản dị cùng với tính trầm tư mặc tưởng của Thiên Đạo đã tiếp nguồn cho nghệ thuật thư pháp phát triển thành một phong cách rất đặc biệt. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa tinh hoa Thiên Đạo và nghệ thuật thể hiện. Với ý nghĩa này, thư đạo của Nhật Bản không chỉ là môn nghệ thuật thể hiện, mà nó vượt ra ngoài hạn lượng của ý thức để truyền tải nội dung tâm pháp.




_ Nghệ thuật thư pháp ở các quốc gia Hồi Giáo :  được xem là " Nghệ thuật thị giác hàng đầu ". Nó trở thành một phần trang trí trong đạo Hồi, trong các lâu đài, trường học. Theo Ibn al - Habib cho rằng nghệ thuật viết chữ chính là chức năng cao quý nhất, một môn khoa học ưu việt nhất, một nghề có thu hoạch cao nhất của thời đại.

       


_ Ở các nước phương Tây :  ngày xưa, khi nghề in chưa có ( hoặc đã có mà chưa tinh vi ), những văn kiện quan trong hay tác phẩm thiêng liêng đầu cần những Nhà thư pháp ( calligrapher ) nắn nót, trau chút từng nét một. Đặc biệt, với Kinh Điển của nhiều Tôn giáo, các nhà Thư pháp còn dốc lòng tôn trọng, giữ gìn trai giới và kiên tửu sắc trong suốt những ngày tháng tỉ mỉ chép Kinh thành những tác phẩm mỹ thuật, mà ngày nay một số kiệt tác còn may mắn giữ được đã trở thành tài sản văn hóa vô giá của các viện bảo tàng tên tuổi trên thế giới.


    


So sánh sự khác nhau cơ bản giữa nghệ thuật thư pháp Đông và Tây ( mang tính khái quát )

+ Vẻ đẹp chữ viết của người phương Đông không chỉ dừng lại ở nghệ thuật biểu hiện mà nó còn phải lột tả được tính chất sâu thẳm bên trong của chữ viết. Dường như thư pháp ở đây không chỉ là bộ môn mà còn là Pháp môn cho con người tu tâm luyện tánh. ( xuất phát từ văn hóa gốc nông nghiệp )
+ Ngược lại, quan niệm chữ viết đẹp đối với người phương Tây thì phải theo chuẩn mực, phải cân đối tỷ lệ, không có ngẫu hứng và linh hoạt. ( xuất phát từ từ văn hóa gốc du mục )

3- Thư pháp Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại

3.1- Nghệ thuật thư pháp chữ Hán - Việt Nam

a. Quá trình hình thành thư pháp chữ Hán ở Việt Nam
b. Đặc điểm
Quá trình phát triển của môn thư pháp chữ Hán tại Việt Nam, có lịch sử hình thành tương tự bộ môn thư pháp tại Trung Hoa : đều xuất phát từ tinh thần văn nghệ trong sáng lấy cảm hứng làm căn bản, lấy chủ đề tạo cảm hứng. Tuy nhiên về biểu hiện mỹ cảm có những điểm tương đối khác biệt so với nghệ thuật thư pháp ở Trung Hoa.

3.2- Nghệ thuật thư pháp Quốc Ngữ - hiện đại

a. Đôi nét về quá trình hình thành chữ Quốc Ngữ ( chữ Việt )
b. Sự ra đời của thư pháp chữ Quốc Ngữ
c. Một số đặc điểm trong thư pháp Việt

_ Tính linh hoạt :  sự linh hoạt là một trong những điểm quan trọng của nghệ thuật thư pháp và văn hóa Việt Nam nói riêng và có lẽ văn hóa nông nghiệp nói chung. Đối với thư pháp chữ Việt tính linh hoạt thể hiện rất cao độ - nó cũng là một đặc tính điển hình của người Việt



Chữ Ngộ - Trương Tuấn Hải


_ Tính biểu cảm, trữ tình :  là một đặc điểm tiêu biểu của các loại hình nghệ  thuật và văn hóa Việt Nam nói riêng và có lẽ văn hóa nông nghiệp nói chung. Với thư pháp chữ Việt thì tính biểu cảm thể hiện rất rõ nét.

_ Tính hài hòa :  là một đặc điểm nổi bật của nền văn hóa Việt Nam và nó ảnh hưởng rất đậm nét trong nghệ thuật thư pháp chữ Việt. Nó cũng là một trong những yếu tố tạo nên một tác phẩm thư pháp hoàn hảo.



Chữ Hạnh phúc - Thanh Sơn


_ Tính tổng hợp :   Sự giao hòa giữa văn hóa Đông - Tây ( bút lông_ sản phẩm của văn hóa phương Đông và chữ Latinh_ sản phẩm của văn hóa phương Tây ).

3.3- Thư pháp chữ Việt trong đời sống của văn hóa dân tộc

Thực tế hiện nay, thư pháp chữ Việt đã hòa mạch sống nghệ thuật trong vườn hoa dân tộc và nó có ảnh hưởng lớn trên mặt trận văn hóa tư tưởng, đạo đức giáo dục,... Sở dĩ nó đặc biệt như vậy vì nó đã nối mạch được truyền thống tôn trọng chữ, kính chữ đã có hàng ngàn đời trong lịch sử dân tộc. Hơn nữa, nó mang thông điệp cho mọi người rằng: nếu biết khai thác và sáng tạo thì chữ Việt cũng rất đẹp và rất có hồn. Hy vọng, việc chơi thư pháp, thưởng lanm4 thư pháp chữ Việt hiện nay không chỉ dừng lại ở tính phong trào mà là sự hiện diện có ý nghĩa của một môn nghệ thuật đặc thù mang tính cao cấp, phát huy được cái đẹp, cái hồn của mỗi chữ Việt trong lòng người dân nước Việt.



Chữ Tri âm - Trụ Vũ


Bài tập

1- Theo anh chị Thư pháp là gì ?
2- Anh chị hãy so sánh thư pháp Trung Hoa với các nước Nhật Bản, Việt Nam.
3- Anh chị hãy so sánh thư pháp phương Đông và nghệ thuật viết chữ Châu Âu.
4- Anh chị hãy nêu những đặc điểm cơ bản của thư pháp chữ Việt.

Bài 2 : Văn Phòng Tứ Bảo

Văn phòng tứ bảo gồm “bút, nghiên, giấy, mực” là bốn vật quý của chốn làm văn, trung gian chuyên chở ngôn ngữ, ý nghĩa và nghệ thuật. Nó dùng chung cho tất cả những ai làm việc có liên quan đến chữ viết, hình vẽ, xưa từ vua chúa, quan lại, văn nhân, nhà giáo, thầy thuốc,…đều phải sử dụng và đặc biệt gắn bó mật thiết với các nhà thư hoạ. 


 


Năm 2000 và 2006 vừa qua Bưu chính Trung Quốc, MaCau phát hành 2 bộ tem về đề tài thú vị này. Mỗi bộ tem gồm 4 mẫu và ứng với mỗi con tem là một “bảo vật” trong “văn phòng tứ bảo”. Có thể nói cả 2 bộ tem tuy có phong cách khác nhau nhưng đều mang lại nhiều ấn tượng đẹp, đáp ứng được nhu cầu yêu thích nghệ thuật của giới sưu tập tem nói chung và các nhà thư họa nói riêng. Bốn vật quý của “văn phòng tứ bảo” là:




•    Bút

Trong bốn vật quý, bút đứng hàng đầu vì không có bút tốt thì khó mà thi triển tài năng. Chính vì thế mà người Trung Quốc bảo rằng “mặc áo cũ nhưng phải dùng bút mới”. Trong văn phòng tứ bảo, bút có đời sống ngắn ngũi nhất. Nhưng chính nó lại đóng vai trò quan trọng nhất trong thư pháp. Giấy xấu mực tồi, có thể khiến cho tác phẩm khó lưu giữ, nghiên kém phẩm chất khiến việc mài mực mất công hơn, còn bút dở thì dù người viết có tài thế nào cũng khó mà thi triển khả năng, cũng như đàn lên dây không đúng thì người nhạc sỹ không sao trình tấu cho hay được. Vì thế, một thư pháp gia bao giờ cũng coi bút là hàng đầu trước khi lo đến ba vật kia.

Nếu ở châu Âu từ năm 56 biết dùng lông cánh thiên nga, ngỗng, quạ để viết thì ở Trung Quốc, ngay khi đã có giấy và mực, người ta ghi nhận Mông Điềm (đời nhà Tần) là người đầu tiên chế ra cây bút lông (khoảng 200 năm TCN). Ngòi bút chủ yếu được làm từ lông tơ của một số con vật. Tùy theo tính chất của giấy hoặc ý đồ của nhà thư họa mà họ chọn các kiểu ngòi bút cho phù hợp. Nếu viết nhanh trên giấy mỏng thì ngòi là lông chim ác là, chim trĩ. Nếu viết chữ to trên giấy bìa hoặc vải lụa thì ngòi là lông chồn, mèo, hổ, đắc dụng nhất là lông thỏ,... Muốn viết chữ to hay nhỏ, sử dụng mực  màu lỏng hay đặc quánh… người ta dùng bút có ngòi bằng lông cứng (như lông đuôi ngựa) hay mềm (như lông thỏ).  Hiện, người ta làm ngòi bằng sợi tổng hợp nhưng không hơn được lông thú nhờ ưu điểm ngậm mực nhiều, nét chữ tưa ra cũng là một yếu tố tạo dáng đặc biệt, giúp chữ viết đẹp hơn.




•    Giấy

Giấy xuất hiện muộn hơn so với bút và mực. Tiền thân của giấy (dùng trong việc ghi chép) hẳn người ta chỉ có thể viết trên đất, cát, rồi sau đó trên lá cây, mai rùa, da động vật, hoặc chạm khắc trên thanh tre, ván gỗ, đồ gốm, đá, đồng… tuỳ theo nền văn minh từng thời kỳ, rồi sau đó tất nhiên là giấy.
 Con người đã biết làm ra giấy ít ra cũng ngay từ những năm đầu Công nguyên, nhưng xấu, không viết được, chủ yếu chỉ dùng để gói. Cho đến đời Đông Hán, vào năm 105, hoạn quan Thái Luân (Xái Luân) đã hoàn thành một công nghệ sản xuất dây chuyền chế tạo giấy tương đối cố định. Sản phẩm làm ra có chất lượng tốt, tạo một bước ngoặt lịch sử hết sức phấn khởi trong việc phục vụ ghi chép và làm sách. Năm đầu Nguyên sơ (114) Thái Luân được phong tước Long Đình Hầu. Để kỷ niệm, sau này người ta gọi thứ giấy ông chế tạo là “giấy Thái Hầu”, và tôn làm Tổ sư, lập đền thờ, bốn mùa hương khói.

Công dụng chủ yếu của giấy là để ghi chép, bày tỏ tâm tư, tình cảm, phổ biến tư tưởng và ghi chép mọi diễn biến lịch sử cùng là những dấu ấn tiến hóa xã hội loài người từng thời kỳ. Sự phát minh sản phẩm văn hóa này đã đánh dấu một bước ngoặt vượt bậc của nền văn minh nhân loại. Nhờ có giấy mà xã hội con người đã sớm xích lại gần nhau, hiểu biết, và cảm thông nhau. Giấy (tất nhiên có cả chữ viết, chữ in và hình ảnh trên giấy) là phương tiện giao lưu văn hóa đắc dụng nhất trong quan hệ con người không chỉ trong cùng một thời đại, mà nó còn chuyên chở, trao truyền những phát kiến, thành tựu mọi mặt trong sinh hoạt đời sống như một dòng chảy liên tục từ thế hệ này đến thế hệ khác đặc biệt là trên các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, khoa học, xã hội và nhân văn.




•    Mực

Con người bắt đầu dùng mực từ 2.500 Tr CN. Người Trung Quốc và Ai Cập sử dụng nó trước tiên. Giữa thời Ngụy Tấn mới chế ra thỏi mực bằng cách lấy khói sơn hòa với than tùng hoặc bồ hóng khuấy với dầu thực vật, keo thực vật (nhựa thông) làm thành những thỏi mực vuông và dài, gọi mực Tàu. Đối với người Trung Quốc, mực là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình phát triển của văn hoá truyền thống Trung Hoa. Trong tiếng Hán tượng hình, chữ “Mo” (âm Hán – Việt là mặc) được biểu đạt bằng một chữ “Hắc” 黑 (đen) bên trên và chữ “Thổ” 土 (đất) ở phía dưới. Nó nói lên nguồn gốc chất liệu đầu tiên của sản phẩm này. Đó là một loại đá đen tự nhiên hay bán tự nhiên.

“Văn phòng tứ bảo” mực lại là sản phẩm tốn nhiều công lao và thời gian nhất. Tính ra có đến hơn 20 giai đoạn, dùng nhiều kỹ thuật khác nhau, lại thêm một số bí mật gia truyền. Người Trung Hoa thường nói: “ Vàng dễ kiếm, mực khó tìm”. Trong thư pháp, mài một đĩa mực là lúc người nghệ sĩ đặt hết tâm hồn, để cho lòng tĩnh lặng. Đổ một chút nước lên mặt nghiên, một tay giữ nghiên cho vững, tay kia cầm thỏi mực quay đều đặn, chầm chậm theo hình tròn cho tới khi mực sánh lại. Mực tốt không bao giờ nghe tiếng sột soạt khi mài và người biết cách mài không thể cho thỏi mực vạt  một bên.
Đáp ứng nhịp độ nhanh của cuộc sống hiện đại, ngày nay, mực cũng được sản xuất và bán ra dưới dạng đóng chai để tiết kiệm thời gian cho người sử dụng. Tuy nhiên, theo quan niệm truyền thống của người Trung Quốc, mực phải được mài trên nghiên đá, mới là thứ mực “hoạt” (sống), là thứ mực chứa đựng sự hài hòa âm dương. Và công đoạn mài mực không phải là việc tốn thời gian mà chính là lúc người nghệ sĩ có thể tập trung tâm thức trước khi múa bút tạo nên tác phẩm của mình. Có như vậy, ta mới cảm nhận hết được vẻ đẹp của động tác mà Tô Thức (1034 – 1101), thi sĩ nổi tiếng đời Tống đã từng ngợi ca, rằng âm thanh của tiếng mực mài trên nghiên như một thứ âm nhạc thanh bình và tao nhã.




•    Nghiên

Nghiên hay nghiễn xuất hiện cùng thời với mực. Đại thể, nghiên có dạng như một miếng ngói đặt úp, có một chỗ trũng, trẹt để mài mực và chứa mực dùng vào việc viết chữ.

Đối với kẻ sĩ, cái nghiên là “đồ nghề”, là người bạn quý, và bản thân của nghiên cũng là vật quý, vì nó thường được chế tác bằng đá quý, cẩm thạch. Đó là nghiên của quan, còn của vua thì bằng ngọc, bằng mã não (học trò nghèo thì dùng nghiên bằng sành). Cho dù làm bằng chất liệu gì cái nghiên cũng phải hơi nhám để mài mực, không răn nứt. Và tất nhiên nghiên càng đẹp thì càng có giá trị. Một cái nghiên tốt bao giờ mài cũng trơn và không nghe tiếng kêu.

Trong bốn vật quý, nghiên tuy không giữ vai trò then chốt nhưng được các văn nhân xưa xem trọng hơn cả, bởi nó gắn bó cả đời với người sử dụng, xem nghiên như miếng ruộng, bút như cây cày, rất cần thiết cho đời sống: “Nghiên ruộng bút cày”! Các cụ xưa còn bảo rằng chiếc nghiên đá là vật linh để trấn giữ phòng văn, là nơi tụ hội khí tinh anh của trời đất.

Sáng tác một bài thơ, một đôi câu đối, mài mực một cách khoan thai để cho hồn lắng đọng rồi tập trung tinh thần viết những nét rồng bay phượng múa trên một tờ giấy hoa tiên là một sảng khoái không phải ai cũng có được. Có lẽ vì thế, mà nghiên bút là vật dụng không thể tách rời của văn nhân.
Ngoài “văn phòng tứ bảo” nói trên, còn những vật dụng phụ trợ khác đem lại sự tiện lợi trong khi luyện chữ mà nhiều thư gia, họa gia cũng kén chọn. Có thể kể đến là: ống đựng bút, giá tựa tay, bồn rửa mực, lọ đựng nước, giá gác bút, cục chặn giấy. Một vật dụng khác tuy không được xếp vào tứ bảo nhưng cũng độc đáo và quan trọng, đó là con dấu (ấn hay tỉ), vì đó là thứ bảo chứng quan trọng còn hơn cả chữ ký.

Như vậy, “văn phòng tứ bảo” là một thuật ngữ dùng để chỉ chung cho tất cả những vật dụng cần thiết cho “người viết chữ” chứ không phải bốn món giấy, bút, nghiên, mực! Nói như ngày nay thì nó là “văn phòng phẩm”. Và cái “quý” (bảo) đúng nghĩa là quý cái đồ nghề, nhờ nó mà văn nhân mới biểu đạt được tác phẩm vật thể của mình và lưu truyền cho hậu thế.
















1 nhận xét:

  1. phí ship hàng từ mỹ với mức chi phí cạnh tranh không phát sinh thêm bất cứu phí nào khác, bạn có thể xem thêm bảng giá ship hàng từ mỹ, dịch vụ hỗ trợ ship hàng us các mặt hàng đồ usa chính hãng không bao gồm thuế vat, ship hàng mỹ về việt nam dịch vụ cho những ai cần mua hàng từ xa.

    Trả lờiXóa