Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

Cách đòi nợ đúng luật

Việc bạn cho người em kết nghĩa vay tiền, theo quy định của pháp luật dân sự thì giữa hai người đã hình thành hợp đồng vay tài sản.
Theo Điều 474 Bộ luật dân sự, khi đến hạn, người vay tiền có nghĩa vụ trả lại cho bạn số tiền đã vay (tiền gốc và tiền lãi - nếu có thỏa thuận). Tuy nhiên, theo thư của bạn, việc vay tiền lại được thực hiện dưới danh nghĩa “chung vốn làm ăn”. Do đó, việc đòi lại số tiền này có thể xảy ra một trong hai trường hợp:
a. Nếu khi giao, nhận tiền, hai bên có lập thành văn bản, ghi mục đích của việc giao tiền là góp vốn kinh doanh thì việc bạn rút vốn sẽ tùy thuộc vào thỏa thuận của hai bên (nếu có) hoặc theo quy định của pháp luật.
b. Nếu khi giao, nhận tiền, hai bên có lập thành văn bản, trong đó ghi rõ mục đích của giao dịch này là “vay tiền” thì đây chỉ là giao dịch vay và cho vay thông thường (không phải là việc góp vốn làm ăn chung). Do vậy, việc thu hồi số tiền vay sẽ được tiến hành theo một trong hai phương thức sau đây:
- Nếu người vay tiền có hành vi gian dối ngay từ khi thực hiện giao dịch hoặc có hành vi tẩu tán tài sản, bỏ trốn... nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng khoản tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả thì hành vi của người đó có dấu hiệu tội phạm (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản). Trong trường hợp này, bạn cần làm đơn tố giác gửi cơ quan điều tra, đề nghị điều tra, xử lý người vay. Theo Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Nếu cơ quan điều tra xử lý người vay bằng biện pháp hình sự thì quá trình giải quyết vụ án sẽ giải quyết đồng thời việc bồi thường cho những người bị hại do hành vi phạm tội đó gây ra.
- Trường hợp người vay tiền không có dấu hiệu phạm tội, đây chỉ là giao dịch dân sự bình thường, việc không trả được nợ đúng hạn là do làm ăn thua lỗ hoặc do các tác động khách quan khác..., bạn có quyền khởi kiện người vay ra tòa án, đề nghị xử buộc trả lại tiền (cả gốc và lãi nếu có thỏa thuận). Đây là giao dịch vay tài sản không có tài sản bảo đảm nên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án tuyên buộc bên vay phải trả tiền cho bạn thì những tài sản của người vay (nếu có) sẽ được cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại để trả cho những người bị hại. Nếu tài sản của người phải thi hành án đã được đem cầm cố, thế chấp để vay vốn ngân hàng thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ ưu tiên trả các khoản nợ có bảo đảm cho ngân hàng, khoản tiền còn thừa mới được trả nợ cho bạn và những người bị hại khác.
Lưu ý, bạn không được đòi nợ theo kiểu “xã hội đen” vì đó là vi phạm pháp luật. Người tự mình đòi nợ theo kiểu “xã hội đen” hoặc thuê “xã hội đen” đòi nợ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Cướp tài sản hoặc tội Cưỡng đoạt tài sản...
 Thạc sỹ, Luật sư Phạm Thanh BìnhCông ty Luật Bảo Ngọc, Hà Nội

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

ÁO DÀI SEXY
























































THỜI MỞ CÕI


 Từ ngày Ngài thủy tổ vào Nam khẩn đất, lập làng, khai sanh tộc Phạm Trường, Ông cha ta đã lập nên tộc phả, ghi lại cội nguồn, sự tích, công đức, truyền thống …của dòng họ để lưu lại cho con cháu muôn đời. Ghi nhận công lao mở cõi to lớn của Tổ tiên ta với nước, với dân vương triều Nguyễn đã từng ban sắc phong thần, một đạo sắc phong“Thành hoàng bổn cảnh Đại lang chi thần” năm Minh Mạng 1820, và đạo sắc phong “Dực bảo trung hưng linh phò tôn thần” năm Khải Định 1924 cho đấng Tiên hiền khai canh, thủy tồ tộc Phạm Trường, tộc danh là Phạm Trường Thọ, tự Đại Đức, hiệu Đại Đức, thụy hiệu Đại Đức. Các đạo sắc nầy, đã được cha ông ta thờ tại đình làng, có phân công thủ đình coi giữ cẩn thận. Còn Tộc phả được bảo quản tại Từ đường, cũng phân công thủ từ coi giữ. Tuy nhiên, do bị chiến tranh, nhất là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Pháp, “cây đa mô cao cho bằng cây đa Bàng Lãnh” cùng đình  làng bị giặc phá rụi, các đạo sắc phong thần bị thất lạc. Từ đường tuy còn, nhưng trải qua chiến tranh cũng bị ảnh hưởng, trở thành hoang phế, rồi trải qua mưa nắng thời gian của thiên nhiên khắc nghiệt miền Trung, Tộc phả cũng bị rách nát, loang lổ, úa màu. Người cuối cùng giữ được một phần tộc phả là cụ Hương Nhung, thế hệ thứ 12, phái nhì. Đến thời “chống Mỹ cứu nước”, giặc Mỹ cày ũi, san làng ta thành bình địa, đưa làng ta về thời…mở cõi, cụ Hương về với Tổ tiên, tộc phả cũng bị thất lạc theo Người!
Từ đó, mọi câu chuyện về lịch sử dòng họ ta chỉ còn tồn tại trong trí nhớ. Những sự thật, đôi khi chỉ còn một nửa. “Một nửa của sự thật, không phải là sự thật”. Chính vì lý do nầy, hậu duệ đích tôn đời 16, phụng mệnh các vị tiền bối của gia tộc đời thứ 13 như các đức ông Phạm Trường Ngôn, Phạm Trường Diết, ông trưởng tộc đời thứ 15 Phạm Trường Chỉnh, quý nội thúc phụ Phạm Trường Hiền, Phạm Trường Thành trong Hội đồng gia tộc, đã nghiên cứu, biên sọan lại lịch sử của gia tộc ta thời mở cõi, hầu chứng minh thời đại, thân thế và sự nghiệp của Tổ tiên ta, nhằm lưu lại cho muôn đời con cháu mai sau biết rõ cội nguồn!
Kễ từ hôm nay, ban biên tập Website www.tocphamtruong.com khởi đăng lọat bài “THỜI MỞ CÕI” của ông Phạm Trường Ngọc Tuấn, hậu duệ đích tôn đời 16 với quyền thừa kế trưởng tộc. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, biên khảo nầy ít nhiều gì cũng sẽ còn sơ sót, bởi lẽ đây là việc làm rất khó. Rất cần những nghiên cứu thêm, những đóng góp thêm, những tiếng nói thêm của bà con bổn tộc để công trình được hòan hảo, đáp ứng được kỳ vọng của họ hàng ta.
Ban biên tập không quên cảm ơn các ông Phạm Trường Hiền, Phạm Trường Thành Chủ tịch và P. Chủ tịch HĐGT đã hết sức quan tâm chỉ đạo, giúp đở, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hòan thành nhiệm vụ nầy!


BÀI MỘT:

LỊCH SỬ CÁC CUỘC NAM TIẾN
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
1. Từ cuộc Nam tiến đầu tiên
Theo sử xưa sách cũ, dân tộc Việt Nam ta có nguồn gốc từ các bộ tộc Bách Việt. Các bộ tộc này, chiếm từ miền Nam sông Dương Tử (Trung Hoa) xuống phía Nam, bắc giáp Động Đình Hồ, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Đông, Nam giáp Chiêm Thành. Trong quá trình sinh tồn, Bách Việt bị các bộ tộc phía Bắc dồn xuống phía Nam, và dần dần bị thu hẹp lại, từ “Bách Việt”, chỉ còn năm nhóm Việt tộc được tổ chức theo hình thức quốc gia, là Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Tây Việt và Lạc Việt.

 
Sơ đồ khu vực người Lạc Việt cư trú và lập nên nhà nước Văn Lang

Trong năm quốc gia Việt tộc trên , thì Lạc Việt di chuyển sâu xuống phương Nam nhất (miền Bắc Việt Nam cho đến giáp giới với Chiêm Thành), nhờ địa thế, sông núi , đất đai , phong thổ riêng mà tránh được sự đồng hóa của Hoa hạ, lập nên  nhà nước sơ khai đầu tiên là nhà nước Văn Lang, với quốc tổ là Hùng Vương, kinh đô là Phong Châu, nhân dân là các bộ tộc, dưới quyền cai quản của chính quyền là các Tù trưởng, Lạc tướng, Lạc hầu. Lạc Việt chính là cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Thời điểm dân tộc Việt lập quốc là năm 2879 trước Công nguyên.
Tuy nhiên, cho dù có giữ được bản sắc riêng , thành lập được nhà nước riêng, cuối cùng thì trước sức ép quá lớn của các triều đại phong kiến Trung Hoa, Lạc Việt cũng bị Bắc thuộc từ thời Thục Phán-An Dương Vương (208-179 trước Công nguyên), chịu cảnh “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”. Mặc dầu trong thời kỳ nầy có vô vàn các cuộc khởi nghỉa đã nổ ra để dành độc lập, điển hình như các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Bôn, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế v.v…nhưng mãi cho đến thế kỷ thứ mười, bằng chiến thắng vang dội của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng trước quân Nam Hán, dân tộc ta mới chấm dứt được cảnh ngàn năm Bắc thuộc, trở thành nhà nước độc lập, lảnh thổ gồm các tỉnh phía Bắc đến Nghệ An ngày nay (nhưng vẫn phải triều cống).

 
Chiến thắng vang dội của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng
trước quân Nam Hán, mở ra thời kỳ độc lập đầu tiên

2. Đến các cuộc Nam tiến tiếp theo.
Tuy dành được độc lập, song sự đe dọa của phương Bắc mãi mãi vẫn còn, nguy cơ bị làm nô lệ lần nữa, thậm chí mất nước là điều luôn đươc ông cha cảnh giác. Muốn tồn tại và phát triển để bảo tồn nòi giống và quốc thổ, bảo tồn bản sắc riêng để không bị đồng hó với Trung Hoa, không có con đường nào khác là con đương Nam tiến.
Lúc bấy giờ, ở phía Nam nước ta là nước Lâm Ấp. Lâm Ấp, lúc ấy là một quốc gia hùng mạnh, lập quốc từ thế kỷ thứ hai, với lành thổ phía Bắc giáp nước ta trải dài đến Phan Rang, Bình Thuận, Nam giáp Chân Lạp; nhiều lần muốn thóat ly ảnh hưởng của các thiên triều Trung Hoa, tự mình xưng đế. Để mở mang bờ cõi, Lâm Ấp cũng nhiều lần đem quân xâm lấn nước ta trong những năm từ 347 đến 800. Năm 808, nhà Đường đem quân tấn công, Lâm Ấp bị bại, phải rút về Quảng Nam, Quảng Ngải ngày nay, đổi quốc hiệu là Chiêm Thành, đặt kinh đô tại Trà Kiệu.
Tuy vậy, Chiêm Thành cũng không từ bỏ tham vọng xâm chiếm nước ta. Và do vậy, trải dài suốt lịch sử, những cuộc chiến luôn nổ ra trong quan hệ giữa hai nước láng giềng!

. NHỮNG CUỘC CHIẾN GIỮA TA VÀ CHIÊM THÀNH

Thời nhà Đinh:

 
Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, đặt quốc đô tại Hoa Lư- Ninh Bình

 
Đinh Tiên Hòang

Sau khi dẹp lọan 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hòang đế, đặt quốc đô tại Hoa Lư, Ninh Bình. Ngô Nhật khánh là một sứ quân thuộc dòng dõi Ngô Quyền không cam tâm chịu thua, chạy vào Chiêm Thành cầu viện. Năm Kỹ Mão 979, Nhật Khánh được vua Chiêm cấp cả ngàn chiến thuyền cùng quân lính tiến đánh kinh đô Hoa Lư. Song khi chiến thuyền vào đến cửa bể Đại Ác và Tiểu Khang, thì gặp bão tổn thất nặng nề, sau đó bị quan quân nhà Đinh chặn đánh, giết đươc Nhật Khánh và tướng Chiêm. Đó là trận thắng đầu tiên trong lịch sử chiến tranh giữa hai nước từ khi Ngô Quyền dành độc lập.

Thời nhà Tiền Lê:

 
Tượng thờ vua Lê Đại Hành

Vua Lê Đại Hành lên ngôi, có sai sứ sang Chiêm Thành giao hảo. Nhưng vua Chiêm bắt giam sứ. Đại Hành hòang đế hạ lệnh xuất binh Nam phạt Chiêm Thành trả thù rửa hận. Quân ta tiến thẳng đến kinh đô nước Chiêm. Vua Chiêm hàng phục, xin thần phục và triều cống hàng năm.

Thời nhà Lý:

 
Lý Thường Kiệt phá Tống, bình Chiêm

Trong khỏang thập niên đầu nhà Lý, Chiêm Thành không chịu triều cống nước ta, không những thế, còn vài lần sang đánh phá. Mùa Thu năm 1044, Lý Thái Tông ngự giá thân chinh đánh chiếm kinh đô Trà Kiệu của Chiêm quốc, bắt được vua Chiêm là Xạ Đẩu và ba vạn tù binh cùng nhiều chiến thuyền và voi, ngựa. Nước Chiêm lại chịu thần phục và triều cống như cũ. Đến thời Lý Thánh Tông lên ngôi với hùng tài đại lược và tầm nhìn viễn kiến, ý đồ mở đất về phía Nam đã rõ (các cuộc chiến tranh trước đó không có ý đồ chiếm đất, chỉ là trừng phạt để bắt thần phục mà thôi). Năm 1069, Lý Thánh Tông đích thân ngự giá thân chinh cầm binh đánh Chiêm Thành, sai Lý Thường Kiệt thống lãnh tam quân và đi tiên phong. Đạo tiên phong của đại tướng quân Lý Thường Kiệt đánh đâu thắng đó, tiến thẳng đến kinh đô, bắt đươc vua Chiêm là Chế Củ. Chế Cũ xin dâng ba châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (tức vùng Quảng Bình và Bắc Quảng Trị ngày nay) để quy hàng! Đến năm 1103, Chiêm Thành tưởng rằng đã mạnh, đem quân đòi lại ba châu này. Vua Lý Nhân Tông bèn sai Lý Thường Kiệt đem quân vào đánh dành lại ba châu.

Thời nhà Trần:

 
Đòan thủy quân của vua Trần Thái Tông tiến thẳng về kinh đô Chàm

 Ở vương triều Trần, đời Trần Thái Tông, năm 1252 vua Chiêm lại đòi đất và cử binh sang quấy phá. Nhà vua đích thân cầm quân đi đánh và thắng lợi trở về.
Thời kỳ nầy để lại cho lịch sử dân tộc những trang đầy bùi ngùi và cảm xúc nhất với cuộc hôn nhân vì nghĩa lớn, đó là việc vua Trần Nhân Tôn gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân để đánh đổi việc Chế Mân dâng hai châu Ô và châu Lý làm sính lễ (1306).

 
Công chúa Huyền Trân.
Dân tộc Việt Nam mãi nhớ ơn người liệt nữ đi mở cõi:
“ Nước non ngàn dặm ra đi,
cái tình chi, mượn màu son phấn, trả nợ Ô, Ly!”

 Vua Trần Nhân Tông đổi tên hai châu ấy thành Thuận châu và Hóa châu (tức Nam Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay), di dân đến khai khẩn làm ăn sinh sống. Sau khi Chế Mân chết, công chúa Huyền Trân được giải cứu trở vè, Chiêm Thành lại sang đòi đất và nhiều cuộc chiến đã diển ra. Cũng trong giai đọan này, nuớc Chiêm Thành có vua mới là Chế Bồng Nga, một vị vua anh dũng, thiện chiến, muốn báo quốc thù, đã khởi động nhiều cuộc chiến làm nhà Trần khốn đốn!

 
Nàng công chúa lá ngọc cành vàng, rời cung son điện ngọc về Chiêm.
Xin hậu thế suy ngẫm và chia sẻ nổi lòng của các vua Trần:
“Hai châu Ô, Lý muôn nghìn dặm, một gái Huyền Trân đáng mấy mươi”

Năm 1376, Chế Bồng Nga đưa quân sang đánh Hóa Châu, Vua nhà Trần là Trần Duệ Tông đích thân cầm binh kháng cự. Năm 1377, Trần Duệ Tông đem quân đánh thẳng vào kinh đô Đồ Bàn của Chiêm quốc bị thua to, nhà vua “chiến tử sa trường”, quân ta phải rút về nước. Từ đó nhà Trần suy yếu. Nhân cơ hội đó, năm 1378, Chế Bồng Nga đem quân đánh thẳng vào Thăng Long. Đến năm 1380 lại sang quấy phá ở vùng Thanh, Nghệ! Năm 1384, Chế Bồng Nga với dã tâm rất lớn, muốn “dứt điểm” Đại Việt. Ở trận quyết chiến chiến lược này, Chế Bồng Nga  bị Trần Khắc Chân giết tại Hưng Yên, quân Chiêm đại bại. Mất đi vị vua anh dũng tài ba, Chiêm Thành suy sụp, trong nước có nội lọan, hai con của Chế Bồng Nga sang Đại Việt nương nhờ, được nhà Trần phong tước hầu.

Thời nhà Hồ:

 
                               Hồ Quý Ly

Hồ Quý Ly lên ngôi thay thế nhà Trần, sai quan hành khiển là Đỗ Mãn đem quân đi đánh Chiêm Thành, nhưng do nước lụt, phải rút quân về. Năm 1402 , Hồ Hán Thương lên ngôi, tháng 7 lại sai Đỗ Mãn cầm quân đánh Chiêm, vua Chiêm Ba Đích Lại thua, xin dâng lễ vật và dâng đất Chiêm Động, Cỗ Lũy  để cầu hòa. Hồ Hán Thương cho làm con đường huyết mạch từ Thanh Hóa đến Hóa châu, chia đất Chiêm Động, Cổ Lũy thành 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt chưc quan cai trị là An Phủ sứ. Năm 1404 nhà Hồ cho đào con sông từ Tân Bình đến Thuận Hóa tạo điều kiện dể dàng cho việc giao thông, chiêu mộ dân đến đất mới khẩn làng lập ấp. Dân vào khai khẩn, được sung vào quân đội. Khi không có biến thì làm ruộng, khi có chiến tranh thì trở lại quân đội để chiến đấu bảo vệ đất đai.
Năm 1407, quân Minh sang đánh, cha con Hồ Quý Ly đại bại, nhà Minh hỗ trợ Chiêm Thành lấy lại Chiêm Động và Cỗ Lũy. Từ 1407 đến 1446, Chiêm Thành làm chủ đất này.

Nhà hậu Lê:

 
Tượng thờ vua Lê Thánh Tông

Sau cuộc khởi nghĩa mười năm kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hòang đế mở ra triều đại Hậu Lê. Lúc bấy giờ, ngở rằng nhà hậu Lê bị kiệt quệ sau mười năm kháng chiến, Chiêm Thành lại đem quân sang xâm lấn nước ta. Liên tiếp trong các năm 1434, 1444, 1445 (đời vua Lê Thái Tông) Chiêm Thành đem quân cướp lại Hóa châu nhưng đều bị nhà Trần đánh bại. Đến đời vua Lê Thánh Tông, năm 1470, quân Chiêm đem mười vạn hùng binh đánh vào Thận Hóa. Lê Thánh Tông ngự giá thân chinh chống giặc, và mở cuộc tổng tấn công to lớn đánh thẳng vào kinh đô Đồ Bàn. Năm 1471, nhà vua tiến tới kinh đô Chiêm quốc, hạ thành Đồ bàn, bắt sống được vua Chiêm là Trà Tòan cùng muôn vạn tù binh.

 
Thạch bi sơn tại Phú Yên ghi dấu chiến công của
vua Lê Thánh Tông
“ Tường thành cũ, phiến bia xưa,
hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay!”

Nhà vua lấy đất của Chiêm Thành đến tận Phú Yên (ngày nay), cho khắc bia trên núi ở Phú Yên (gọi là Thạch Bi sơn) phân làm ranh giới Việt Chiêm, với đất Việt từ Phú Yên trở ra Bắc, đất Chiêm từ sau núi Thạch bi vào đến Phan Rang, Phan Rí, Bình Thuận (ngày nay). Đồng thời, để làm suy yếu hẳn Chiêm Thành, nhà vua chia đất đai còn lại của Chiêm quốc làm ba nước nhỏ là Chiêm Thành, Hoa An, Nam Phan, đặt ba vua cai trị và bắt triều cống cho nước ta hàng năm. Từ đó Chiêm Thành suy yếu hẳn, không còn khả năng quấy phá nước ta.
Tuy nhiên, lịch sử không dừng tại đó. Khi nhà hậu Lê suy yếu, xảy ra chuyện Nam Bắc phân tranh. Nguyễn Kim phò nhà hậu Lê nắm tất cả binh quyền. Khi Nguyễn Kim chết, con rễ là Trịnh Kiểm lên thay, có ý muốn diệt hậu duệ Nguyễn Kim để trừ hậu họan. Trước tình hình đó, Nguyễn Hòang là con Nguyễn Kim, nhờ chị là  Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm), xin với Trịnh Kiểm cho vào Nam để trấn thủ Thuận Hóa
 

Năm Chính Trị thứ nhất 1558, đời vua Lê Anh Tông (tức Lê Duy Bang 1556-1573), Nguyễn Hòang được chiếu vào Nam trấn giữ Thuận Hóa, và từ đấy, dòng chảy của lịch sử trở nên ồ ạt với công cuộc mở đất phương Nam, thống nhất cơ đồ, xây dựng giang sơn Đại Việt cho đến mũi Cà Mau.

. CÁC CHÚA NGUYỄN  HÒAN THÀNH CÔNG CUỘC NAM TIẾN MỞ RỘNG GIANG SƠN

-                     Đến năm 1578, Nguyễn Hòang đã thiết lập bộ máy cai trị xứ Đàng Trong hòan chỉnh đến Phú Yên.
                     
              
Đoàn quận công Nguyễn Hòang và tầm nhìn mở cõi về đất phương Nam.

-                  Năm 1653, vua Chiêm là Ba Tằm lại quấy nhiểu, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai quân đánh dẹp, tiến qua Thạch Bi sơn, chiếm đất Chiêm Thành đến tận Phan Rang, lập ra hai phủ Thái Khang (Ninh Hòa) và Khang Ninh (Diên Khánh), bắt phần còn lại của Chiêm Thành giữ lệ cống.
-                     Năm 1692, vua Chiêm là Ba Tranh không chịu cống, chúa Nguyễn Phúc Chu sai quân đi đánh, bắt Ba Tranh về Phú Xuân, lấy đất Chiêm làm trấn Thuận Thành, sau đổi thành Bình Thuận đặt quan cai trị, bắt cho dân Chiêm thay đổi y phục theo người Việt.
-                     Năm 1696, chúa Nguyễn Phúc Chu đổi trấn Bình Thuận thành phủ Bình Thuận, lại lấy nốt phần đất còn lại của Chiêm Thành lập huyện Yên Phúc và Hòa Đa, đặt bộ máy cai trị. Từ đấy Chiêm Thành bị mất nước!

 
Chiêm Thành mất nước: “Người xưa đâu, mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu, thành quách đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu!”

Khi lấy xong nước Chiêm, tầm nhìn của các chúa nguyễn lại hướng về đất phương Nam.
       Phương Nam , lúc bấy giờ là nước Chân Lạp đất rộng người thưa. Chúa Nguyễn Phúc Chu giao hảo, gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp, rồi từ đó, qua Ngoc Vạn, xin cho dân ta sang Chân lạp buôn bán giao thương làm ăn sinh sống đến tận Sài Côn nay là Sài Gòn. Đối với Chân Lạp, nước nầy thường bị Xiêm La ở phía Tây quấy nhiễu, nên cũng muốn dưa vào chúa Nguyễn đễ có thể cầu viện khi bị ngoại xâm.
 Năm 1642 Chân Lạp bị nội lọan, chúa Nguyễn Phúc Tần ra tay can thiệp, đưa quân vào dẹp lọan. Kết quả là được vua Chân Lạp nhường cho đất Biên Hòa.

 
Văn miếu trấn biên Biên Hòa Đồng Nai:
“Thành đồng Tổ quốc mãi mãi vẻ vang
Hào khí Đồng Nai đời đời rực rỡ”

           Năm 1679, các tướng nhà Minh là trấn thủ Quảng Tây Dương Ngạn Địch, và tổng binh Cao, Lôi, và Liêm châu là Trần Thượng Xuyên vì không muốn quy hàng nhà Thanh, nên đem binh sang xin quy phục chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần nhận lời dung nạp, cho Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên ở Biên Hòa.
          Lại có một cựu thần nhà Minh là Mạc Cửu, cũng không muốn làm hàng thần của Thanh triều, nên đem quân sang Chân Lạp khai khẩn đất Phú Quốc, Cần Bột, Gia Khê, Luống Cày, Cà Mau lập nên Hà Tiên thất xã. Năm 1708, Mạc Cửu quy phục chúa Nguyễn, được chúa phong cho chức Tổng binh Hà Tiên. Dưới sự lảnh đạo của cha con Mạc Cửu, Hà Tiên trở nên phồn thịnh, trở thành miếng mồi ngon của Chân Lạp, Xiêm La. Năm 1739, Chân Lạp cho quân đánh Hà Tiên, chúa Võ vương sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Chân Lạp. Kết quả Chân Lạp thua trận, phải cắt dâng đất Gia Định, Gò Công, Tân An (ngày nay) để xin cầu hòa.

 
Non nước Hà Tiên ngày ấy, bây giờ!

         Năm 1756, Chân Lạp lại có nội lọan. Người của hòang thất Chân Lạp là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên, nhờ Mạc Thiên Tích (con Mạc Cửu ) xin chúa Nguyễn giúp đở. Chúa Nguyễn cử binh, đưa Nặc Tôn về làm vua Chân Lạp. Để đền ơn, Nặc Tôn dâng đất Vĩnh Long, Tân Châu, Sa Đéc, Châu Đốc (ngày nay) cho chúa Nguyễn, đồng thời cũng tặng  cho Mạc ThiênTích đất đai . Mạc Thiên Tích đều dâng đất cho Chúa Nguyễn. Từ từ, nước Chân Lạp bị suy yếu. Và lảnh thổ Việt Nam đã được mở đến tận mũi Cà Mau. Các Chúa Nguyễn đã hòan thành công cuộc Nam tiến thu giang sơn về một mối!

 
Dòng chảy  công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam.
Nhà Nguyễn là vương triều cuối cùng mở rộng cơ đồ, thu giang san về  một mối:

 Non sông muôn thửơ vững âu vàng”!

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH-Số: 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC.

BỘ TƯ PHÁP - TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO - VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Số: 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 26 tháng 07 năm 2010                          
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự
__________________________________________
Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 02 tháng 4 năm 2002;
Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 02 tháng 4 năm 2002;
Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự,
Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự như sau:
Chương I
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 1. Kiến nghị đối với bản án, quyết định của Toà án
1. Trường hợp phát hiện phần quyết định của bản án, quyết định của Toà án có những điểm chưa rõ gây khó khăn cho việc thi hành án hoặc phát hiện lỗi chính tả, số liệu sai sót do nhầm lẫn hoặc tính toán sai thì cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu bằng văn bản gửi Toà án đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót. Toà án được yêu cầu có trách nhiệm trả lời về những vấn đề được nêu trong văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự.
Việc giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc sai sót về số liệu được thực hiện theo quy định tại Điều 240, Điều 382 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 179 Luật thi hành án dân sự. Văn bản trả lời của Toà án là căn cứ để cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, quyết định thu hồi hoặc sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành. Quyết định thi hành án mới phải được ban hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản và cần có nội dung tiếp tục duy trì kết quả thi hành án nếu quá trình tổ chức thi hành án trước đó không có sai sót về trình tự, thủ tục thi hành án.
2. Trường hợp phát hiện có căn cứ để xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án nơi đang tổ chức thi hành vụ việc có trách nhiệm kiến nghị với người có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đó. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị, người có thẩm quyền phải trả lời kiến nghị.
3. Đối với những trường hợp đã có văn bản kiến nghị xem xét lại bản án, quyết định mà không nhận được văn bản trả lời khi đã hết thời hạn quy định tại Khoản 3 Điều 179 Luật thi hành án dân sự hoặc tuy chưa hết thời hạn mà nhận được văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền về việc không có cơ sở chấp nhận đơn khiếu nại của đương sự, không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án thông báo cho Chánh án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền về việc không nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền.
Điều 2. Ra quyết định thi hành án
1. Trường hợp nhận được nhiều đơn yêu cầu thi hành án liên quan đến một bản án, quyết định vào cùng một thời điểm thì tuỳ thuộc vào nội dung của bản án, quyết định của Toà án, số đơn và thời điểm nhận được đơn yêu cầu thi hành án, phạm vi yêu cầu thi hành án, thời hạn ra quyết định thi hành án để thực hiện việc ra một hay nhiều quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự.
Trường hợp có nhiều người phải thực hiện nghĩa vụ liên đới thì nếu người được thi hành án yêu cầu một hoặc một số người trong những người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ liên đới thi hành toàn bộ nghĩa vụ thì cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án đối với người đó.
2. Trường hợp đương sự là người chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc đương sự là pháp nhân thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người đại diện theo pháp luật của đương sự.
Trường hợp đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của người giám hộ.
Trường hợp đương sự có uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của người được uỷ quyền.
3. Đối với bản án, quyết định của Toà hành chính, cơ quan thi hành án dân sự chỉ thụ lý và ra quyết định thi hành án đối với phần nghĩa vụ về tài sản như án phí, bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, giao lại đất đai được tuyên cụ thể trong bản án, quyết định của Toà án. Những nội dung khác của bản án, quyết định như tuyên bác đơn kiện, giữ nguyên quyết định hành chính hoặc huỷ quyết định hành chính, không tuyên rõ các quyền và nghĩa vụ cụ thể về các khoản tài sản nêu trên thì do cơ quan hành chính có thẩm quyền thi hành.
4. Đối với các bản án, quyết định có tuyên tổng hợp hình phạt tiền trong đó có khoản tiền đã được giải quyết tại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đang được tổ chức thi hành, thì cơ quan thi hành án không ra quyết định thi hành án mà có văn bản kiến nghị người có thẩm quyền xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định có tuyên tổng hợp hình phạt tiền.
Khi có bản án, quyết định của Toà án chấp nhận yêu cầu của đương sự về thay đổi mức cấp dưỡng, người cấp dưỡng mà vụ việc đang được cơ quan thi hành án tổ chức thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định thi hành án đã ban hành và ra quyết định thi hành án theo bản án, quyết định mới. Việc thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện bắt đầu từ thời điểm được xác định tại bản án, quyết định mới của Tòa án mới, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. 
5. Trong trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ mà có kháng nghị thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm thông báo ngay cho người đã kháng nghị biết kết quả đã thi hành. Toà án xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có trách nhiệm gửi thông báo về kết quả thi hành án nói trên cho cơ quan được giao điều tra lại hoặc Toà án được giao xét xử lại. Khi xét xử lại và quyết định về quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự, Toà án có trách nhiệm xem xét kết quả thi hành án đã được báo cáo để tính toán, đối trừ phù hợp với kết quả thi hành án và nghĩa vụ, quyền lợi của các bên đương sự. Khi bản án, quyết định mới của Toà án được đưa ra thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo quy định của pháp luật. Trường hợp phần đã thi hành cho người được thi hành án vượt quá so với bản án, quyết định mới thì cơ quan thi hành án có quyền buộc người đó giao trả lại cho cơ quan thi hành án để tổ chức thi hành theo bản án, quyết định mới. Trường hợp bản án, quyết định bị kháng nghị đã được tổ chức thi hành một phần thông qua bán đấu giá nay bị huỷ, sửa thì cơ quan thi hành án tiếp tục hoàn thiện thủ tục theo quy định của pháp luật cho bên mua đấu giá, trừ trường hợp thủ tục bán đấu giá vi phạm quy định của pháp luật.
Điều 3. Thông báo về thi hành án
1. Trường hợp do đường sá xa xôi, giao thông không thuận tiện, người được thông báo có nhiều địa chỉ liên lạc, nơi ở không cố định, thường vắng mặt ở nhà vào giờ hành chính, đương sự đang bị giam, tạm giam và các trường hợp khác mà việc thông báo trực tiếp có khó khăn thì việc thông báo được thực hiện qua đường bưu điện bằng thư bảo đảm.
2. Trường hợp thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác theo yêu cầu của người được nhận thông báo thì Chấp hành viên phải lưu vào hồ sơ thi hành án văn bản thể hiện yêu cầu, văn bản cần thông báo và văn bản thể hiện kết quả thông báo như bức điện tín, thư điện tử, báo cáo bản fax đã được gửi.
3. Thông báo đối với người đang bị giam, tạm giam được thực hiện theo địa chỉ nơi người đó đang bị giam, tạm giam. Giám thị trại giam, tạm giam có trách nhiệm giao văn bản thông báo cho người được thông báo.
4. Trường hợp có uỷ quyền thì việc thông báo các văn bản về thi hành án được thực hiện đối với  người được uỷ quyền.
5. Trường hợp giao thông báo qua người khác thì người thông báo phải lập biên bản ghi rõ họ tên, chức vụ, địa chỉ của người nhận thay; ngày, giờ nhận thay; quan hệ giữa họ với người được thông báo (nếu có); cam kết giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người được thông báo. Biên bản có chữ ký của người nhận và người giao thông báo.
6. Nếu người được nhận thông báo từ chối hoặc cố tình không nhận thông báo thì người thông báo lập biên bản về việc từ chối và nêu rõ lý do có xác nhận của người làm chứng. Người được thông báo được coi là đã được thông báo hợp lệ.
7. Việc niêm yết được thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người được thông báo cư trú hoặc cư trú cuối cùng và tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo. Việc xác định nơi cư trú được thực hiện theo pháp luật về cư trú.
Trường hợp niêm yết để bán đấu giá tài sản thì nơi niêm yết thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá. 
Điều 4. Xác minh điều kiện thi hành án
1. Việc xác minh đối với tài sản thuộc diện phải đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản cần căn cứ vào hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc tặng cho, giấy chứng nhận về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; thông qua chủ sở hữu, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng hoặc người làm chứng như xác nhận của người bán, của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng về việc mua bán tài sản.
2. Đối với trường hợp đình chỉ thi hành án do người được thi hành án chết mà không có người thừa kế thì phải xác minh qua chính quyền địa phương, cơ quan quản lý hộ khẩu, nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thi hành án. Kết quả xác minh thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương để người có quyền, nghĩa vụ liên quan biết và bảo vệ lợi ích của họ. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo công khai hợp lệ mà không có người khiếu nại thì được coi là có căn cứ đình chỉ thi hành án.
Điều 5. Thi hành án đối với nghĩa vụ liên đới
1. Trường hợp bản án, quyết định của Toà án mà theo đó nghĩa vụ liên đới không xác định rõ phần nghĩa vụ của từng người, thì cơ quan thi hành án yêu cầu một hoặc một số người có điều kiện thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới.
2. Trường hợp bản án, quyết định của Toà án mà theo đó nghĩa vụ liên đới xác định rõ phần của từng người và họ đều có điều kiện thi hành án, thì cơ quan thi hành án yêu cầu mỗi người thực hiện phần nghĩa vụ của mình.
3. Nếu người có nghĩa vụ liên đới không có điều kiện thi hành án, thì cơ quan thi hành án yêu cầu những người có điều kiện thi hành án thực hiện thay phần nghĩa vụ của người đó. Người đã thực hiện thay phần nghĩa vụ thi hành án có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ liên đới khác thanh toán lại phần nghĩa vụ mà người đó đã thực hiện thay cho họ theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật dân sự.
Điều 6. Kê biên, xử lý tài sản để thi hành án
1. Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án.
Kể từ thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để thi hành án.
2. Thủ tục giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Toà án theo khoản 4 Điều 179 Luật thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản theo quy định của pháp luật, trường hợp có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án chỉ xử lý tài sản khi có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
3. Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp mà có giá trị bằng hoặc nhỏ hơn nghĩa vụ phải thanh toán theo hợp đồng cầm cố, thế chấp thì Chấp hành  viên phải thông báo cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của người phải thi hành án; yêu cầu người nhận cầm cố, thế chấp thông báo để cơ quan thi hành án kê biên tài sản đã cầm cố, thế chấp khi người vay thanh toán hợp đồng đã ký hoặc để kê biên phần tiền, tài sản còn lại (nếu có) sau khi tài sản bị bên nhận cầm cố, thế chấp xử lý để thanh toán hợp đồng đã ký.
4. Trường hợp người phải thi hành án đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà việc đề nghị không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan thì Chấp hành viên lập biên bản giải thích cho đương sự về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đối với việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án. Đương sự không bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác còn lại.
Trường hợp tài sản mà người phải thi hành án đề nghị kê biên không đủ để thi hành các nghĩa vụ thi hành án và các chi phí liên quan thì Chấp hành viên phải yêu cầu người phải thi hành án không được thực hiện giao dịch đối với những tài sản khác còn lại.
5. Cơ quan thi hành án chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án nếu sau khi đã khấu trừ số dư (tiền Việt Nam, ngoại tệ); xử lý vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá khác; khấu trừ tài sản của người phải thi hành án đang do cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân khác giữ mà vẫn không đủ để thi hành án.
Điều 7. Chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án
1. Trường hợp thi hành nghĩa vụ về trả tài sản mà người phải thi hành án đã chết nhưng có người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản đó thì cơ quan thi hành án ấn định thời hạn không quá 30 ngày để người quản lý, sử dụng tài sản của người phải thi hành án giao tài sản cho người được thi hành án. Hết thời hạn này mà họ không thực hiện hoặc tài sản không có người quản lý, sử dụng trực tiếp thì cơ quan thi hành án tổ chức giao tài sản, kể cả cưỡng chế giao tài sản cho người được thi hành án theo quy định của pháp luật.
 2. Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về thanh toán tiền đã chết mà có để lại tài sản thì cơ quan thi hành án có văn bản thông báo, ấn định thời hạn không quá 30 ngày để người thừa kế hoặc người quản lý di sản của người phải thi hành án thoả thuận thực hiện. Hết thời hạn này, nếu người thừa kế hoặc người quản lý di sản không thoả thuận được việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án, thì cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với tài sản để lại của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án, đồng thời ấn định thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo để những người liên quan đến tài sản thực hiện quyền khởi kiện. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật.
Chương II
QUAN HỆ PHỐI HỢP TRONG CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 8. Kiểm sát hoạt động thi hành án
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát và trình tự, thủ tục thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và pháp luật về thi hành án.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện việc kiểm sát hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo kế hoạch kiểm sát định kỳ được xây dựng từ đầu năm hoặc đột xuất theo yêu cầu công tác.
Kết thúc việc kiểm sát hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân phải có kết luận kiểm sát.
Khi phát hiện quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, của Chấp hành viên có vi phạm pháp luật, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân phải ban hành văn bản kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm.
Điều 9. Gửi quyết định về thi hành án
1. Cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp hoặc gửi bằng đường bưu điện các quyết định về thi hành án cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, trừ kế hoạch cưỡng chế thi hành án thì phải được gửi ngay.
2. Các quyết định về giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao (thông qua Vụ kiểm sát thi hành án) để thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự.
Điều 10. Công tác phối hợp trong thi hành án
1. Định kỳ hàng năm, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp tổ chức họp liên ngành vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 để rút kinh nghiệm, bàn biện pháp khắc phục thiếu sót, thống nhất chỉ đạo công tác thi hành án.
2. Mỗi năm ít nhất một lần, Vụ kiểm sát thi hành án thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Toà chuyên trách của Toà án nhân dân tối cao phối hợp kiểm tra công tác thi hành án dân sự và công tác phối hợp trong thi hành án dân sự ở địa phương; kịp thời kiểm tra và thống nhất biện pháp giải quyết đối với những vụ việc thi hành án có vướng mắc hoặc có quan điểm khác nhau. Thời gian, kế hoạch tổ chức do Tổng cục Thi hành án dân sự chủ động.
3. Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự tại các địa phương phải thường xuyên phối hợp để thực hiện tốt công tác thi hành án. Khi có vướng mắc thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chánh án Toà án nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp kịp thời báo cáo về Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao để có biện pháp thống nhất giải quyết.
Chương III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 11. Hiệu lực thi hành
Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2010 và thay thế các văn bản sau đây: Thông tư liên ngành số 981/TTLN ngày 21 tháng 9 năm 1993 của Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự, Thông tư liên tịch số 12/2001/TTLT-BTP-VKSTC ngày 26 tháng 2 năm 2001 của Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định pháp luật thi hành án dân sự. 
Điều 12. Tổ chức thực hiện
Quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc cần bổ sung, sửa đổi thì các cơ quan thi hành án dân sự, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp kịp thời báo cáo về Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao để có biện pháp giải quyết./.
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
BỘ TƯ PHÁP
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
PHÓ CHÁNH ÁN
THỨ TRƯỞNG
(Đã ký)
(Đã ký)
(Đã ký)
   
Hoàng Nghĩa Mai
Từ Văn Nhũ
Nguyễn Đức Chính