Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

10 vị tướng tài giỏi nhất mọi thời đại!


10 vị tướng vĩ đại nhất lịch sử thế giới
Lịch sử nhân loại từ cổ đến kim có nhiều vị tướng tài giỏi xuất chúng. Với thiên tài quân sự của mình, họ có thể làm thay đổi cả trật tự thế giới. Xin giới thiệu mười danh tướng tiêu biểu sau đây:

1. Alexander đại đế (384 - 322)

Người chinh phục vĩ đại nhất suốt lịch sử của Hi Lạp cổ. Những chiến công của ông được đánh giá cao vì nó làm cho văn hoá Hi Lạp được lưu truyền khắp nơi, đạt đến đỉnh cao nhất trong lịch sử Văn minh nhân loại.

[​IMG]

2. Hanibal Barca (247-183)

Vị tướng huyền thoại này với lực lượng ít và yếu hơn hẳn đế chế Rome nhưng đã tiến hành những cuộc hành quân vô tiền khoáng hậu từ Cathegne (Tây Ban Nha ngày nay) đánh thẳng vào Rome, với những chiến thắng vang dội làm suy yếu tận gốc rễ đế chế La Mã, mặc dù sau này Rome phản công và đã phải dùng đến chính sách lược của Hanniban là cho quân đánh thẳng đến Cathegne khiến cho Hanniban thua trận phải tự sát nhưng từ đấy đế quốc La Mã suy tàn không còn gượng dậy được nữa.

[​IMG]

3. Julius Cesar (100 - 44) 

Tổng tài của đế chế La Mã, người chinh phục gần như toàn bộ Châu Âu thời bấy giờ, chiếm sang cả Ai Cập và Babylon; rất nổi tiếng với bản báo cáo chiến thắng gửi Viện Nguyên lão khi ông được cử chinh phục Babylon : “VENI, VEDI, VICI” (Ta đã đến, đã nhìn thấy, đã thắng).... bộc lộ sự kiêu căng của một người tài năng chiến thắng.

[​IMG]
Đó là 3 danh tướng tiêu biểu cho thời Cổ. 

4. Thành Cát Tư Hãn (1162 - 1227)

Nhà chinh phục vĩ đại nhất của nhân loại, mở ra đế quốc Nguyên Mông chưa từng có trong lịch sử, thiên hạ anh hùng cổ kim không ai sánh bằng. Những cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn có sự tàn phá nặng nề với các nền Văn Minh khác, thậm chí là xoá sổ ." Vó ngựa Mông cổ đi đến đâu, nơi đó cây cỏ cũng không mọc được ".

[​IMG]

5. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228 - 1300) 

Mọi người thường gọi là Trần Hưng Đạo, một vị danh tướng anh hùng dân tộc Việt Nam đã đánh bại đạo quân thiện chiến vô địch của con cháu Thành Cát Tư Hãn. Sau chiến thắng 1288, đế chế Mông Cổ bắt đầu suy yếu và tan rã trên phạm vi toàn thế giới. Hoàng gia Anh đã tặng đức Thánh Trần danh hiệu Người đánh bại đế chế Mông Cổ.

[​IMG]

Đó là hai danh tướng nổi bật và tiêu biểu cho thời trung cổ.

6. Oliver Cromwell (1599 - 1658) 

Là danh tướng nước Anh, lừng danh trong lịch sử với đội quân sườn sắt đã đánh bại quân độicủa hoàng gia Stewart trong cuộc cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII, chém đầu vua Anh Charles I (1649), sau trở thành Bảo Hộ Công, tổng tài của Anh quốc.

[​IMG]

7. Napoleon Bonaparte (1769 - 1821) 

Hoàng đế Pháp vĩ đại chinh phục gấn hết Châu Âu, danh tướng vĩ đại nhất thế giới thế kỷ 19. (Bộ “dân luật” ảnh hưởng đến cả châu Âu - gián tiếp khiến cho các quốc gia Đức và Ý hình thành, ảnh hưởng về tổ chức quân đội, chiến lược tác chiến trên thế giới, gieo rắc tư tưởng tự do. Những cuộc chinh phục cũng như nghệ thuật chiến tranh của ông đã đi vào lịch sử chiến tranh của nhân loại.

[​IMG]

8. Mikhaiin Cutudop (1745 -1813) 

Danh tướng Nga, đã đánh bại Napoleon chặn đứng cuộc xâm lăng của Napoleon vào Nga (1812), sau đó lãnh đạo liên quân các nước Áo - Phổ tiến đánh Paris lật đổ hoàn toàn sự thống trị của Napoleon. Ở Nga ông được xem như anh hùng dân tộc. Cùng với Suvurop, ông được lịch sử vinh danh là bậc thầy của nghệ thuật hành quân vượt núi. 

[​IMG]

Đó là 3 danh tướng tiêu biểu cho thời cận đại.

9. Geogry Zukop (1896 - 1974)

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, hiếm có vị tướng nào chưa bao giờ nếm mùi thất bại, chỉ biết có chiến thắng, hết trận này đến trận khác. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh trong Thế chiến thứ hai, Nguyên soái G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, chiếm bảng vàng về tài năng chỉ đạo chiến dịch,chiến lược. Những chiến tích sáng chói của ông trở thành tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.

[​IMG]

10. Võ Nguyên Giáp (25/08/1911 - 04/10/2013) 

Võ Nguyên Giáp là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Là Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông chỉ huy chính trong Chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam.

Không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28 tháng 5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, Ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi 37 tuổi.

Viện Hàn Lâm hoàng gia Anh vinh danh ông là người đánh đổ hai chế độ thực dân cũ và mới, bậc thầy của chiến tranh du kích.


[​IMG]

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Về thái độ ứng xử của người việt với tự nhiên trong tín ngưỡng thờ mẫu

  

Với niềm tin vào sức mạnh cai trị và ban phát các hiện tượng tự nhiên của các Thánh Mẫu, các Mẹ, người Việt đã xây dựng cho mình một triết lý nhân sinh phù hợp với hoàn cảnh và môi trường sống của mình. Đó là triết lý sống hoà hợp nhưng chứa đựng những khát vọng vươn lên trong việc năm vững và chế ngự các hiện tượng tự nhiên để phục vụ cho hoạt động sống của con người.
1. Đặt vấn đề
Cho đến nay, với chiều dài hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển của mình, xã hội người Việt nói chung, đời sống tâm linh của người Việt nói riêng đã có những thay đổi rất mạnh mẽ, luôn theo sát với sự thay đổi của xã hội. Bên cạnh những tôn giáo lớn được du nhập vào Việt Nam với những giáo lý, tổ chức chặt chẽ mang tính hệ thống cao như Ki tô giáo, Phật giáo, Nho giáo… hay những tôn giáo được hình thành ở Việt Nam như Cao Đài, Hoà Hảo, thì còn tồn tại và phổ biến rất nhiều những hình thức tín ngưỡng dân gian, mà sức sống và sự lan toả của nó trong dân chúng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tiến hành tìm hiểu nhưng vẫn chưa đưa ra được những câu trả lời cuối cùng.
Có thể thấy rằng tín ngưỡng dân gian của người Việt nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng là sản phẩm văn hoá của người Việt trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội mà nền tảng là chế độ nông nghiệp lúa nước với gia đình tiểu nông phụ quyền làm trung tâm trong một môi trường làng xã khép kín. Trên cơ sở những đặc trưng về văn hoá và tư duy của mình, người Việt, trong quá trình phát triển đã thu nhận không ít những giá trị văn hoá, tinh thần ngoại sinh để bồi đắp nên một sản phẩm tinh thần của riêng mình, khẳng định được bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều lớp văn hoá khác nhau được tích hợp hoặc chồng lấp lên nhau trong một loại hình tín ngưỡng, chẳng hạn như trong tín ngưỡng thờ Mẫu, có rất nhiều dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo…. Chính sự tiếp nhận và điều chỉnh này đã giúp tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng dân gian của người Việt nói chung có khả năng tự biến đổi cao, luôn vận động, thích ứng và bám sát cuộc sống, trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của người Việt.
Tín ngưỡng thờ Mẫu, mặc dù chỉ là một loại hình tín ngưỡng dân gian, nhưng nó đã được người Việt gửi gắm trong đó những suy nghĩ, những quan niệm, những tình cảm mang tính trực quan cảm tính về vũ trụ, về con người, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, và về mối quan hệ giữa con người với xã hội.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không có ý dịnh đi sâu vào tìm hiểu và phân tích bản chất cũng như nội dung của tín ngưỡng thờ Mẫu, hoặc giả chúng tôi đưa ra một cách hiểu của mình về khái niệm của tín ngưỡng thờ Mẫu thì cũng không có ý định sẽ đi sâu làm sáng tỏ sự khác biệt giữa quan niệm của chúng tôi với một số quan niệm của các học giả khác khi coi tín ngưỡng thờ Mẫu là một Đạo, một tôn giáo đang hình thành hay nó chỉ là một tục lệ dân gian chứa đựng nhiều yếu tố mê tín dị đoan mà thôi. Việc đưa ra khái niệm chỉ với mong muốn là tìm một công cụ giúp chúng tôi đạt được mục đích của mình là làm sáng tỏ thái độ ứng xử của con người với giới rtự nhiên trong quan niệm của tín ngưỡng thờ Mẫu.
2. Về khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu
Bản thân khái niệm “tín ngưỡng thờ Mẫu” hiện nay vẫn còn rất nhiều quan điểm không đồng nhất, tuy nhiên, đa số các học giả đều thống nhất rằng thuật ngữ “Mẫu” là một danh từ gốc Hán Việt được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Mẫu có thể được hiểu theo
nghĩa thông thường là mẹ, mụ, mạ hay mế dùng để chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó, là tiếng xưng hô của người con đối với người mẹ đã sinh ra mình.
“Mẫu” cũng được hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là sự tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó (có thật hoặc không có thật) như: Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ… Và thậm chí, Mẫu cũng còn được dùng để chỉ sự sinh sôi nảy nở, sinh hoá không
ngừng của vạn vật (đặc biệt là những yếu tố mà sự sinh sôi nảy nở của nó ảnh hưởng mật thiết đến đời sống của con người) ví dụ như những danh xưng: Mẹ cây, Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ núi rừng, Mẹ lúa, Mẹ chim, Mẹ cá…
Trong tất cả những các hiểu đó, Mẫu không mang trong mình tính sáng thế mà chỉ mang ý nghĩa đùm bọc, che chở, bao dung, độ lượng, nuôi dưỡng, và sinh sôi nảy nở cho con người và vạn vật mà thôi. Có lẽ chính từ những ý nghĩa đó của Mẫu mà số người tìm đến với tín ngưỡng thờ Mẫu không hề suy giảm trong lịch sử cũng như ở hiện tại.
Với cách hiểu như vậy về Mẫu thì tín ngưỡng thờ Mẫu được hiểu là một loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu - đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của vũ trụ, đất nước và con người.
Trong đó, thờ nữ thần là thờ những vị thần là nữ. Nữ thần được thờ có thể là nhiên thần như: thần sấm, thần Mây, thần Mưa, thần Chớp (Tứ pháp), Mẹ Lúa, mẹ Chim, mẹ Cá….; có thể là nhân thần như: Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Âu Cơ, Ỷ Lan, Bà Trưng, Bà Triệu….
Thờ Mẫu thần là sự phát triển từ thờ Nữ thần, ở đó chỉ những nữ thần là chủ thể của sinh nở mới được tôn là Mẫu. Danh xưng Mẫu gắn với chức năng sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dạy con cái. Còn trong thờ Nữ thần có các nữ thần không bao hàm yếu tố này như những “Bà cô” (là những người phụ nữ không có chồng, con hoặc phụ nữ bị chết trẻ chưa có chồng).
Thờ Tam phủ - Tứ phủ chính là mức phát triển cao về nhiều mặt từ thờ Mẫu thần. Sự phát triển này không chỉ dừng lại ở tính hệ thống (Trong thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ đã có sự nhất quán tương đối về điện thần với các phủ (Thiên Phủ, Nhạc Phủ, Thoải (Thuỷ) Phủ, Địa Phủ) và các vị thần linh (Ngọc Hoàng, Mẫu, Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô, Cậu). Còn ở thờ Mẫu thần thì tính tản mạn, đôi khi rời rạc còn rất cao), ở quy mô thờ phụng (trong thờ Tam phủ - Tứ phủ, hệ thống thần linh đã có sự “chưng cất” (hay chắt lọc) từ tín ngưỡng đa nữ thần về một số vị nữ thần cơ bản gồm: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu
Thoải (Thuỷ), Mẫu Địa, ở nghi lễ và tổ chức (ở tín ngưỡng thờ Tam phủ - Tứ phủ bước đầu đã hình thành một hệ thống tổ chức và nghi lễ thờ cúng tương đối thống nhất, có một đội ngũ chức sắc và tín đồ chuyên nghiệp; có những lễ nghi và lễ hội đã được chuẩn hoá. Chẳng hạn như lễ Hầu đồng, lễ tháng Ba - giỗ Mẹ (giỗ thánh Mẫu Liễu Hạnh), lễ tháng Tám - giỗ Cha (giỗ vua cha Bát Hải, Đức Thánh Trần), tiệc cô Bơ (12-6), tiệc quan Tam phủ (24-6), tiệc ông Hoàng Bảy (17-7),...), mà còn ở ý nghĩa của nó (tín ngưỡng Mẫu Tam phủ - Tứ phủ bước đầu đã thể hiện được những quan niệm về thế giới, về nhân sinh, thể hiện được ý thức về cội nguồn dân tộc, đất nước…). Tất nhiên, với sự phát triển như vậy thì vẫn không thể coi thờ Tam phủ - Tứ phủ là một loại hình tôn giáo được (vấn đề này xin được làm rõ ở một bài viết khác). Chúng ta chỉ có thể coi tín ngưỡng thờ Tam phủ -Tứ phủ là một hình thức phát triển hơn của tín ngưỡng thờ Mẫu thần mà thôi.
http://mantico.hatvan.vn/uploads/news/daomauHHH.jpg
3. Về ứng xử của người Việt với tự nhiên trong tín ngưỡng thờ Mẫu.
Có thể khẳng định rằng, mặc dù chỉ là một loại hình tín ngưỡng dân gian nhưng nội dung của tín ngưỡng thờ Mẫu đã chứa đựng rất nhiều các quan niệm, tư tưởng về tự nhiên, về con người, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mối quan hệ giữa con người với con người. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, tín ngưỡng thờ mẫu đã mang theo nó tất cả những suy nghĩ, những ứng xử của người Việt với giới tự nhiên.
Có thể thấy rằng, trong mối quan hệ với tự nhiên thì tự nhiên là cái có trước, con người được sinh ra từ tự nhiên, tồn tại trong lòng tự nhiên và cần có tự nhiên để sinh tồn và phát triển. Nếu như những nền văn minh phương Tây đều xem thiên nhiên, tự nhiên như là thù địch và do vậy cần phải chinh phục, thống trị và biến đổi tự nhiên thì các nền văn minh phương Đông đều có xu hướng tôn trọng thiên nhiên, sống hoà đồng với tự nhiên1.
Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là mọi học thuyết phương Tây đều chủ trương đề cao thái độ chinh phục của con người đối với giới tự nhiên và cũng như vậy, không phải mọi triết thuyết phương Đông đều chủ trương con người phải hoà hợp với tự nhiên. Bởi vì ngay trong thế giới quan chinh phục tự nhiên cũng vẫn có những quan điểm còn tôn trọng tự nhiên hơn cả một vài quan điểm đề cao sự hoà hợp. Đây là một vấn đề khá phức tạp nhưng các học giả đều thừa nhận rằng sự khác nhau giữa thế giới quan phương Đông và phương Tây trong vấn đề về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là có thật và cũng rất đáng kể nhưng không phải là tuyệt đối.
Thái độ hoà hợp với tự nhiên của người phương Đông nói chung và người Việt nói riêng được hình thành từ rất sớm và đã định hình trên cơ sở những quan niệm về con người, về tự nhiên trong lịch sử. Theo nhiều tác giả, con người trong quan niệm của tất cả các tôn giáo phương Đông và trong hầu hết các học thuyết triết học phương Đông truyền thống đều không đối lập với tự nhiên, nó luôn luôn được coi là một thành tố, một bộ phận của giới tự nhiên2.
Ở Phương Tây, do sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc của môi trường địa văn hoá, cũng như những tư tưởng thần học Kitô giáo về sự sáng tạo của Thượng đế, đã làm nảy sinh thế ứng xử “con người phải chinh phục và cải tạo tự nhiên trong văn hoá phương Tây”.
Tất nhiên, chúng ta không thể nói rằng triết học Mác nằm ngoài truyền thống chinh phục thế giới của văn hoá Châu Âu. Bởi vì hơn ai hết, chính Mác đã khẳng định “các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn đề là cải tạo thế giới”3. Nhưng khác nhau là ở chỗ Mác và Ănghen đã đặt vấn đề phải cải tạo thế giới tự nhiên một cách biện chứng với một hệ thống các quan điểm hợp lý, cân đối, không thiên lệch. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ănghen cho rằng quan niệm đối lập giữa tinh thần với vật chất, giữa con người với tự nhiên, giữa linh hồn với thể xác… là quan niệm thịnh hành ở Châu Âu từ khi nền văn hoá cổ điển bị suy đồi. Đó là quan niệm “phi lý và trái tự nhiên” cần phải bị xoá bỏ. Sự tiến bộ của nền khoa học tự nhiên thế kỷ XIX, một mặt, cho phép con người hiểu được ngày càng chính xác hơn các quy luật của tự nhiên nhưng mặt khác cũng giúp con người ngày càng cảm thấy và nhận ra sự phụ thuộc của mình vào giới tự nhiên - con người với giới tự nhiên chỉ là một”
4. Như vậy , đối với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, con người chẳng qua cũng chỉ là một bộ phận của giới tự nhiên, là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, sống dựa vào giới tự nhiên và nằm trong lòng giới tự nhiên mà thôi. Nhưng khác với con vật (cũng là một bộ phận của giới tự nhiên, cũng dựa vào giới tự nhiên để sinh tồn), con người không chỉ cần đến tự nhiên như nguồn tư liệu sống, mà trước hết như nguồn tư liệu lao động. Tuy nhiên, để khỏi phải đối mặt với “sự trả thù của giới tự nhiên” như Ănghen đã cảnh báo, trong quá trình tác động vào giới tự nhiên, con người cần phải nhận thức được các quy luật của giới tự nhiên cũng như vận dụng chúng vào quá trình sản xuất vật chất của mình, thay vì phá vỡ những quy luật khách quan đó để khai thác tự nhiên một cách bừa bãi không theo quy luật.
Trong lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của mình, người Việt - với đặc thù nền văn minh lúa nước đã luôn gắn chặt với giới tự nhiên mà cụ thể là với cây, cỏ, thời tiết, đất đai, nước… Chính thiên nhiên là nơi che chở cho con người, là nơi cung cấp nguồn của cải nuôi dưỡng sự sống của con người và cũng chính thiên nhiên là những thế lực to lớn có thể cướp đi sự sống của con người. Vì vậy, người Việt bên cạnh sự yêu quý, tôn trọng tự nhiên
cũng bao hàm trong đó sự sợ hãi, lo lắng trước tự nhiên hay chính xác hơn là trước các hiện tượng của tự nhiên.
Điều này được thể hịên rõ nét qua tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của người Việt. Đối với người Việt, mọi sự vật, hiện tượng sinh hoá trong vũ trụ bao la và huyền bí này đều có thể được thờ cúng “một hòn đá lớn, một gốc cây cổ thụ, một rừng sâu, một vực sông, ngọn núi cao, một vũng nước giữa đồng, một gốc cây âm u đều là cơ sở của thần linh, thần ở khắp cả, thấm nhuần khắp cả, tất cả đều là thần”

5.Trong sự tín ngưỡng ấy, như Nguyễn Minh San đã nhận xét, “người Việt có xu hướng nữ tính hoá các hiện tượng tự nhiên, biến các thần tự nhiên thành các nữ thần và tôn phong nhiều vị nữ thần là Me/Mẫu”

6. Trên cơ sở những vị thần tự nhiên của mình, người Việt đã quy tụ, khái quát và thống nhất về Tứ vị Thánh Mẫu. 
Họ cho rằng toàn bộ các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều chịu sự chi phối của các Mẫu. Điều đó đã nói lên tình cảm cũng như mối quan hệ gần gũi, thân thiết của người Việt với giới tự nhiên.
Trong tâm thức của người Việt, tất cả các hiện tượng tự nhiên như: nắng hạn hay lũ lụt, đất đai khô cằn hay màu mỡ, cây cối, động vật phát triển hay lụi tàn đều nằm trong các quyền năng của Mẫu. Vì vậy, nếu được Mẹ, Mẫu che chở, đùm bọc như một người mẹ tự nhiên thì cuộc sống của con người sẽ được đảm bảo hơn.
Đối với mỗi con người thì “mẹ” là một từ luôn gợi cho ta cảm giác về sự gần gũi, thân thiện và được che chở. Mẹ chính là người đã “mang nặng đẻ đau” ra ta, nuôi nấng ta trưởng thành, bao bọc che chở cho ta vào đời. Vì vậy, dường như người mẹ mới thực sự là người quan trọng đối với người Việt và được người Việt dành cho những tình cảm đặc biệt. Người Việt thường nói: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” hay “cha sinh không tày mẹ dưỡng” để nói lên tình yêu, tình thân vô bờ bến đối với người mẹ.
Khi người Việt đồng nhất giới tự nhiên với Mẹ, Mẫu thì cũng có nghĩa người Việt mong muốn rằng:
Thứ nhất, giới tự nhiên đã sinh ra con người, hay nói cách khác, con người đã được sinh ra từ tự nhiên, được tự nhiên nuôi dưỡng và che chở bằng nguồn của cải vô tận của mình: cây cối trên mặt đất, động vật trong rừng, hải sản dưới biển, chim thú trên trời…và vì vậy, giới tự nhiên có thể được ví như người mẹ đã sinh ra, nuôi dưỡng và che chở cho con người. Do đó, trong mối quan hệ với tự nhiên, con người phải biết tôn trọng, quý trọng tự nhiên như quý trọng mẹ của mình vậy. Người Việt đến với tín ngưỡng thờ Mẫu (đến với các Thánh Mẫu cũng như các quân gia thị thần của các ngài) luôn với mong muốn được các Mẹ (Mẫu) che chở, bao bọc và phù hộ cho họ gặp được nhiều điều may mắn, giúp họ hiện thực hóa được những mong ước của mình trong cuộc sống - giống như người mẹ luôn quan tâm, lo lắng và theo sát, giúp đỡ những đứa con của mình vậy.
Một đặc trưng nổi bật trong tín ngưỡng của người Việt là bên cạnh sự phù hộ, che chở của các vị thần linh là sự trừng phạt. Trong quan niệm của tín ngưỡng Mẫu cũng vậy, nếu con người xúc phạm đến Mẫu thì sẽ phải chịu sự trừng phạt của Mẫu. Đó là những tai hoạ bất ngờ có thể ảnh hưởng đến cuộc sống, thậm chí là sinh mạng không chỉ của bản thân mà của gia đình, cộng đồng mình vậy. Phải chăng với quan niệm về sự trừng phạt của các Mẫu như vậy, người Việt muốn nói về “sự trả thù” của giới tự nhiên khi con người khai thác tự nhiên một cách thái quá, không tôn trọng các quy luật của tự nhiên, phá vỡ môi trường sinh thái như Ănghen đã từng nói đến.
Tất nhiên, sự trừng phạt này không làm lu mờ hay làm giảm lòng tin yêu, thành kính của các tín đồ đối với các vị thánh Mẫu mà ngược lại, nó còn làm tăng hơn nữa quyền uy (giống như sự nghiêm khắc) của các Mẫu đối với con người, và trong thực tiễn, dường như các Mẫu càng “nghiêm khắc” thì càng có nhiều người đến với các ngài hơn. Điều này được người Việt giải thích bằng chữ “thiêng”. Nếu người Việt nhận thấy các thánh Mẫu rất thiêng
trong việc trừng phạt con người vì đã có những hành vi hay lời nói xúc phạm các ngài thì cũng có nghĩa rằng các ngài sẽ có đủ quyền năng để đem đến cho con người những điều họ mong muốn đạt được trong cuộc sống.
Thứ hai, khi coi tự nhiên là mẹ, người Việt mong muốn cuộc sống của mình, của gia đình, cộng đồng, đất nước sẽ tốt đẹp, yên ổn hơn. Vì trong thâm tâm của họ, người mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi con cái của mình dù hoàn cảnh khó khăn như thế nào, như họ vẫn thường nói “hổ dữ không ăn thịt con”. Tất nhiên, trên hết, người Việt mong muốn nguồn của cải nuôi sống con người từ giới tự nhiên không ngừng sinh sôi nảy nở (với ý nghĩ rằng mẹ là chủ thể của sự sinh sôi và phát triển). Không chỉ như vậy, cùng với sự phát triển của lịch sử loài người thì đối tượng được người Việt mong muốn luôn sinh sôi nảy nở được mở rộng hơn. Khi đến với Mẫu, họ luôn ấp ủ và hy vọng rằng những điều tốt đẹp trong cuộc sống sẽ luôn đến với họ. Còn những tai hoạ, rủi ro thì sẽ bị hạn chế và bị mất đi bởi quyền năng vô hạn của Thánh Mẫu và những hoá thân của Người.
Thứ ba, thông qua quan niệm coi tự nhiên hay các hiện tượng, yếu tố cấu thành tự nhiên là Mẹ, Mẫu đã nói lên thế ứng xử thân thiện, tôn trọng của người Việt đối với giới tự nhiên. Tuy nhiên, do đặc thù của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước mới ở trình độ sơ khai nên bên cạnh tâm lý tôn kính, lo sợ đối với tự nhiên hay các vị thần linh trong tự nhiên, người Việt cũng thể hiện khát vọng khám phá và chế ngự các hiện tượng tự nhiên thông qua hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của mình. Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, không phải các vị thần đã sáng tạo ra con người mà ngược lại, con người sáng tạo (dựng lên) các vị thần để buộc các vị thần phục vụ cho cuộc sống hiện tại của mình. Người Việt đã sáng tạo ra hệ thống các thần linh cai quản các hiện tượng, các yếu tố cấu thành tự nhiên đồng thời trong các nghi thức tôn giáo của mình, người Việt đã mời hay thậm chí là bắt buộc thần linh giáng xuống sống gần con người, cùng với con người san sẻ lo âu, mong mỏi trong cuộc sống. Trong một số trường hợp, nếu thần linh không thực hiện được mong muốn của con người thì sẽ bị cộng đồng hoặc là phế truất hoặc là bị lãng quên. Tác giả Alfred Meynard đã rất có lý khi nhận xét người phương Đông đã đem cái vô hình xuống cuộc đời hàng ngày của họ. Họ sống với thế giới huyền bí, nhờ những cái gì họ tưởng đã thấy được, trái lại người phương Tây sống bên lề cái vô hình, không thân mật với vô hình, phủ nhận nó nữa vì không biết đến nó.7
Điều này được biểu hiện rõ hơn khi người Việt đã gán cho các vị thần cai quản toàn bộ không gian sống của mình là các Mẹ, Mẫu và các hoá thân của Ngài. Mặc dù Mẹ là những gì được coi là thân thương nhất, gần gũi nhất đối với con người nhưng với Mẹ trời, Mẹ đất, Mẹ nước… thì vẫn còn rất xa xôi, rất trừu tượng. Chính vì vậy, vào thế kỷ XVI, người Việt đã sáng tạo hình tượng Mẫu mới gần gũi hơn với con người, thân thiện hơn với con người - đó là Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh theo truyền thuyết là “người trần mắt thịt” có nguồn gốc từ tiên nữ, sau một thời gian sống như những người dân bình thường khác (sinh ra, lớn lên, lập gia đình, sinh con đẻ cái…cũng có những tình cảm yêu, ghét, hạnh phúc, đau khổ…) khi mất đi được nhân dân tôn là Địa Tiên Thánh Mẫu, được đưa vào thờ trong Tam Toà Thánh Mẫu ngang hàng với các vị Thánh Mẫu mang tính chất tự nhiên.
Có thể nói, Mẫu Liễu Hạnh chính là hiện thân của khát vọng của người dân Việt thế kỷ XVI trong quan hệ với tự nhiên và với xã hội. Do Mẫu Liễu có nguồn gốc là tiên trước khi là người trần nên trong điện thờ Mẫu đôi khi người ta đồng nhất Mẫu với Mẫu Thượng Thiên, và thậm chí cái khát vọng chinh phục tự nhiên của người Việt được đẩy cao hơn nữa khi họ coi Thánh Mẫu Liễu Hạnh là thần chủ của điện thờ Mẫu tức là đại diện của con người đã chế ngự toàn bộ Tam Toà Thánh Mẫu hay nói rộng hơn là toàn bộ giới tự nhiên.
Bên cạnh đó, không chỉ ở hàng Thánh Mẫu mà cả ở những hoá thân của các Mẫu cũng có sự hiện diện của con người ở trong đó. Chúng ta biết rằng, để thực hiện được các quyền năng của mình, các Mẫu thường thông qua các hoá thân của mình như: hàng chầu,
hàng quan, hàng cô, hàng cậu… để giúp việc cai quản các mặt khác nhau của đời sống trần tục và vì vậy, khi người Việt gán lai lịch các vị thần linh là hoá thân của Mẫu bằng những nhân vật lịch sử có thật thì cũng có nghĩa là người Việt muốn khẳng định vai trò bình đẳng của con người với các vị thần linh trong việc cai quản, ban phát các hiện tượng tự nhiên (chẳng hạn như: Quan đệ ngũ còn được goi là Quan Tuần Tranh được gắn với Cao Lỗ hay Trần Quốc Tảng). Trong mong muốn đó, người Việt muốn dựa vào năng lực của chính bản thân mình (những nhân vật lịch sử có thật đã hoá thân thành thần thánh) phục vụ cho nhu cầu và mục dích của mình chứ không muốn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên.
Tất nhiên, khát vọng cai trị tự nhiên, ngang hàng với tự nhiên của người Việt không có nghĩa là muốn đưa tự nhiên xuống “hàng dưới” để con người thoải mái tàn phá, khai thác và bóc lột, mà hơn hết, người Việt muốn sự hiện diện của mình trong hàng ngũ các thần cai quản tự nhiên với mong muốn hạn chế bớt những hiểm hoạ, những thiên tai do tự nhiên gây ra làm ảnh hưởng đến cuộc sống, sự sinh tồn của con người, để rồi từ đó lại ban phát của cải, hạnh phúc, và cuộc sống tốt đẹp hơn cho những người đang sống ở trần gian. Trong mối quan hệ giữa người Việt với tự nhiên thì hơn hết và rõ nét hơn cả là thái độ tôn trọng và sùng bái tự nhiên, coi trọng và đối xử với tự nhiên như đối xử với người mẹ của mình của mình vậy. Có như vậy người Việt nói chung, người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng mới có thể sinh tồn được trong một môi trường tự nhiên đầy những biến đổi khôn lường.
4. Nhìn chung, tín ngưỡng thờ Mẫu, mặc dù mới chỉ dừng lại là một tín ngưỡng chứ chưa phát triển thành một thứ tôn giáo theo nghĩa hoàn chỉnh của nó, nhưng nó đã phần nào thể hiện được những quan niệm mang tính trực quan cảm tính về vũ trụ, về con người, về mối quan hệ giữa con người với tín ngưỡng, con người với xã hội.
Với niềm tin vào sức mạnh cai trị và ban phát các hiện tượng tự nhiên của các Thánh Mẫu, các Mẹ, người Việt đã xây dựng cho mình một triết lý nhân sinh phù hợp với hoàn cảnh và môi trường sống của mình. Đó là triết lý sống hoà hợp nhưng chứa đựng những khát vọng vươn lên trong việc năm vững và chế ngự các hiện tượng tự nhiên để phục vụ cho hoạt động sống của con người. Và vì vậy, chúng ta cần phải biết sàng lọc và loại bỏ những gì là mê tín dị đoan, những gì là hủ tục, là “buôn thần bán thánh” đang xảy ra đâu đó ở một vài cơ sở thờ tự của tín ngưỡng Mẫu, đồng thời phải biết chắt chiu, giữ lại những giá trị được thẩm thấu bên trong những niềm tin và hoạt động thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu. Có như vậy chúng ta mới có thể khẳng định được rằng “tín ngưỡng thờ Mẫu là một giá trị văn hoá tinh thần cao đẹp của Việt Nam. Đó là tinh hoa được chắt lọc trong suốt chiều dài lịch sử, là biểu tượng cho sức mạnh của cộng đồng cho sự sáng tạo và phát triển không ngừng của dân tộc Việt Nam. Trong truyền thống văn hoá ấy của dân tộc, Mẫu đã trở thành biểu tượng cho ý chí dựng nước và giữ nước, cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”8.

Chú thích:
1. Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1997 tr19-20.
2. Hồ Sỹ Quý (CB), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb KHXH, H, 2000, 37.
3. C.Mac và Ph.Anghen, Toàn tập, tập 3,Nxb CTQG,HN,1993,tr12
4. C.Mác và Ph.Ănghen,Sdd,tập 20 (1994), tr 655.
5. Nguyễn Đăng Thục, Tư tưởng Việt Nam, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn,1963, Sdd, tr 20.
6. Nguyễn Minh San, Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội,1998, tr 12.
7. Nguyễn Đăng Thục, Sdd, tr 50.
8. Ngô Đức Thịnh (CB) (2004), Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á, Nxb Khoa học xã hội, H. tr.18.

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Ký ức kinh hoàng về thảm sát Mỹ Lai 47 năm trước



Ngày 16/3/1968, theo lệnh cấp trên, tốp lính Mỹ xả súng bừa bãi tại thôn Mỹ Lai thuộc tỉnh Quảng Ngãi, khiến hơn 500 người, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, thiệt mạng.
Trực thăng Bell UH-1D Iroquois của quân đội Mỹ hạ cánh xuống một bãi đất trống trong vụ thảm sát tại Mỹ Lai, ngày 16/3/1968.
Trực thăng Bell UH-1D Iroquois của quân đội Mỹ hạ cánh xuống một bãi đất trống tại thôn Mỹ Lai, làng Sơn Mỹ thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, ngày 16/3/1968. Sau sự kiện Tết Mậu Thân (tháng 1/1968), tình báo Mỹ cho rằng tiểu đoàn 48 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã ẩn náu tại làng Sơn Mỹ. Lục quân Mỹ quyết định tổ chức một cuộc tấn công lớn vào những thôn bị nghi ngờ. Ảnh: Getty
Tuy nhiên, lính Mỹ không tìm thấy các thành viên của tiểu đoàn 48 tại ngôi làng. Thay vào đó họ chỉ thấy những người dân thường, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đang cố gắng tìm chỗ ẩn nấp trước cuộc càn quét của quân đội Mỹ. Trung đội của thiếu úy William Calley bắt đầu xả súng vào các
Tuy nhiên, lính Mỹ không tìm thấy các thành viên của tiểu đoàn 48 tại ngôi làng. Thay vào đó họ chỉ thấy dân thường, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đang cố gắng tìm chỗ ẩn nấp trước cuộc càn quét của quân đội Mỹ. Nhiếp ảnh gia quân đội Mỹ Ron Haeberle theo chân Đại đội Charlie để ghi lại những cảnh tượng kinh hoàng ngày hôm đó. Ảnh: Getty
a
Xác 3 thường dân Việt Nam nằm giữa một con đường làng sau khi trúng đạn. Lính Mỹ dùng súng, lưỡi lê hoặc lựu đạn để giết chết dân thường. Thiếu úy William Calley ra lệnh cho binh sĩ xả súng vào các "địa điểm tình nghi có đối phương". Những dân thường đầu tiên bị giết hoặc bị thương bởi các loạt đạn không ngừng. Ảnh: Getty
Đại úy Ernest Medina, chỉ huy cuộc thảm sát Mỹ Lai, ra lệnh cho binh sĩ Mỹ “đốt nhà, giết vật nuôi và các loại cây trồng và thực phẩm”.
Trong khi đó, đại úy Ernest Medina, chỉ huy cuộc thảm sát Mỹ Lai, ra lệnh cho binh sĩ Mỹ đốt nhà, giết vật nuôi, tàn phá các loại cây trồng và thực phẩm, theo BBC. Ảnh: Getty
Một binh sĩ Mỹ châm lửa đốt
Một lính Mỹ châm lửa đốt nhà dân. Ảnh: My Lai Massacre Museum
s
Ngọn lửa nhanh chóng thiêu rụi ngôi nhà tranh của người dân làng Mỹ Lai. Ảnh: Getty
a
Lính Mỹ dồn phụ nữ và trẻ em vào một góc trước khi xả súng. "Những gia đình tụm lại ẩn nấp trong các căn lều hoặc hầm tạm, bị giết không thương tiếc. Những người giơ cao hai tay đầu hàng cũng bị giết... Phụ nữ bị cưỡng bức hàng loạt. Lính Mỹ đánh đập, tra tấn những người quỳ lạy xin tha bằng báng súng và đâm họ bằng lưỡi lê", BBC mô tả cảnh tượng của cuộc thảm sát. Ảnh: Getty
Người anh che chở cho em trước loạt đạn của lính Mỹ. Khi chứng kiến cảnh hàng trăm người chết hoặc hấp hối, phi công trực thăng Hugh Thompson, khi đó 24 tuổi, thuộc phi đội thám không, quyết định giải cứu người dân. Trực thăng của phi đội Thompson hạ cánh và cứu được khoảng 12 đến 16 người trong một căn hầm. Phi đội Thompson sau đó còn cứu được một đứa bé toàn thân đầy máu nhưng vẫn sống sót từ trong mương đầy xác người. Ảnh: Getty
Một ông già ngồi trên nền đất. “Tôi không nhìn thấy cảnh lính Mỹ bắn ông ấy. Tôi nghe thấy hai tiếng súng và đoán ông già đã bị giết”, nhiếp ảnh gia Haeberle kể lại.
Một ông già ngồi trên nền đất. “Tôi không nhìn thấy cảnh lính Mỹ bắn ông ấy. Tôi nghe thấy hai tiếng súng và đoán ông già đã bị giết”, nhiếp ảnh gia Haeberle kể lại. Sau khi rời ngôi làng, Haeberle chứng kiến cảnh nhiều xác người dân vô tội nằm trên đường làng. “Một đứa bé chạy tới nơi có nhiều thi thể và quỳ xuống đất để tìm mẹ. Nhưng sau đó, một lính Mỹ đã xả súng bắn em”, ông hồi tưởng. Trong khi đó, binh nhất Robert Maples cho biết: "Khi rời làng, tôi không thấy một ai sống sót". Ảnh: National Archives
Chỉ một binh sĩ Mỹ duy nhất bị thương trong vụ thảm sát do trúng đạn của đồng đội.
Theo BBC, lính Mỹ đã giết 504 người, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, trong vụ thảm sát. Trong khi đó, chỉ một binh sĩ Mỹ bị thương do trúng đạn của đồng đội. 8 năm sau vụ việc, tháng 3/1971, người duy nhất bị kết án là thiếu úy William Calley vì phạm tội ác chiến tranh. Số người thiệt mạng dưới họng súng của Calley là khoảng 22 người. Ông ta chỉ phải ngồi tù 3 năm rưỡi với hình thức quản thúc tại gia. Ảnh: National Archives
Sau nhiều giờ xả súng điên cuồng, lính Mỹ ngồi nghỉ. Đây là bức ảnh cuối cùng mà Haeberle chụp trong vụ thảm sát.
Lính Mỹ ngồi nghỉ sau nhiều giờ xả súng điên cuồng. Vào ngày 5/12/1969, tạp chí LIFE đã đăng toàn bộ seri ảnh của nhiếp ảnh gia Haeberle cùng câu chuyện đằng sau những tấm hình. Cả thế giới khi ấy bàng hoàng trước cuộc tra tấn, hành hạ dân thường ghê rợn của lính Mỹ tại đất nước cách xa họ nửa vòng trái đất. Sự kiện thảm khốc này đã gây sốc cho dư luận, hâm nóng phong trào phản chiến và là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự triệt thoái của quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam những năm sau đó. Ảnh: National Archives

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

Chủ nghĩa thực dân


Chủ nghĩa thực dân là chính sách tạo dựng và duy trì hình thức thuộc địa của một người dân ở lãnh thổ này lên một lãnh thổ khác[1]Mẫu quốc là nước tuyên bố chủ quyền đối với những thuộc địa này. Cấu trúc xã hộichính quyền và kinh tế của lãnh thổ bị quốc gia thực dân áp đặt thay đổi.
Chủ nghĩa thực dân thường dùng để nhắc đến một giai đoạn lịch sử từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 khi những người châu Âu tiến hành xây dựng các thuộc địa của mình tại các lục địa khác. Những lý do để thực hiện chính sách thực dân trong thời kỳ này bao gồm:
  • Thu lợi về kinh tế.
  • Mở rộng uy quyền của mẫu quốc.
  • Trốn thoát sự ngược đãi tại mẫu quốc.
  • Cải đạo cho người dân bản xứ sang tín ngưỡng của những người thực dân.
Một số người thực dân cho rằng họ đang giúp đỡ những dân bản xứ bằng cách khai hóa cho họ bằng Giáo lý Cơ đốc và nền văn minh. Tuy nhiên, sự thật thường là sự nô dịch, chiếm đất hoặc cái chết.[2]
Thuộc địa là một bộ phận của đế chế do đó chủ nghĩa thực dân có liên hệ gần gũi với chủ nghĩa đế quốc.

Hình thức thực dân[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà sử học thường phân biệt hai loại chủ nghĩa thực dân, chủ yếu dựa trên số người từ mẫu quốc định cư tại thuộc địa:
  • Chủ nghĩa thực dân định cư với đội ngũ thực dân đông đảo, chủ yếu tìm những mảnh mất màu mỡ để lập trại.
  • Chủ nghĩa thực dân bóc lột có số thực dân ít hơn, thường chú trọng đến việc bòn rút nguồn tài nguyên để xuất khẩu sang mẫu quốc. Loại thực dân này bao gồm các trạm thông thương nhưng cũng gồm cả những thuộc địa lớn hơn, tại đó những người xâm chiếm sẽ nắm quyền điều hành nhiều hơn, sở hữu nhiều đất đai và tư bản hơn nhưng dựa vào nguồn lao động là những người dân bản xứ.
Cũng có sự trùng lắp giữa hai mô hình thực dân này. Trong cả hai trường hợp trên, đều có hiện tượng người chuyển từ mẫu quốc sang thuộc địa còn hàng hóa được xuất từ thuộc địa qua mẫu quốc.
Di dân thuộc địa thường được xem là phù hợp với mô hình chủ nghĩa thực dân bóc lột. Tuy nhiên, cũng có dân nhập cư thuộc thành phần khác - những nô lệ để canh tác hoa màu xuất khẩu.
Có một số trường hợp chủ nghĩa thực dân định cư diễn ra trong một khu vực đã có người sinh sống từ trước, kết quả dẫn đến có hoặc là một cộng đồng pha trộn chủng tộc (như những người lai ở châu Mỹ), hoặc phân theo chủng tộc, như tại Algérie thuộc Pháp hay Nam Rhodesia.
Lãnh thổ ủy thác Hội Quốc Liên về pháp lý là rất khác biệt với một thuộc địa. Tuy nhiên, có một số sự tương đồng với chủ nghĩa thực dân bóc lột.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ thế giới vẽ chủ nghĩa thực dân vào năm 1800.
Hiện thực thực dân hóa trải dài trên khắp thế giới và qua quãng thời gian dài, xuất hiện ở những dân tộc rất khác nhau nhưngười Hittitengười Inca và người Anh, mặc dù thuật ngữ chủ nghĩa thực dân thường gợi đến những cuộc chinh phục vượt biển của người châu Âu hơn là những các cuộc chinh phục trên đất liền ở sát nhau, ngay tại châu Âu hay bất cứ nơi khác.
Những cuộc chinh phục trên đất liền thường được ước định mô tả bằng thuật ngữ chủ nghĩa đế quốc, như Thời đại của chủ nghĩa đế quốc mà trong đó Chủ nghĩa thực dân là một khái niệm con, nhưng thuật ngữ chính thường để nhắc đến các cuộc chinh phục và xâm chiếm các thế lực địa lý yếu hơn ở gần đó. Những ví dụ về các đế quốc trên đất liền gồm có Đế chế Mông Cổ, một đế quốc lớn trải dài từ Tây Thái Bình Dương đến Đông Âu, Đế chế của Alexander Đại đếVương triều UmayyadĐế chế Ba TưĐế chế La MãĐế chế ByzantineĐế chế Ottoman được tạo ra trên khắp Địa Trung HảiBắc Phi và bên trong vùngĐông Nam châu Âu và tồn tại trong suốt thời gian các quốc gia châu Âu đi thực dân ở các phần khác trên thế giới.
Bản đồ thế giới của chủ nghĩa thực dân vào cuối Đệ nhị Thế chiến năm 1945.
Sau thời kỳ Reconquista của Bồ Đào Nha khi Vương quốc Bồ Đào Nha đấu tranh chống lại sự thống trị của Hồi giáo tại Iberia, vào thế kỷ 12 và 13, người Bồ bắt đầu mở rộng lãnh thổ ra hải ngoại. Chủ nghĩa thực dân châu Âu bắt đầu vào năm 1415, với việc Bồ Đào Nha chiếm được cảng Ceuta của người Hồi giáo tại Bắc Phi. Trong các thập niên tiếp theo Bồ Đào Nha đã phát triển các địa điểm thông thương, cảng biển và pháo đài dọc theo bờ biển châu Phi. Chủ nghĩa thực dân ngày càng mở rộng với các cuộc thám hiểm châu Mỹ, bờ biển châu PhiTrung ĐôngẤn Độ và Đông Á của hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Vào ngày 7 tháng 6 năm 1494Giáo hoàng Alexander VI đã chia thế giới thành hai nửa, chia phần phía tây cho Tây Ban Nha, và phía đông cho Bồ Đào Nha, một cử chỉ mà nước Anh và Pháp chưa bao giờ chấp nhận. Xem thêm Hiệp ước Tordesillas ra đời sau sắc lệnh của Giáo hoàng.
Nửa sau của thế kỷ 16 chứng kiến sự bành trường của quốc gia thực dân Anh qua Ireland[3]. Mặc dù đã bỏ ra nhiều nỗ lực, cho đến tận thế kỷ 17, Anh quốcPháp và Hà Lan mới hình thành xong các đế quốc hải ngoại bên ngoài châu Âu, trực tiếp cạnh tranh với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và cả với nhau. Vào thế kỷ 19, Đế chế Anh đã phình ra thành đế quốc rộng lớn nhất từng có (xem danh sách các đế quốc rộng lớn nhất).
Cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 là kỷ nguyên phi thực dân hóa đầu tiên khi phần lớn các thuộc địa của châu Âu ở châu Mỹ lần lượt giành được độc lập từ mẫu quốc của chúng. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha yếu đi thấy rõ sau khi bị mất đi các thuộc địa tại Tân Thế giới, nhưng Anh quốc (sau liên minh giữa Anh và Scotland), Pháp và Hà Lan lại hướng sự chú ý của mình đến Cựu Thế giới, cụ thể là Nam Phi, Ấn Độ và Đông Nam Á, những nơi tạo nên vùng duyên hải. Đế chế Đức (ngày nay là Cộng hòa), được tạo ra phần lớn nước Đứcsau khi được hợp nhất dưới quốc gia Phổ (ngoại trừ Áo, và các vùng bản địa Đức khác), cũng tìm kiếm thuộc địa tại Đông Phi thuộc Đức. Các lãnh thổ ở khu vực khác trên thế giới vượt đại dương, hoặc vượt ra ngoài châu Âu, cũng được bổ sung vào Đế quốc thực dân ĐứcÝ xâm chiếm EritreaSomalia và Libya. Trong chiến tranh Ý-Ethiopia lần thứ nhất vàlần thứ 2, Ý đã xâm lược Abyssinia, và vào năm 1936 Đế quốc Ý đã được hình thành.
Thực dân trên thế giới 1492-2008
Sự công nghiệp hóa trong thế kỷ 19 dẫn đến một thời kỳ được gọi là Tân chủ nghĩa đế quốc, khi tốc độ thực dân hóa được đẩy nhanh, mà đỉnh cao của nó là Sự tranh giành châu Phi.
Vào năm 1823, Hoa Kỳ, trong quá trình mở rộng bờ cõi về phía tây bên bờ Thái Bình Dương, đã đưa ra Học thuyết Monroe trong đó đưa ra lời cảnh báo đối với những người theo chủ nghĩa bành trước ở châu Âu đừng can dự vào công việc nội bộ của châu Mỹ. Nguyên thủy, tài liệu này nhắm đến việc mở rộng chủ nghĩa thực dân tại châu Mỹ Latin và vùng Caribê, cho rằng điều đó là đàn áp và không thể chịu đựng. Đến cuối thế kỷ 19, một số cá nhân như Theodore Roosevelt đã diễn dịch Học thuyết Monroe theo cách cho rằng trách nhiệm của Hoa Kỳ là phải bảo đảm cho sự ổn định kinh tế ở Trung Mỹ, Caribê và Nam Mỹ, từ đó giúp cho các quốc gia này trả lại số nợ cho những kẻ thực dân. Trên thực tế, dưới thời tổng thống Roosevelt vào năm 1904, Hệ luận Roosevelt đối với Học thuyết Monroe đã được thêm vào tài liệu gốc để điều chỉnh lại chính sách và hành vi mở rộng thuộc địa của Hoa Kỳ dưới thời Roosevelt[4]. Roosevelt đã biện hộ cho sự sửa đổi này trước quốc hội vào năm 1904, trong đó ông nói:
"Tất cả những gì quốc gia này mong muốn là nhìn thấy những quốc gia láng giềng được ổn định, kỷ luật và thịnh vượng. Bất kỳ nước nào mà người dân cư xử tốt có thể nhờ cậy đến tình bằng hữu nồng ấm của chúng ta. Nếu một quốc gia cho thấy họ biết cách hành động với năng lực và cách thức hợp lý để đối phó với các vấn đề xã hội và chính trị, nếu họ giữ được trật tự và thể hiện sự biết ơn, họ không cần phải sợ có sự can thiệp nào từ Hoa Kỳ. Còn cứ liên tục làm điều sai trái, hay tỏ ra bất lực dẫn đến các mối liên kết văn minh bị nới lỏng, thì ở Hoa Kỳ, hay bất cứ nơi nào khác, rốt cuộc cần phải có sự can thiệp từ một quốc gia văn minh nào đó, và ở Tây Hemisphere sự tôn trọng triệt để của Hoa Kỳ đối với Học thuyết Monroe sẽ buộc Hoa Kỳ, dù miễn cưỡng, trước những trường hợp sai trái hoặc bất lực rõ ràng đó, phải thực thi sức mạnh cảnh vệ quốc tế (Roosevelt, 1904)."
Với sự kiện này, giờ đây lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, chủ nghĩa đế quốc đã bắt đầu biểu hiện băng qua đường lãnh hải và đã sát nhập các lãnh thổ của Phillipines, Guam, Cuba, Puerto Rico, và Hawaii vào lãnh thổ Hoa Kỳ.
Mỹ đã thành công trong việc "giải phóng" các lãnh thổ Cuba, Puerto Rico, Guam, và Philippines. Chính quyền Mỹ thay thế chính quyền hiện có tại Hawaii vào năm 1893; nó được sát nhập vào liên minh Hoa Kỳ như một lãnh thổ hải ngoại vào năm 1898. Trong khoảng giữa năm 1898 và 1902, Cuba là một lãnh thổ của Hoa Kỳ cùng với Puerto Rico, Guam, và Philippines, tất cả đều là các thuộc địa mà Hoa Kỳ giành được từ tay Tây Ban Nha. Vào năm 1946, Phillipines được trao quyền độc quyền từ Hoa Kỳ và Puerto Rico đến nay vẫn là một lãnh thổ của Hoa Kỳ cùng với Samoa thuộc Mỹ, Guam, và Quần đảo Virgin thuộc Mỹ. Tại Cuba, Luật sử đổi Platt bị thay thế vào năm 1934 bởi Hiệp ước Quan hệ trao cho Cuba quyền tự chủ cao hơn về các vấn đề kinh tế và ngoại giao. Năm 1934 cũng là năm dưới thời tổng thống Franklin D. Roosevelt, áp dụng Chính sách Láng giềng tốt để hạn chế sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Trung và Nam Mỹ.[4][5][6] [7][8] [9][10]
Trong suốt thế kỷ 20, các thuộc địa hải ngoại của những nước thua cuộc trong Đệ nhất thế chiến được các nước chiến thắng chia nhau với danh nghĩa lãnh thổ ủy quyền. Nhưng khi Đệ nhị thế chiến bắt đầu, ngày 14/8/1941 Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston S. Churchill cùng nhau ra Tuyên bố chung Hiến chương Đại Tây Dương. Điều 3 của Hiến chương này nói rằng Anh và Mỹ tôn trọng quyền của tất cả mọi dân tộc được chọn hình thức chính quyền lãnh đạo họ, Anh và Mỹ cũng mong muốn nhìn thấy chủ quyền và các hình thức nhà nước tự trị của các dân tộc trước kia bị người khác dùng vũ lực tước mất được tái lập lại.[11][12] Đến cuối Đệ nhị thế chiến giai đoạn thứ hai của phi thực dân hóa mới được tiến hành nhanh chóng.

Chủ nghĩa tân thực dân[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ chủ nghĩa tân thực dân đã được dùng để chỉ nhiều thứ khác nhau kể từ những nỗ lực phi thực dân hóa sau Đệ nhị thế chiến. Nói chung, nó không đề cập đến một loại chủ nghĩa thực dân mà thực ra là chủ nghĩa thực dân dưới các hình thức khác. Cụ thể, người ta buộc tội mối quan hệ giữa các nước mạnh và yếu cũng giống như chủ nghĩa thực dân bóc lột, nhưng ở đây nước mạnh hơn không cần phải xây dựng hoặc duy trì thuộc địa. Những lời buộc tội như vậy thường tập trung vào các mối quan hệ kinh tế và sự can thiệp về chính trị của một nước lớn đối với nước nhỏ.

Hậu chủ nghĩa thực dân[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu chủ nghĩa thực dân (hay còn gọi là thuyết hậu thuộc địa) nhắc đến một loạt lý thuyết về triết học và văn học vật lộn với những di sản của sự cai trị thực dân. Với ý nghĩa này, nền văn học hậu chủ nghĩa thực dân có thể được xem là một nhánh của Văn học hậu hiện đại liên quan đến sự độc lập chính trị và văn hóa của những người trước đây từng bị nô dịch trong các thuộc địa của đế quốc. Nhiều người trong nghề xem cuốn sách Orientalism (dịch nghĩa là Đông phương học) của Edward Said vào năm 1978 là tác phẩm đầu tiên sáng tạo ra lý thuyết này (dù các nhà lý thuyết người Pháp như Aimé Césaire và Frantz Fanon đã nói lên những điều tương tự hàng thập kỷ trước Said).
Edward Said đã phân tích các tác phẩm của BalzacBaudelaire và Lautréamont, khám phá cách họ bị ảnh hưởng lẫn sự giúp đỡ hình thành một ý nghĩ kỳ quặc về tính ưu việc chủng tộc của người Âu châu. Những tiểu thuyết gia hậu thuộc địa giao tiếp với những bài văn thuộc địa truyền thống, nhưng thay đổi hoặc đảo ngược nó; ví dụ bằng cách kể lại một câu chuyện tương tự về khía cạnh của nhân vật phụ phản diện trong câu chuyện. Tác phẩm Những người thấp cổ bé họng có lên tiếng được không? vào năm 1998 của Gayatri Chakravorty Spivak là nguồn gốc của ngành Nghiên cứu thấp cổ bé họng.
Trong cuốn A Critique of Postcolonial Reason (chỉ trích các lý do hậu thực dân) vào năm 1999, Spivak đã phám phá ra cách làm thế nào những tác phẩm lớn của chủ nghĩa siêu hình châu Âu (như KantHegel) không chỉ có xu hướng loại trừ những thành phần thấp cổ bé họng ra khỏi vấn đề mà chúng bàn luận, mà còn tích cực ngăn chặn những người không phải dân châu Âu giành được vị trí của một con người đầy đủ. Tác phẩm Hiện tượng Tinh thần vào năm 1807 nổi tiếng vì thể hiện chủ nghĩa vị chủng một cách công khai, trong đó xem nền văn minh phương Tây là hoàn thiện nhất, còn Kant cũng để cho những dấu hiệu phân biệt chủng tộc xen vào tác phẩm của ông.
"Robert Clive và gia đình với người hầu Ấn", tranh vẽ của Joshua Reynolds, 1765.

Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và sự thuộc địa hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tranh cãi về những khía cạnh tiêu cực và tích cực (từ sự lây lan bệnh dịch, xã hội bất công, bóc lột, nô dịchcơ sở hạ tầngtiến bộ trong y dược, các học viện mới, phát minh mới, v.v.) của chủ nghĩa thực dân đã diễn ra từ nhiều thế kỷ, trong cả những người xâm chiếm và những người bị chiếm, và vẫn tiếp tục đến ngày nay[13]. Vấn đề hôn nhân khác chủng tộc; mối liên kết giữa các công ty ở thuộc địa, diệt chủng — xem Diệt chủng Herero và Diệt chủng Armenia — và Holocaust; và các vấn đề bản chất của chủ nghĩa đế quốc, thuyết phụ thuộc và chủ nghĩa tân thuộc địa (cụ thể là khối nợ của Thế giới thứ ba) tiếp tục duy trì thực tế này.

Ảnh hưởng về sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Sự gặp gỡ giữa những nhà thám hiểm châu Âu với người dân ở phần còn lại của thế giới thường dẫn đến sự xuất hiện những bệnh dịch khủng khiếp ở địa phương. Bệnh tật đã giết toàn bộ dân bản địa (Guanche) tại Quần đảo Canary vào thế kỷ thứ 16. Một nửa dân số người Hispaniola đã bị chết vì bệnh đậu mùa vào năm 1518. Bệnh đậu mùa cũng tàn phá México vào những năm 1520, chỉ riêng người Tenochtitlán đã có hơn 150.000 người chết, gồm cả quốc vương, và Peru vào những năm 1530, nhờ đó hỗ trợ cho những người châu Âu đi chinh phục[2]Bệnh sởi đã giết hơn hai triệu dân bản xứ México vào những năm 1600. Vào năm 1618–1619, bệnh đậu mùa đã quét sạch 90% người Mỹ bản xứ tại Vịnh Massachusetts[14]. Dịch đậu mùa vào năm 1780–1782 và 1837–1838 đã dẫn đến sự sụp đổ và sụt giảm dân số khủng khiếp người da đỏ đồng bằng[15]. Một số người tin rằng tỷ lệ đến 95% người da đỏ bản xứ tại Tân Thế giới bị chết là do bệnh tật ở Cựu Thế giới truyền sang[16]. Qua nhiều thế kỷ, người châu Âu đã đạt được sự miễn dịch cao đối với loại bệnh này, trong khi người bản xứ không có khả năng như vậy[17].
Bệnh đậu mùa đã giết hại rất nhiều dân bản xứ tại Úc, giết chết khoảng 50% người Úc bản xứ vào những năm đầu đô hộ của người Anh[18]. Nó cũng giết nhiều người Māori ở New Zealand[19]. Đến tận 1848–49, vẫn có đến 40.000 người trong tổng số 150.000 người Hawaii được cho là đã chết vì các bệnh sởiho gà và cúm. Các căn bệnh mới, đặc biệt là đậu mùa, đã gần như quét sạch toàn bộ dân bản địa tại Đảo Easter[20]. Vào năm 1875, bệnh sởi giết chết 40.000 người Fiji, xấp xỉ một phần ba dân số[21]. Dân số người Ainu đã giảm khủng khiếp trong thế kỷ thứ 19, do phần lớn dân chúng bị nhiễm các bệnh truyền nhiễm do dân định cư người Nhật mang vào Hokkaido[22].
Những nhà nghiên cứu kết luận rằng bệnh giang mai đã bị mang từ Tân Thế giới sang châu Âu sau chuyến hải hành của Colombo. Những nghiên cứu này cho rằng những người châu Âu có thể đang mang các vi khuẩn nhiệt đới không lây qua đường tình dục về nhà, tại đó các vi khuẩn đó đã đột biến thành một dạng nguy hiểm hơn trong điều kiện khác biệt ở châu Âu[23]. Bệnh tật hồi đó thường dễ gây chết người hơn ngày nay. Bệnh giang mai là căn bệnh gây chết người chủ yếu ở châu Âu trong Thời kỳ Phục hưng[24]Đại dịch tả đầu tiên bắt đầu tại Bengal, sau đó đến năm 1820 đã lan ra khắp Ấn Độ. 10.000 binh lính Anh và vô số người Ấn đã chết trong đại dịch này[25]. Từ năm 1736 đến 1834 chỉ có khoảng 10% nhân viên của Công ty Đông Ấn là sống sót để quay về được nhà[26]Waldemar Haffkine, người làm việc chủ yếu tại Ấn Độ, là nhà vi sinh đầu tiên phát triển và sử dụng vắc-xin bệnh tả và dịch hạch.
Vào đầu năm 1803, Vua Tây Ban Nha đã tổ chức một sứ mệnh (thám hiểm Balmis) để vận chuyển vắc xin đậu mùa sang các thuộc địa của Tây Ban Nha, và thực hiện các chương trình tiêm chủng hàng loạt tại đó[27]. Đến năm 1832, chính quyền liên bang Hoa Kỳ đã thành lập chương trình tiêm chủng đậu mùa cho người da đỏ bản xứ[28]. Dưới sự chỉ đạo củaMountstuart Elphinstone, một chương trình đã được thực hiện để tuyên truyền tiêm chủng đậu mùa tại Ấn Độ[29]. Từ đầu thế kỷ 20 về sau, sự tiêu diệt hoặc khống chế bệnh tật ở các nước nhiệt đới đã trở thành động lực cho tất cả các thế lực thuộc địa[30]. Dịch bệnh buồn ngủ tại châu Phi đã bị khống chế nhờ các đội cơ động cách ly có hệ thống hàng triệu người có nguy cơ nhiễm bệnh[31]. Vào thế kỷ 20, thế giới đã chứng kiến sự bùng bổ dân số lớn nhất từ trước tới nay trong lịch sử loài người do tỷ lệ chết đã giảm tại nhiều nước nhờ các tiến bộ về y học[32]Dân số thế giới đã tăng từ 1,6 tỷ vào năm 1990 đến khoảng chừng 6,7 tỷ vào ngày nay[33].

An ninh lương thực[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1492, một sự trao đổi các giống cây trồng và gia súc trên phạm toàn cầu đã diễn ra. Các loại cây trồng chính trong cuộc trao đổi này là cà chua, ngô, khoai tây và sắn từ Tân Thế giới sang Cựu thế giới. Khi nhà Minh hình thành ở Trung Quốc vào năm 1368, dân số nước này có gần 60 triệu người, và đến cuối thời nhà Minh vào năm 1644 đã đạt đến con số 150 triệu[34]. Các loại cây trồng mới đã được du nhập từ châu Mỹ sang châu Á thông qua những tên thực dân Tây Ban Nha vào thế kỷ 16, trong đó có ngô và khoai lang, góp phần cho sự tăng trưởng dân số này[35]. Mặc dù ban đầu bị xem là không phù hợp cho con người, khoai tây đã trở thành loại cây trồng chủ yếu tại bắc Âu[36]. Ngô có mặt tại châu Âu vào thế kỷ 15. Do sản lượng cao, nó đã nhanh chóng được truyền đi khắp châu Âu, và sau đó đến châu Phi và Ấn Độ. Ngô có thể đã du nhập vào Ấn Độ nhờ những người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16[37].
Từ khi được những thương gia người Bồ giới thiệu vào thế kỷ 16[38], ngô và sắn đã thay thế các cây trồng truyền thống ở châu Phi trở thành giống cây trồng quan trọng nhất tại lục địa[39]. Cây sắn đôi khi được mô tả là "bánh mì của vùng nhiệt đới"[40].

Buôn bán nô lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ nô lệ đã tồn tại với nhiều quy mô, hình thức và trong các giai đoạn khác nhau tại hầu như tất cả các nền văn hóa và lục địa[41]. Từ thế kỷ 17 đêns thế kỷ 20, buôn bán nô lệ Ả Rập (còn gọi là chế độ nô lệ phương Đông) đã biến khoảng 18 triệu người từ châu Phi thành nô lệ qua các tuyến đường xuyên sa mạc Sahara và Ấn Độ Dương[42]. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, buôn bán nô lệ Đại Tây Dương đã chuyển đến 12 triệu nô lệ đến Tân Thế giới[43].
Từ năm 1654 đến 1865, chế độ nô lệ suốt đời vẫn hợp pháp trong biên giới hiện nay của Hoa Kỳ[44]. Theo thống kê tại Hoa Kỳ vào năm 1860, gần bốn triệu nô lệ được nuôi với tổng số người là trên 12 triệu rải khắp 15 bang cho phép chế độ nô lệ[45]. Trong tất cả 1.515.605 gia đình tại 15 bang nô lệ, 393.967 gia đình có nuôi nô lệ (gần một phần tư)[45], chiếm tỷ lệ 8% tất cả hộ gia đình tại Hoa Kỳ[46].
Vào năm 1807, Vương quốc Anh trở thành một trong những quốc gia đầu tiên chấm dứt sự tham gia vào các vụ buôn bán nô lệ[47]. Từ năm 1808 đến 1860, Đội tàu Tây Phi của Anh đã bắt được xấp xỉ 1.600 tàu chở nô lệ và giải phóng 150.000 người Phi trên tàu[48]. Đã có nhiều hành động chống lại những nhà lãnh đạo châu Phi nào từ chối ký một thỏa thuận với nước Anh đặt việc buôn bán này ra khỏi vòng pháp luật, ví dụ như vụ chống lại "Vua cướp ngôi của Lagos", bị hạ bệ vào năm 1851. Các hiệp ước chống chế độ nô lệ đã được ký với hơn 50 người đứng đầu các nước châu Phi[49]. Vào năm 1827, nước Anh tuyên bố rằng buôn bán nô lệ là cướp biển, có thể bị phạt tội chết[50].