Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Minh Đạo gia huấn

TRÌNH HẠO và TRÌNH DI 

Trình Di (Cheng Yi; 1033 - 1107), nhà triết học Trung Quốc thời Bắc Tống (Beisong), một trong những người sáng lập ra thuyết Lý học. Ông là người Lạc Dương (Luoyang), tỉnh Hà Nam (Henan). Cùng với người anh là Trình Hạo (x. Trình Hạo) theo học Chu Đôn Di (Zhou Dunyi). Các tác phẩm của hai ông được tập hợp in trong "Nhị Trình toàn tập" (toàn tập của hai tác giả họ Trình). Về mặt triết học, Trình Di cũng như Trình Hạo (Cheng Hao) đều lấy " Lý " làm phạm trù cao nhất, coi đó là nguồn gốc của mọi sự vật. Ông cho rằng, Lý là nguồn gốc sáng tạo ra vạn vật, nó nằm trong vạn vật, nhưng lại ở trên vạn vật. Ông cho đạo tức là lý, là hình nhi thượng, còn khí của âm dương là hình nhi hạ. Nếu rời khỏi âm dương thì không có đạo nhưng đạo không ngang với âm dương mà là cái "tự nhiên có ở âm dương". Theo ông, lý hình nhi thượng làm căn cứ cho sự tồn tại của khí hình nhi hạ. Ông xuất phát từ mối quan hệ giữa "thể" và "dụng" để giải thích mối quan hệ giữa lý và sự vật; ông cho lý là "thể" và sự vật là "dụng". Trình Di thừa nhận mọi sự vật đều có quy luật, trời mà cao, đất mà sâu là đều có lý của chúng, trong Trời Đất, có một cái lý tồn tại vĩnh hằng. Ông đem quy luật của các sự vật trừu tượng hóa, tuyệt đối hóa làm cho nó trở thành một thực thể độc lập. 

Trình Di ( Trình Y Xuyên ) đã đưa ra một số khái niệm và mệnh đề mới trong triết học Trung Quốc thời Tống, điều đó đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học Trung Quốc thời Tống, Minh (Ming). Mặc dù Trình Di cũng như Trình Hạo ( Trình Minh Đạo ) đều lấy " Lý " làm phạm trù cao nhất trong triết học, nhưng giữa họ có sự khác nhau đó là, Trình Hạo lấy "tâm" để giải thích "lý", điều đó đã mở đường cho phái Tâm học của Lục Cửu Nguyên (Lu Jiuyuan), trong khi đó thì Trình Di lại giải thích "lý" trong mối quan hệ với "khí", điều này đã mở đường cho phái Chu Hy (Zhu Xi) sau đó. 

Ở Việt Nam, sách Minh Đạo gia huấn đã có nhiều bản dịch

-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Minh Đạo gia huấn ( Ca )

明 道 家 訓 

人 生 百 藝 
文 學 爲 先 
儒 士 是 珍 
詩 書 是 寶 

古 者 聖 賢 
易 子 而 教 
德 行 純 和 
擇 爲 師 友 

養 而 不 教 
乃 父 之 過 
教 而 不 厳 
乃 師 之 惰 

學 問 不 勤 
乃 子 之 惡 
後 從 先 覺 
鑑 古 知 今 

學 有 三 心 
不 可 失 一 
父 母 厚 實 
子 學 勤 敏 

嚴 師 作 成 
人 有 三 情 
可 亊 如 一 
非 父 不 生 
非 君 不 榮 
非 師 不 成 

有 道 德 者 
子 孫 聰 明 
無 道 德 者 
子 孫 愚 昧 

養 男 不 教 
不 如 養 驢 
養 女 不 教 
不 如 養 猪 

訓 導 之 初 
先 守禮 法 
不 知 問 答 
是 爲 愚 粗 
不 教 而 善 
非 聖 而 何

Nhân sinh bách nghệ 
Văn học vi tiên 
Nho sĩ thị trân 
Thi thư thị bảo 
Cổ giả Thánh hiền 
Dịch tử nhi giáo 
Đức hạnh thuần hòa 
Trạch vi sư hữu. 
Dưỡng nhi bất giáo 
Nãi phụ chi quá. 
Giaó nhi bất nghiêm 
Nãi sư chi nọa. 
Học vấn bất cần 
Nãi tử chi ác. 
Hậu tòng tiên giác 
Giám cổ tri kim. 
Học hữu tam tâm 
Bất khả thất nhất. 
phụ mẫu hậu thực 
tử học cần mẫn. 
Nghiêm sư tác thành 
Nhân hữu tam tình 
Khả sự như nhất. 
Phi phụ bất sinh 
Phi quân bất vinh 
phi sư bất thành. 
Hữu đạo đức giả 
Tử tôn thông minh
Vô đạo đức giả 
Tử tôn ngu muội. 
Dưỡng nam bất giáo 
Bất như dưỡng lư. 
Dưỡng nữ bất giáo 
Bất như dưỡng trư. 
Huấn đạo chi sơ 
Tiên thủ lễ pháp. 
Bất tri vấn đáp 
Thị vi ngu thô. 
Bất giáo nhi thiện 
Phi Thánh nhi hà. 

Bản dịch Minh Đạo Gia Huấn của Đoàn Trung Còn: 

Nhân sinh bách nghệ 
Văn học vi tiên 
Nho sĩ thị trân 
Thi thư thị bảo 


Người đời làm cả trăm nghề 
Văn học là nghề đứng đầu 
Nho sĩ là người đáng trọng 
Thi Thơ là sách đáng quý 


Cổ giả Thánh hiền 
Dịch tử nhi giáo 
Đức hạnh thuần hòa 
Trạch vi sư hữu.


 Các vị Thánh hiền thuở xưa 
Đổi con với nhau mà dạy 
Những trang đức hạnh thuần hòa 
Đáng chọn làm thầy và bạn 


Dưỡng nhi bất giáo 
Nãi phụ chi quá. 
Giaó nhi bất nghiêm 
Nãi sư chi nọa. 
Học vấn bất cần 
Nãi tử chi ác. 


Nuôi mà chẳng dạy 
Là lỗi của cha 
Dạy mà chẳng nghiêm 
Là lỗi của thầy 
Học hỏi chẳng cần 
Là tội của con 


Hậu tòng tiên giác 
Giám cổ tri kim. 


Người hậu giác theo người tiên giác 
Soi việc xưa mà biết việc nay 


Học hữu tam tâm 
Bất khả thất nhất. 
phụ mẫu hậu thực 
tử học cần mẫn. 
Nghiêm sư tác thành 


Học hỏi có ba niềm 
Bỏ sót một chẳng được 
Cha mẹ phúc hậu thật 
Phận con học cần mẫn 
Thầy nghiêm chỉnh chỉ dạy 


Nhân hữu tam tình 
Khả sự như nhất. 
Phi phụ bất sinh 
Phi quân bất vinh 
phi sư bất thành. 


Người ta có ba ơn 
Nên thờ trọng như một: 
Không cha, mình chẳng sinh 
Không vua, mình chẳng vinh 
Không thầy, mình chẳng nên 


Hữu đạo đức giả 
Tử tôn thông minh
Vô đạo đức giả 
Tử tôn ngu muội. 


Người có đạo đức 
Con cháu thông minh 
Kẻ không đạo đức 
Con cháu ngu muội 


Dưỡng nam bất giáo 
Bất như dưỡng lư. 
Dưỡng nữ bất giáo 
Bất như dưỡng trư. 


Nuôi con trai chẳng dạy 
Chẳng bằng nuôi lừa 
Nuôi con gái chẳng dạy 
Chẳng bằng nuôi heo 


Huấn đạo chi sơ 
Tiên thủ lễ pháp. 
Bất tri vấn đáp 
Thị vi ngu thô. 


Việc giáo huấn sơ đẳng 
Trước hết giữ lễ phép 
Kẻ chẳng biết thưa dạ 
Gọi là đứa ngu si 


Bất giáo nhi thiện 
Phi Thánh nhi hà. 


Chẳng học mà hay 
Chẳng phải Thánh sao? 








Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét