Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Ấu Học Ngũ Ngôn Thi

Ấu Học Ngũ Ngôn Thi

Là một sách dậy Hán Nôm theo thể : Ngũ ngôn Tứ tuyệt Trường thiên ( Ngũ ngôn là thơ 5 chữ , Tứ tuyệt là 1 bài chỉ có 4 câu , Trường thiên là rất nhiều bài nối vào với nhau , đương nhiên là phải bắt vần ) 

Sách này có gốc tích từ Đời Tống do một thiếu niên khoảng 8 tuổi sáng tác được độ 20 bài , sau ông này thi đỗ Trạng Nguyên nên có thêm tên là Trạng Nguyên Thi , vì sách làm theo thể Trường Thiên nên các Nhà Nho sau này vẫn tiếp tục sáng tác và in thêm vào nên có rất nhiều dị bản , ở Việt Nam trước đây cũng có in nhiều Ngũ Ngôn Thi do các Nhà Nho có uy tín và trình độ biên tập dựa trên bản gốc .



Ấu Học Ngũ Ngôn Thi ngày xưa trẻ nhỏ học hay còn gọi Trạng Nguyên Thi nói về lợi ích học tập và ước mơ đỗ đạt. Gọi là Thơ Trạng Nguyên, vì nội dung tập sách lấy truyện học hành đỗ đạt.Trạng Nguyên là một học vị cao nhất của lề lối thi cử ngày xưa ở nước ta và các nước thuộc vùng văn minh, văn hóa chịu ảnh hưởng của chữ Hán. Đó là cuốn sách giáo khoa dạy chàng thư sinh nhỏ tuổi mới bắt đầu theo đòi cửa Khổng sân Trình. Thông thường khoa cử ngày xưa, lấy Tứ Thư và Ngũ Kinh làm những sách cái, sách cho bậc học cao nhất, sách nhằm kinh bang tế thế. Các sĩ tử phải dùi mài kinh, sử, tử , tập , đọc hết " năm xe sách", để từ đó đua tài qua các chế độ thi cử. Thi hương chọn các cử nhân. Thi hội chọn các tiến sĩ. Thi đình lấy đỗ Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa và Hoàng Giáp.
Ngũ xa thư ( Năm xe sách ) bao gồm sách của 5 Nhà :

- Chu , Khổng , Chu , Trình , Trình . Từ ấy mới có câu Cửa Khổng , sân Trình !

1 , Chu Công - Chu Công Đán 
2 , Khổng Tử - Khổng Trọng Ni 
3, Chu Hy - Chu Văn Công 
4, Trình Hạo - Trình Minh Đạo 
5 , Trình Di - Trình Y Xuyên 

ps - Đọc hết các trước tác của Năm Cụ này thì cận lòi mắt !

Nhưng muốn học được sách vở của bậc cao, được giảng dậy ở các trường lớn ở tỉnh và các phủ huyện lớn, ở các nhà đại gia, ở quốc tử giám, các chàng áo xanh ( lục y lang ) ở tuổi cắp sách đến trường, trước hết phải học các sách vỡ lòng và một số sách khác vừa với sức học. Trong đám sách vỡ lòng dạy học trò chữ Nho mới vào trường ở nước ta có các sách : tam tự kinh, sơ học vấn tân, tam thiên tự, dương tiết, minh đạo gia huấn ca ..... và đặc biệt là Ấu học ngũ ngôn thi.



幼 学 五 言 詩
ẤU HỌC NGŨ NGÔN THI

天子重英豪,文章教尔曹;
天 子 重 英 豪, 文 章 教 爾 曹
Thiên tử trọng anh hào, văn chương giáo nhĩ tào

万般皆下品,惟有读书高。
万 般 皆 下 品, 惟有 讀 書 高
Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao

  少小须勤学,文章可立身;
少 小 須 勤 学, 文 章 可 立 身
Thiếu tiểu tu cần học, văn chương khả lập thân

  满朝朱紫贵,尽是读书人。
滿 朝 朱 紫 貴, 盡 是 讀 書 人
Mãn triều chu tử quí, tận thị độc thư nhân


Nghĩa là :
- Nhà vua (quốc gia) bao giờ cũng coi trọng người hiền tài hào kiệt. Việc giáo dục con người đều phải lấy từ văn chương . Tất cả các ngành nghề đều thấp kém chỉ có đọc sách mới là cao quí .
- Lúc còn nhỏ phải siêng năng học hành, phải trang bị cho mình đầy đủ tri thức và văn hóa, để khi lớn có đủ khả năng lập thân xử thế. Quan cao chốn cung đình thân mặc áo đỏ áo tía đều là những người đọc sách

学向勤中得,萤窗万卷书;
学 向 勤 中 得, 螢 窗 万 卷 書
Học hướng cần trúng đắc, huỳnh song vạn quyển thư

  三冬今足用,谁笑腹空虚。
三 冬 今 足 用, 誰 笑 腹 空 虛
Tam đông kim túc dụng, thùy tiếu phúc không hư

自小多才学,平生志气高
自 小 多 才 学, 平 生 志 氣 髙
Tự tiểu đa tài học, bình sinh chí khí cao

别人怀宝剑,我有笔如刀。
别 人 懷 寶 劍, 我 有 筆 如 刀
Biệt nhân hoài bảo kiếm, ngã hữu bút như đao


Nghĩa là :
- Học tập chỉ có siêng năng chăm chỉ, mới có thể đạt được, khắc khổ đọc nhiều sách vở, gắng công 3 năm, tri thức đủ để ứng dụng. Lúc đó không ai có thể cười ta là trong bụng không có gì !
- Tài năng học tập bộc lộ từ nhỏ, xưa nay đều có chí khí. Người ta đeo kiếm tập võ, còn ta thì văn bút sắc bén như đao 
__________________


朝为田舍郎,暮登天子堂;
朝 爲 田 舍 郎, 暮 豋 天 子 堂
Triêu vi điền xá lang, mộ đăng Thiên tử đường.

将相本无种,男儿当自强。
將 相 本 無 種, 男 儿 當 自 強
Tướng tướng bản vô chủng, nam nhi đương tự cường

学乃身之宝,儒为席上珍;
学 乃 身 之 寶, 儒 爲 席 上 珍
Học nãi thân chi bảo, nho vi tịch thượng trân

君看为宰相,必用读书人。
君 看 爲宰 相, 必 用 讀 書 人
Quân khán vi tể tướng, tất dụng độc thư nhân

Nghĩa là :
- Buổi sáng vẫn còn là nông dân ngoài ruộng, buổi tối đã làm quan trong triều đình. Tướng quân hay Tể tướng vốn không phải trời sinh, đường đường là đấng nam nhi phải nỗ lực phấn đấu .
- Học vấn là báu vật theo bên người không thể tách rời. Người có học trong trường hợp nào cũng đều được mọi người coi trọng như châu ngọc. Bạn xem người làm quan Tể tướng, nhất định là người đọc sách. !

莫道儒冠误,诗书不负人;
莫 道 儒 冠 誤, 詩 書 不 負 人
Mạc đạo nho quan ngộ, thi thư bất phụ nhân

达而相天下,穷则善其身。
達 而 相 天 下, 窮 則 善 其 身
Đạt nhi tướng thiên hạ, cùng tắc thiện kỳ thân

遗子满赢金,何如教一经;
遺 子 满 籯 金, 何 如 教 一 經
Di tử mãn doanh kim, hà như giáo nhất kinh.

姓名书锦轴,朱紫佐朝廷。
姓 名 書 錦 轴, 朱 紫 佐 朝 廷
Tính danh thư cẩm trục, chu tử tá triều đình.

Nghĩa là :
- Đừng bảo học vấn sẽ làm sai việc, tri thức sẽ không phụ lòng người. Một ngày nào đó làm quan, có thể phò tá triều đình quản lý quốc gia đại sự, không làm quan thì có thể tu thân dưỡng tính, trở thành người có đức

- Để lại cho con vàng đầy hòm, chẳng bằng dạy cho con một pho sách. Có thể khiến cho con làm quan theo đuổi chính sự, mặc triều phục, phò trợ triều đình

__________________
古有千文义,须知学后通;
古 有 千 文 義, 須 知 後 学 通
Cổ hữu thiên văn nghĩa, tu tri hậu học thông

圣贤俱间出,以此发蒙童。
聖 賢俱間 出, 以 此 發 蒙 童
Thánh hiền cụ gian xuất, dĩ thử phát mông đồng

  神童衫子短.袖大惹春风;
神 童 衫 子 短, 袖 大 惹 春 風
Thần đồng sam tử đoản, tụ đại nhạ xuân phong.

未去朝天子,先来谒相公。
未 去 朝 天 子, 先 來 謁 相 公
Vị khứ triều Thiên tử, tiên lai yết tướng công.


Nghĩa là :
- Đạo lý có rất nhiều trong sách vở của Thánh hiền để lại, người sau phải cố gắng để thông tỏ những tri thức được tích lũy đó. Những bậc Thánh hiền không thể đồng thời xuất hiện, nên thường lấy sách xưa để khuyến khích trẻ nhỏ phát triển tài năng.
- Tuy chỉ mới ở lứa tuổi mặc "áo ngắn tay rộng" (dành cho trẻ nhỏ), nhưng là Thần đồng thì có thể thi đậu tiến sĩ. Còn chưa được gặp gỡ triều bái nhà vua, nhưng đã đủ tài năng khiến cho tể tướng nể phục mà gặp gỡ !


大比因时举,乡书以类升;
大 比 因 時 舉 , 鄉 書 以 類 升
Đại tỉ nhân thời cử, hương thư dĩ loại thăng

名题仙桂籍,天府快先登。
名 題 仙 桂 籍, 天 腑 快 先 登
Danh đề tiên quế tịch, thiên phủ khoái tiên đăng

喜中青钱选,才高压众英;
喜 中 青 錢 選, 才 髙 厭 眾 英
Hỷ trung thanh tiền tuyển, tài cao yếm chúng anh.

  萤窗新脱迹,雁塔早题名。
螢 窗 新 脱 跡, 雁 塔 早 題 名
Huỳnh song tân thoát tích, nhạn tháp tảo đề danh.
Nghĩa là :
- Sau khi đã vượt qua được sự chọn lọc tại địa phương lại đạt được kết quả cao tại cuộc thi lớn của quốc gia. Do vậy mà tên họ được ghi vào "bảng vàng tiến sĩ" (tiên quế tịch), và nhanh chóng được đề bạt..
- Như việc chọn được đồng tiền xanh trong việc vui mừng (phong tục cổ ở một vài địa phương của Tàu; đồng tiền xanh biểu thị cho sự may mắn tốt đẹp của sự kiện nào đó : cưới xin, đăng lão,...) do tài văn chương xuất sắc vượt trên những người khác mà trúng cách. Vừa mới bước ra khỏi sự học hành vất vả đã sớm được ghi tên trên tháp Đại nhạn. (Tháp Đại nhạn ở Tây an - Có phong tục từ Đường triều, các tiến sỹ tân khoa được ghi tên trên bức tường của tháp).
__________________
年小初登第,皇都得意回;
年 少 初 登第, 皇 都 得 意 回
Niên thiếu sơ đăng đệ, hoàng đô đắc ý hồi

  禹门三级浪,平地一声雷。
禹 門 三 汲 浪, 平 地 一 聲 雷
Vũ môn tam cấp lãng, bình địa nhất thanh lôi

一举登科目,双亲未老时;
一 舉 登 科 日, 雙 親 未 老 時
Nhất cử đăng khoa nhật, song thân vị lão thời.

锦衣归故里,端的是男儿。
錦 衣 歸 故 里, 端 的 是 男 儿
Cẩm y qui cố lý, đoan đích thị nam nhi
Nghĩa là :
- Tuổi còn trẻ, đi thi lần đầu mà đã đỗ tiến sĩ, từ kinh thành trở về nhà, mãn ý vô cùng.Giống như cá chép vượt Long môn để hóa rồng, giốngnhư một tiếng sấm mùa xuân đánh thức mùa đông !
- Ngày thi đỗ tiến sĩ, cha mẹ vẫn chưa già. Khi đó "áo gấm vinh qui" về quê cũ, không hổ danh là đấng nam nhi hào kiệt.

  

玉殿传金榜,君恩子状头;
玉 殿 傳 金 榜, 君 恩 子 狀 頭
Ngọc điện truyền kim bảng, quân ân tử trạng đầu

英雄三百辈,随我步瀛洲。
英 雄 三 百辈, 隨我步 瀛 洲
Anh hùng tam bách bối, tùy ngã bộ doanh châu

  慷慨丈夫志,生当忠孝门;
慷 慨 丈 夫 志, 生 當 忠 孝 門
Khảng khái trượng phu chí, sinh đương trung hiếu môn.

为官须作相,及第必争先。
爲 官 須 作 相, 及 第 必 爭 先
Vi quan tu tác tướng, cập đệ tất tranh tiên

Nghĩa là :
- Danh sách trúng tuyển cao nhất từ cung điện đưa xuống, nhà vua ban ơn, chọn làm Trạng nguyên. 300 người đồng bảng cùng ta bước lên sân rồng.

- Có khí phách của đấng trượng phu hào kiệt phóng khoáng, xuất thân trong gia đình trung hiếu song toàn. Làm quan phải làm tể tướng, thi tiến sĩ yêu cầu phải đứng đầu.

__________________
宫殿岧峣耸,街衢竞物华;
宫 殿岧 嶢 聳, 街 衢 競 物 華
Cung điện chiêu nghiêu tủng, nhai cù cạnh vật hoa

风云今际会,千古帝王家。
風 云 今 際 會, 千 古 帝 王 家
Phong vân kim tế hội, thiên cổ đế vương gia

日月光天德,山河壮帝居;
日 月 光 天 徳, 山 河 壯 帝 居
Nhật nguyệt quang thiên đức, sơn hà tráng đế cư.

太平无以报,愿上万年书。
太 平 無 以 報, 願 上 万 年 書
Thái bình vô dĩ báo, nguyện thướng vạn niên thư

Nghĩa là :
- Cung điện của nhà vua thì nguy nga, đồ sộ và hàng hóa trên phố chợ nhiều vô kể. Vua hiền tôi giỏi sẽ hội tụ hôm nay, đất này từ xưa đến nay là nhà của vua
- Mặt trời và mặt trăng chiếu sáng đức hạnh của nhà vua, núi sông trang trí cung điện cung điện càng thêm hùng tráng. Hưởng cuộc sống thái bình không có gì đền đáp, nguyện dâng lên sách vạn năm để ca tụng công đức nhà vua.

久旱逢甘雨,他乡遇故知;
久 旱 逢 甘 雨, 他 鄊 遇 故 知
Cửu hạn phùng cam vũ, tha hương ngộ cố tri

洞房花烛夜,金榜题名时。
洞 房 花 燭 夜, 金 榜 題 名 時
Động phòng hoa chúc dạ, kim bảng đề danh thì ( thời )

土脉阳和动,韶华满眼新;
土 脈 陽 和 動, 韶 華 滿 眼 新
Thổ mạch(1) dương hòa động, thiều hoa(2) mãn nhãn tân

一支梅破腊,万象渐回春。
一 枝 梅 破 臘, 万 象 漸 回 春
Nhất chi mai phá lạp, vạn tượng tiệm hồi xuân

Nghĩa là :
- Nắng hạn lâu ngày lại gặp mưa. Kẻ xa quê đã lâu, nay lại gặp được người quen thân cũ nơi đất khách. Ánh đuốc trong đêm đầu tiên của cặp trai gái vừa mới cưới. Lúc sĩ tử đọc được tên mình trên bảng vàng ghi tên những người đỗ thứ hạng cao nhất... Đó đều là những khoảnh khắc vui nhất không thể nào quên trong cuộc đời của một con người !
- Đất rộng mênh mông, dương khí mang về. Sắc xuân chớm nở, cảnh vật xinh tươi. Xua đuổi mùa đông giá rét, một cành mai đã hé nụ. Khi mùa xuân đến, cảnh vật đổi thay
__________________

柳色浸衣绿,桃花映酒红;
柳 色 浸 衣 綠, 桃 花 映 酒 红
Liễu sắc tẩm y lục, đào hoa ánh tửu hồng

长安游冶子,日日醉春风。
長 安 游 冶 子, 日 日 醉 春 風
Tràng An du dã tử, nhật nhật túy xuân phong

淑景余三月,莺花已半稀;
淑 景 余 三 月, 鶯 花 已 半 稀
Thục cảnh dư tam nguyệt, oanh hoa dĩ bán hy

  浴沂谁家子,三叹咏而归。
浴 斤 誰 家 子, 三 嘆 詠 而 歸
Dục Cân thùy gia tử, tam thán vịnh nhi quy

Nghĩa là :
- Lá liễu nhuộm xanh y phục trên người, hoa đào chiếu hồng trong chén rượu. Công tử trong thành Trường An ngày ngày chìm trong ăn nhậu vui chơi

- Cảnh đẹp chỉ còn lại một tháng cuối cùng, chim oanh hót và hoa nở đã qua đi quá nửa. Con nhà ai vừa tắm ở bến sông Cân, ngâm nga trên đường về nhà!

数点雨余雨,一番寒食寒;
数 點 雨 余 雨, 一 番 寒 食 寒
Sổ điểm vũ dư vũ, nhất phiên hàn thực hàn

杜鹃花发处,血泪染成丹。
杜 鵑 花 發 處, 血 淚 染 成 丹
Đỗ Quyên hoa phát xứ, huyết lệ nhiễm thành đan

春到清明好,晴添锦绣纹;
春 到 清 明 好, 晴添 錦 繡 文
Xuân đáo thanh minh hảo, tình thiêm cẩm tú văn

年年当此节,底事雨纷纷。
年 年 當 此 節, 底 事 雨 纷 纷
Niên niên đương thử tiết, để sự vũ phân phân

Nghĩa là :
- Một vài giọt mưa còn rơi lất phất khi cơn mưa đã tan. Tiết Hàn thực vẫn chưa ấm áp. Tại nơi hoa đỗ quyên nở, giọt lệ nhỏ xuống nhuộm thành màu đỏ!
- Tiết Thanh Minh, nắng xuân tươi đẹp, trời trong sáng càng làm cho cảnh vật trở nên xinh tươi đẹp đẽ. Mỗi năm đúng tiết này là cứ mưa bụi không ngừng!
__________________
风阁黄昏雨,开轩纳晚凉;
風 阁 黄 昏 雨, 開 軒 纳 晚 涼
Phong các hoàng hôn vũ, khai hiên nạp vãn lương

月华当户白,何处递荷香?
月 華 當 户 白, 何 處 遞 荷 香
Nguyệt hoa đương hộ bạch, hà xứ đệ hà hương ?

漏尽金风冷,堂虚玉露清;
漏 盡 金 風 冷, 堂 虛 玉 露 清
Lậu tận kim phong lãnh, đường hư ngọc lộ thanh

穷经谁氏子,独坐对寒檠。
窮 經 誰 氏 子, 獨 坐 對 寒檠
Cùng kinh thùy thị tử, độc tọa đối hàn kình

Nghĩa là :
- Khi hoàng hôn, đứng trên lầu thưởng thức cảnh mưa, buổi tối mở cửa sổ ở hiên hóng mát, ánh trăng chiếu vằng vặc trên cửa, ở đâu bay đến hương sen
- Đêm đã sắp qua, giọt đồng hồ đã nhỏ hết, bình minh chuẩn bị ló rạng, gió thu se lạnh, ngoài hiên nhà giọt sương như hạt ngọc trắng lấp lánh ! Con nhà ai chăm chỉ đọc sách thâu đêm, vẫn ngồi trước ngọn đèn lạnh mà không nghỉ.

秋景今宵半,天高月倍明;
秋 景 今 宵 半, 天 高 月 倍 明
Thu cảnh kim tiêu bán, thiên cao nguyệt bội minh

南楼谁宴赏,丝竹奏清音。
南 樓 誰 宴 賞, 絲 竹 奏 清 音
Nam lâu thùy yến thưởng ? Ty trúc tấu thanh âm

一雨初收霁,金风物送凉;
一 雨 初 收霽, 金 風 特 送 涼
Nhất vũ sơ thu tễ, kim phong đặc tống lương

书窗应自爽,灯火夜偏长。
書 窗 應 自 爽, 燈 火 夜 偏 長
Thư song ưng tự sảng, đăng hỏa dạ thiên trường

Nghĩa là :
- Cảnh mùa thu đêm này đã quá nửa, bầu trời như cao thêm, ánh trăng như sáng hơn bội phần. Ai đó đang yến tiệc thưởng trăng ở Nam lâu Vũ xương ? Tiếng tơ tiếng trúc bật lên khúc điệu thanh vắng.
- Cơn mưa đã qua, bầu trời lại trong trẻo, gió thu se lạnh hây hây thổi. Sự mát mẻ lan vào phòng đọc sách, anh khóa mải mê đọc sách dưới đèn quên cả đêm đã khuya.
__________________
庭下陈瓜果,云端望彩车;
庭 下 陳 瓜 果, 云 端 望 彩 車
Đình hạ trần qua quả, vân đoan vọng thái xa

争如郝隆子,只晒腹中书。
爭 如 赩 隆 子, 只 洒 腹 中 書
Tranh như Hách Long tử, chỉ sái phúc trung thư

九日龙山饮,黄花笑逐臣;
九 日 龍 山 飲, 黄 花 笑 逐 臣
Cửu nhật Long sơn ẩm, hoàng hoa tiếu trục thần

醉看风落帽。舞爱月留人。
醉 看 風 落 帽, 舞 愛 月 留 人
Túy khán phong lạc mạo, vũ ái nguyệt lưu nhân

Nghĩa là :
- Đêm thất tịch bày quả dưa trên sân, ngẩng đầu nhìn thần tiên cưỡi xe từ những đám mây bay xuống. Làm sao sánh được với Hách Long đời Tấn, nằm phơi thi thư đầy một bụng dưới ánh dương quang.
- Tết Trùng dương lên Long Sơn uống rượu, thấy hoa cúc đang cười Lý Bạch chịu án lưu đày. Say rồi nhìn gió thổi rơi mũ, ánh trăng như nhảy múa, cảnh đẹp làm cho lòng người chẳng muốn rời chân.



昨日登高罢,今朝再举觞;
作 日 登 高 罷, 今 朝 再 舉 觴
Tạc nhật đăng cao bãi, kim triêu tái cử thương

菊花何太苦,遭此两重阳。
菊 花 何 太 苦, 遭 此 两 重 陽
Cúc hoa hà thái khổ, tào thử lưỡng Trùng dương

帘外三竿日,新添一线长;
簾 外 三 竿 日, 新 添 一 線 長
Liêm ngoại tam can nhật, tân thiêm(1) nhất tuyến trường

登台观气象,云物喜呈祥。
登 臺 觀 氣 象, 云 物 喜 呈 祥
Đăng đài quan khí tượng, vân vật hỷ trình tường

Nghĩa là :
- Hôm qua đã phải bãi tiệc uống rượu trên núi, hôm nay lại cất chén. Hoa cúc sao mà cay đắng quá vậy, cả hai ngày tết Trùng dương đều bị người ta ngắt.
- Ngoài rèm mặt trời đã lên ba con sào, bóng mặt trời sau Đông chí đã dài thêm một vạch. Lên đài xem khí tượng, thấy muôn vật vui mừng với dự báo điềm lành.

时值嘉平候,年华又欲催;
時 値 嘉 平 候, 年 華 又 欲 催
Thời trị gia bình hậu, niên hoa hựu dục thôi

江南先得暖,梅蕊已先开。
江 南 先 得 暖, 梅 芯 已先 開
Giang Nam tiên đắc noãn, mai nhụy dĩ tiên khai

冬去更筹尽,春随斗柄回;
冬 去 更 籌 盡, 春 隨 斗 柄 回
Đông khứ cánh trù tận, xuân tùy Đẩu bính hồi

寒暄一夜隔,客鬓两年催。
寒 暄 一 夜 隔, 客 賓 兩 年 催
Hàn huyên nhất dạ cách, khách tân lưỡng niên thôi

Nghĩa là :
- Thời khắc đã gần cuối tháng Chạp, một năm sắp qua đi, thời gian làm con người già nhanh. Thời tiết Giang Nam đã ấm dần, nụ hoa mai đang dần hé nở.
- Mùa đông đã qua đang đếm ngược từng ngày, mùa xuân đang trở lại theo sự dịch chuyển của chòm sao Bắc đẩu. Cái lạnh lẽo tan đi cái ấm áp tràn về, qua đi một đêm cuối năm. Làm khách ở xứ người, bước vào năm thứ hai tóc mai đã thêm sợi bạc.

* 15 bài trên đây miêu tả cảnh sắc bốn mùa, dẫn giải nhiều phong tục xưa cổ, nhưng vẫn lấy đọc sách khuyến học là trọng.
Ấu học ngũ ngôn thi kết thúc ở đây
__________________




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét