Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

Chân dung 13 hoàng đế triều Nguyễn

Hậu thế không biết chắc về chân dung thực của các nhà cai trị trước thời Nguyễn. Chẳng phải vì người xưa không có phương thức lưu giữ hình ảnh lãnh tụ quốc gia của mình, mà do trong trường kỳ lịch sử Việt Nam đã có nhiều sự kiện “phần thư” khiến nguồn dẫn liệu về quá khứ rất khan hiếm. Dưới đây, nhóm biên tập TTXVA trình bày những dẫn liệu về chân dung các hoàng đế triều Nguyễn nhằm ít nhiều cung cấp cho quý độc giả sự định hình về một giai đoạn lịch sử, mọi quan điểm phản hồi mong quý vị comment lịch thiệp dưới bài viết hoặc gửi về hộp thư của TTXVA dưới dạng bài viết riêng !
SONY DSC
Mũ xung thiên của hoàng đế Nguyễn, loại mũ này chỉ được sử dụng khi thiết triều. Sách Lịch triều hiến chương loại chí (歷朝憲章類誌) chép : “Xung thiên tức là mũ phác đầu, có hai cánh trỏ lên trời nên gọi là mũ xung thiên”.
Có rất nhiều lý do để đổ lỗi cho tình trạng mù mịt thông tin về bối cảnh Việt Nam trong quá khứ ; thật ít ai không chạnh lòng nếu nhìn sang các nước láng giềng – cho dù là Trung Hoa, Nhật Bản hay Lào, Kampuchea thì sự phục dựng khung cảnh quá khứ không là quá khó. Nói riêng về chân dung các nhà trị quốc, những tranh ảnh hoặc bút ký hầu như không thoát khỏi nạn “phần thư” (焚書) xảy ra mỗi khi đất nước có chiến tranh và thay đổi triều đại. Chính sách “phần thư khanh nho” (焚書坑儒) vốn là một phát kiến của triều Tần sau khi nhất thống Trung Nguyên (221 tr.CN) và sau này được các triều đại Trung Hoa cũng như Việt Nam ra sức bắt chước. Mục đích thực sự của chính sách này là tẩy xóa nhận thức của dân gian về quá khứ, đồng thời tạo ra một xã hội dễ cai trị và áp đặt những chuẩn mực mà nhà cầm quyền muốn. Chính vì sự lâu đời và liên tục mà chính sách “phần thư” đã chảy ngược vào lối sống dân gian Trung Hoa cũng như Việt Nam, khiến nó trở thành một tập quán thông thường. Chúng ta đều thấy là có nhiều ông bố bà mẹ sẵn sàng đốt, xé truyện tranh trước mặt con cái chỉ vì nghĩ rằng chúng có hại cho việc học hành ; thí dụ này chỉ là một trong hàng trăm điển hình về tập quán “phần thư khanh nho” tại Á Đông. Trong hàng loạt bài viết đề cập đến phương diện lịch sử – văn hóa mà TTXVA đã đăng, có không ít quan điểm từ độc giả biểu lộ rõ nét tâm lý “phần thư”, mà thông thường là tẩy chay việc chia sẻ những nhận thức về quá khứ và không đồng tình với việc đánh giá lại các giá trị cũ, có nghĩa là luồng ý kiến này phát xuất từ tâm lý coi khinh các giá trị của thời quá vãng và đặt ra một mặc định rằng : Thời sau luôn hoàn mĩ hơn thời trước và việc nhắc lại quá khứ tức là không lương thiện. Chúng ta cũng thấy rằng sự am tường về thời quá vãng của người Việt Nam tệ đến mức nào, việc giáo dục nhận thức lịch sử – văn hóa Việt Nam nhàm chán ra sao và đang ở thang bậc nào trên thế giới.
Ngoài lý do “phần thư khanh nho” thì một căn nguyên khác để hậu thế không thể có cái nhìn rõ ràng về khuôn gương các nhà cai trị thuở trước, đấy là sự hạn chế của họa gia khi muốn mô tả hoàng đế. Luật lệ thời xưa không cho phép người có phẩm hàm thấp hoặc kẻ bình dân được ngước mặt lên để trông thấy vua, nguyên ủy là để bảo toàn tính mạng cho nhà cai trị – khi mà sự thịnh suy của quốc gia lệ thuộc vào một người. Cho nên người ta chỉ có thể thực hiện việc mô tả bằng phương thức “giả tá” (假借), tức là vẽ chân dung hoàng đế theo lời kể của nhiều người kết hợp trí tưởng tượng của người vẽ. Đừng cả tin tạo hình vua Lý Thái Tổ trong thái miếu là chính xác, cũng đừng vội nghĩ họa phẩm duy nhất mô tả vua Lê Thánh Tông là đúng sự thực. Phải đến khoảng thế kỷ XVI, nhờ sự tiếp xúc mạnh mẽ với người Tây Âu mà phần nào tình trạng “phần thư khanh nho” mới bớt phần bạo tàn. Các nhà thám hiểm Tây phương vốn dĩ thuộc về một nền văn hóa tự do hơn và cũng không có tập quán tẩy xóa các di sản quá khứ, chính họ đã dạy cho người Việt Nam cách nhận diện về tiền nhân của mình, trong khi chính người Việt Nam lại chối bỏ. Nói về chân dung các hoàng đế triều Nguyễn, thì hầu hết là công sức phác họa và bảo tồn của các họa gia Tây Âu, với chất lượng còn khá tốt. Cho đến khoảng cuối thế kỷ XIX, khi máy ảnh được phát minh và trở nên phổ biến, thì nguồn dẫn liệu càng trở nên phong phú hơn.
Bài viết này không nhằm cổ súy trào lưu sùng bái cá nhân, mà mong muốn khơi dậy niềm đam mê tìm đến sự biết và sự hiểu các vấn đề lịch sử trong cộng đồng Việt Nam. Tin rằng, thực trạng ảo tưởng và mơ hồ về lịch sử – văn hóa chỉ tiêu biến chừng nào nguồn dẫn liệu trở nên dồi dào hơn.
1. Gia Long
Hoàng đế Gia Long (嘉隆, 1762 – 1820) có tên húy là Nguyễn Phước Ánh (阮福暎), trị vì từ 1802 đến 1820, sau khi băng hà thì được dâng miếu hiệu là Thế Tổ (世祖) – vì Thái Tổ là chúa Nguyễn Hoàng. Niên hiệu Gia Long là ghép từ hai địa danh “Gia Định” (nơi Nguyễn Ánh khởi binh phạt Tây Sơn) và “Thăng Long” (hàm nghĩa là đế đô). Ông là vị hoàng đế đầu tiên của một nước Việt Nam rộng lớn, tuy rằng chưa thực sự thống nhất về chính trị. Cuộc đời Gia Long trải hơn 20 năm tranh đấu với triều Tây Sơn và có những lúc thất thế tưởng không vượt qua nổi. Trước đây có rất nhiều luồng quan điểm nhận định về nhân vật lịch sử này, nhưng tựu trung xu hướng hiện nay là cảm thông đối với công nghiệp của ông.
Nguyễn Ánh
Bức họa chân dung Gia Long năm 1783 tại Bangkok (kinh đô Xiêm La). Lúc này ông đang là chúa Đàng Trong.
Gia Long đế
Tranh phỏng theo bức chân dung hoàng đế Gia Long tại Thế miếu.
Gia Long ngự bút
Tấu thư : “Ngự y phó Thái y viện Đoàn Văn Hòa khải về thang Bát vị hoàn và thang Lý trung“. Châu phê (bằng mực son) : “Chú ý thêm, kính cẩn, chuyên sức vào công việc cốt sao cho khỏi bệnh“.
2. Minh Mệnh
Hoàng đế Minh Mệnh (明命, 1791 – 1841) có tên húy là Nguyễn Phước Đảm (阮福膽), sau khi mất được tôn miếu hiệu là Thánh Tổ (聖祖). Giai đoạn trị vì của Minh Mệnh (1820 – 1841) có lẽ là thịnh vượng nhất trong suốt thế kỷ XIX ; cương thổ Việt Nam đạt tới diện tích lớn nhất trong lịch sử và các lĩnh vực văn hóa – giáo dục – quân sự cũng có nhiều thành tựu. Hoàng đế Minh Mệnh được biết đến là vị hoàng đế Việt Nam sùng Nho bậc nhất và triều đại của ông cũng tự tuyên bố là “kẻ thừa tự chính thống” của dòng Minh Nho. Tuy nhiên, Minh Mệnh không chiếm được cảm tình của giới sĩ phu Bắc Hà – những kẻ vẫn tôn thờ triều Lê và coi triều Nguyễn là ngoại bang và đó là căn nguyên dẫn tới nội chiến liên miên, đồng thời khi quân đội Pháp xâm nhập Bắc Kỳ thì chính người Việt đã dửng dưng vì không ủng hộ cả Pháp lẫn Nguyễn. Dưới triều Minh Mệnh đã có hai chính sách tàn nhẫn được thực hiện, đó là việc thiêu hủy mọi thư tịch thời Tây Sơn và trấn áp các tôn giáo mới du nhập (Công giáo, Hồi giáo) – những chính sách này thực tế không hề thấy dưới triều Gia Long. Bởi vậy, mặc dù là giai đoạn rất cường thịnh nhưng triều Minh Mệnh lại đặt nền móng cho những bế tắc của giai đoạn sau – dường như cách cai trị của Minh Mệnh đã chỉ rập khuôn lề lối Nho gia, mà trong khi Nho giáo đã trở nên lỗi thời trước làn sóng thực dân Âu châu.
Minh Mệnh đế
Minh Mệnh ngự bút
Tấu thư của Tuần phủ hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) trình bày về việc các quan chức cầu mưa mà được mưa. Hoàng đế ngự phê như sau : “Được tin có bản tấu nói mưa giăng khắp nơi, trẫm vui lòng lắm. Duy tại kinh gặp đợt gió rét, lúa má sợ chẳng được đẹp hoàn toàn, không biết ở trấn hạt của ngươi có bị gió rét hay không“.
3. Thiệu Trị
Thiệu Trị đế
Thiệu Trị ngự phê
Tấu như nhan đề “Bộ binh phúc về việc tuyển chọn voi” ngày 23 tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847). Hoàng đế ngự phê : “Chọn voi ngự, điều cốt yếu là như thớt voi Thái Bình, trang nghiêm, giỏi dang, thuần lương, khỏe là được“.
4. Tự Đức
Tự Đức đế
Tự Đức ngự phê
Tấu thư nhan đề “Phủ Thừa Thiên tấu việc làm lễ cầu mưa”. Châu phê : “Đền nào vốn linh ứng sao không đến đó cầu đảo để mau hiệu nghiệm. Vùng Quảng Trị đã được linh ứng, tại sao trong kinh lại không. Trẫm thật hổ thẹn vì ngươi“.
5. Dục Đức
6. Hiệp Hòa
Hiệp Hòa đế
7. Kiến Phúc
Kiến Phúc đế
8. Hàm Nghi
Hàm Nghi đế 1
Hàm Nghi đế 2
9. Đồng Khánh
Đồng Khánh đế
Đồng Khánh bút tích
10. Thành Thái
Thành Thái đế 1
1898 L'EMPEREUR D'ANNAM EN COCHINCHINE
Bức họa chân dung hoàng đế Thành Thái trong chuyến thăm Sài Gòn và Gò Công năm 1898.
Thành Thái ngự phê
Tấu thư nhan đề “Tôn nhơn phủ tấu về việc chọn phò mã cho công chúa”. Châu phê : “Đáng giận cho Nguyễn Sắc đã nói rõ, nên chiếu theo thực hiện, sao lại phiền phức như vậy“.
11. Duy Tân
Duy Tân đế 1
Duy Tân đế 2
12. Khải Định
Hoàng đế Khải Định (啓定, 1885 – 1925) có tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo (阮福寶嶹), sau khi từ trần được dâng miếu hiệu là Hoằng Tông (弘宗). Giai đoạn trị vì của ông (1916 – 1925) thuộc về thời hậu Đệ nhất Thế chiến, nước Pháp với tư cách là phe thắng trận đã đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa và gầy dựng một không gian Đông Dương ổn định, so với các nước Á Đông cùng thời thì khu vực này không kém cạnh gì. Đương thời, Khải Định là một trong các nhân vật chính trị bị giới truyền thông châm biếm gay gắt nhất, một phần vì ông không có thực quyền và một phần là vị hoàng đế này chỉ an hưởng trong cấm cung mà không quan tâm đến những gì xảy ra bên ngoài. Ông được biết đến là người rất say mê và am tưởng về mĩ thuật, tự thiết kế được y phục cho riêng mình, ngoài ra cũng rất hay chữ. Tuy nhiên, có nhiều đồn đại ông bị bất lực và thậm chí có thể là người đồng tính. Dù sự thật ra sao thì điều chắc chắn là hoàng đế đã không thể có hoàng tử trực hệ như quan niệm Á Đông xưa nay, bởi vậy người kế vị của Khải Định là con của một nhân vật khác trong hoàng tộc.
Khải Định đế 1
Khải Định đế 2
Khải Định đế 3
13. Bảo Đại
Hoàng đế Bảo Đại (保大, 1913 – 1997) có tên húy là Nguyễn Phước Vĩnh Thụy (阮福永瑞), vốn là con của một hoàng thân và được hoàng đế Khải Định chọn kế nghiệp. Ông trị vì từ 1925 đến 1945 và từ 1948 đến 1955 thì đảm nhiệm vai trò Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam (tuy thực tế vẫn là vua). Bảo Đại là vị hoàng đế Nguyễn cuối cùng và thời gian ông trị vì đã có nhiều cải cách quan trọng để đưa Việt Nam tiến gần hơn đến lối sống văn minh đương đại. Trào lưu Âu hóa thập niên 1930 đã thổi vào xã hội Việt Nam một sinh khí mới, mặc dù có nhiều chỉ trích của giới tuyên giáo miền Bắc Việt Nam thập niên 1960 – 1970, nhưng không ai phủ nhận được di sản văn hóa quá lớn của thời kỳ này. Hoàng đế Bảo Đại cũng là người đã đọc văn kiện tuyên bố Việt Nam độc lập vào ngày 11.3.1945 và bãi bỏ những điều khoản ràng buộc với Pháp trong khoảng 80 năm. Cơn biến động chính trị sau Đệ nhị Thế chiến đã gạt dần sức ảnh hưởng của hoàng triều Nguyễn trên đất nước Việt Nam, trong đó có hoàng đế Bảo Đại. Sự kết thúc của triều Nguyễn thực tế cho thấy dòng tộc này không theo kịp đà phát triển của đất nước, đồng thời đánh dấu bước chuyển mình (tuy chậm chạp) từ tập quán gia trưởng sang lối sống tự do hơn – tiến trình này tất nhiên có sự đóng góp không nhỏ của chính hoàng triều Nguyễn.
Sa Majesté Bao Dai empereur d'Annam 1928
Chân dung hoàng đế Bảo Đại năm 1928.
Sa Majesté l' empereur habillé à l'européenne 1933
Chân dung hoàng đế Bảo Đại năm 1933.
Bảo Đại ngự phê
Ngự phê ngày 14.5.1945 về việc phát chẩn cứu đói tại Thanh Hóa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét