Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

Lời Hay Ý Đẹp



Tri giả bất ngôn 
Ngôn giã bất tri.
Biết ấy là ko nói Nói ấy là ko biết.
Học giả thì không có kinh nghiệm tu hành chỉ viết hoặc nói ra những suy tưởng hay thu nhặt ý của người khác. 
Hành giả là người ngoài chuyện học, thông suốt những gì cần thông suốt rồi thực hành những gì mình thông hiểu để kiểm chứng mọi điều người khác nói hay sách ghi. Hành giả là người có kinh nghiệm tu hành, họ nói hay dạy người qua kinh nghiệm bản thân. 
Đức Phật dạy "Tu hành mà chưa xong thì chớ nên dạy người". Mặc dù là hành giả nhưng tu chưa xong thì không nên dạy người. Người tu hành chưa chứng quả mà dạy người như người mù dẫn một đám người mù theo. 
Trưởng giả từ gốc Hán, chữ Hán viết 长者, trong đó chữ Trưởng nghĩa là lớn, có tuổi cao hơn, Giả nghĩa là người, bậc. Trưởng giả có các nghĩa sau: 
1. Chỉ người có tuổi, bề trên. Trong bài "Binh xa hành" Đỗ Phủ viết: 长者虽有问,役夫敢伸恨 (trưởng giả tuy hữu vấn, dịch phu cảm thân hận) nghĩa là "Cụ đã hỏi thì kẻ phu dịch này cũng xin được nói ra những uất hận trong lòng" 
2. Người có đức hạnh. Trong Sử ký, chương Nguỵ công tử có viết: 忠厚长者市人皆以嬴为小人,而以公子为长者 (trung hậu trưởng giả thị dân giai dĩ Doanh vi tiểu nhân, nhi dĩ công tử vi trưởng giả), nghĩa là " Các bậc có đức hạnh trung hâu cho đến dân thường đều coi Doanh là tiểu nhân, và coi công tử là người có đức hạnh" 
3. Người quyền quý. Câu thành ngữ Việt cũng nói rõ nghĩa này: Trưởng giả học làm sang. 
4. Nghĩa trong Phật giáo: 1. chỉ người có đạo đức; 2. chỉ người giàu có lại có đạo đức
Vô ngã không phải là không có ta như từ đó diễn tả theo nghĩa đen mà vô ngã là con người chỉ là hợp thể chứ không có bản chất độc lập, bất biến và tự tại . Phật giáo nói con người do duyên khởi mà có , duyên khởi nghiã là nhiều yếu tố kết hợp lại tương quan với nhau, nên con người không phải là đơn chất tinh thuần , con người không phải là hiện hữu độc lập mà là sự tương quan , con người không phải bất biến mà luôn luôn thay đổi , con người không tự tại mà bị ràng buộc . Vậy vô ngã là không tồn tại độc lập mà có mặt do sự tương quan , không tự tại mà bị ràng buộc , không bất biến mà luôn luôn thay đổi nên gọi là vô ngã. Vì duyên sinh nên vô ngã . Ta có mặt là từ những cái không phải là ta nên là vô ngã , cụ thể như cha không phải là ta , mẹ không phải là ta , cơm không phải là ta , nước không phải là ta , không khí không phải là ta , mà ta ra đời từ những cái không phải là ta đó hợp lại , nên tuy ta mà không phải ta riêng rẽ , đó là vô ngã .
Vô ngã là trạng thái giải thoát hoàn toàn của bậc giác ngộ. Đó chính là Phật. Mặc dù còn thân, nhưng đã thoát khỏi sinh tử, đãt được an vui vĩnh viễn. Đó là vô ngã. Vô ngã là trạng thái tỉnh thức. Vô ngã o phải là tồn tại nhìn thấy. 

Hữu ngã là ngược lại. có nghĩa là toàn bộ chúng sinh, khi chưa đắc quả vị giải thoát. 

Người tu là dùng hữu ngã đề đối cảnh quán chiếu tiêu diệt toàn bộ ngã mạn, sang trạng thái vô ưu, chính là đạt trạng th1i vô ngã vậy. 

Không có hữu ngã, không thể có gì mà đối cảnh để tu chứng cho vô ngã được.













Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét