Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

Phật tượng Việt Nam và một vài nguyên tắc nghệ thuật tạo tượng


Nếu như tháp là hình ảnh biểu trưng của Đức Phật vốn mang tính ước lệ, thì tượng lại thuộc dòng chảy nghệ thuật điêu khắc mang tính nhân dạng, biểu thị niềm kính ngưỡng đối với Đức Phật. Tượng Phật khắc họa chân dung, diễn tả hiện thực đời sống con người, đồng thời cũng mang đầy tính siêu thực, trừu tượng với vô vàn chi tiết biến ảo của trí tưởng tượng.
Hệ thống tượng Phật trong những ngôi chùa Việt Nam (điển hình ở Bắc Bộ) vô cùng sinh động, bất kỳ pho tượng nào cũng là tác phẩm điêu khắc nghệ thuật, phản ánh suy nghĩ, tâm tưởng của chúng sinh.
Phật tượng trong dòng chảy văn hóa
Hệ thống tượng Phật ở Bắc Bộ vô cùng đa dạng, không những về loại hình mà còn về chất liệu. Tượng cổ chủ yếu sử dụng các chất liệu: đá, đồng, gỗ, đất sét nung, và đặc biệt là gỗ mít. Theo quan niệm dân gian, đây là loại gỗ “thiêng”, rất được ưa chuộng trong việc chế tác các đồ thờ cúng. Gỗ mít có đặc tính dẻo, mềm, thớ dặm, do vậy tránh được những sơ suất trong khi đục, lại có độ bền cao, ít nứt, dễ gọt. Ngày nay, bên cạnh những nguyên liệu cổ truyền, người ta đã sử dụng cả bê-tông để chế tác tượng, vì nguyên liệu này vừa dễ tạo hình, lại có độ bền cao.
taotuong.gif
Tượng đức Phật A Di Đà Chùa Phật Tích bản phục chế
đặt tạo bảo tàng lịch sử Việt Nam
Tượng Phật bằng đá có niên đại sớm nhất hiện còn lưu giữ được ở Bắc Bộ là những pho tượng thời Lý, tuy số lượng hiếm hoi, và cũng không có pho tượng nào còn nguyên vẹn. Được nhắc tới nhiều nhất là pho tượng A Di Đà chùa Phật Tích (Bắc Ninh), niên đại 1057. Pho tượng Kim Cương bảo vệ Phật pháp cùng niên đại cũng ở chùa này đã mất đầu và chân, hiện được bảo tồn tại Viện Bảo tàng lịch sử. Chùa Duyên Ứng (Long Đọi - Hà Nam) có pho tượng Kim Cương cao 1,57m; chùa Huỳnh Cung (Hà Nội) có pho tượng A Di Đà, cả hai pho tượng bằng đá thời Lý quý giá này đều đã mất đầu. Tượng thời Lý còn đầy đủ bộ phận hơn cả là hai pho đá chùa Ngô Xá (Nam Định) và chùa La Khê (Hà Tây), chỉ bị vỡ một phần đài sen.
Lần theo sử sách, nhiều tài liệu ghi về việc đúc những pho tượng bằng đồng vào thời Lý, đặc biệt là pho tượng Phật khổng lồ do Minh Không đúc trên núi chùa Quỳnh Lâm - một trong những Thiên Nam tứ đại khí. Thế nhưng thật đáng tiếc, ngày nay không còn pho tượng bằng đồng và gỗ nào của thời Lý còn tồn tại.
Tượng Phật thời Lý còn sót lại đã hiếm, tượng Phật thời Trần lại càng bặt tăm. Ngày nay không còn tìm thấy bất cứ pho tượng nào của thời Trần, riêng bệ tượng thì lại vô cùng phong phú. Trong những ngôi chùa cổ ở suốt dọc sông Đáy còn sót lại rất nhiều hương án đá có niên đại cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là những bệ ngồi của tượng, vì ở phía sau không còn chỗ nào để đặt tượng. Tìm nguyên nhân của sự vắng bóng tượng Phật thời Trần cũng như sự hiếm hoi của tượng Phật thời Lý, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều kiến giải khác nhau. Một là, do tượng Phật thời Lý-Trần chủ yếu làm từ gỗ, đất nên không bền vững, đã bị phá hủy bởi thời gian, nạn xâm thực bởi mối mọt, thời tiết khắc nghiệt, mưa dầm nắng dãi, khí hậu nóng ẩm... Hai là, do người xưa chưa ý thức được tầm quan trọng nên chưa quan tâm bảo vệ di sản. Họ chỉ nghĩ đơn giản: những thứ cũ nát thì bỏ đi, thay bằng đồ mới. Nên việc phá bỏ tượng cũ, thay bằng tượng mới cũng không lấy gì làm lạ. Ba là, do triều đại sau vì muốn xóa bỏ ảnh hưởng dấu tích của triều đại trước, xóa bỏ tư tưởng hồi cố ra khỏi quần chúng để củng cố nền thống trị mới, nên những di sản Phật giáo cũng theo đó mà lâm nạn. Bốn là, do giặc ngoại xâm tàn phá, đặc biệt giặc Minh và chính sách đồng hóa của chúng.
taotuong-1.gif
Từ thời Hậu Lê trở đi, hệ thống tượng Phật ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng về chất liệu (gỗ, đá, đất, sứ...) lẫn nghệ thuật tạo hình. Niên đại thế kỷ XV, còn lưu giữ được Bộ tượng Tam Thế Phật bằng đá ở chùa Ngọc Khám. Riêng niên đại thế kỷ XVI đã khá phong phú, tượng Phật chủ yếu tạc từ gỗ. Ta gặp những bộ Tam Thế Phật ở chùa Thầy, chùa Ninh Hiệp (Hà Nội); chùa Trà Phương (Hải Phòng)... chùa La Khê (Hà Nội) có tượng Thích Ca tọa thiền. Thế kỷ XVI cũng đã bắt đầu xuất hiện tượng Quán Âm Nam Hải (Thiên Thủ Thiên Nhãn), hiện còn lưu giữ ở chùa Đào Xuyên, chùa Nga My (Hà Nội); chùa Thượng Trưng, chùa Hội Hạ (Vĩnh Phúc); chùa Động Ngộ (Hải Dương). Chùa Phổ Minh (Nam Định) có tượng Quán Âm cứu độ.
Tứ pháp trong 4 ngôi chùa cổ: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện cũng đều là những pho tượng được xác định niên đại thế kỷ XVI. Trước công nguyên, nhân dân ta thờ các vị thần: Mây, Sấm, Chớp, Mưa. Khi đạo Phật truyền vào, đã được dung hòa với tín ngưỡng bản địa, vì vậy bốn vị thần được người dân coi là Phật. Lúc đó trong chùa chưa thờ Phật Thích Ca, mà Tứ pháp là các vị Phật sơ khởi được nhân dân thờ phụng trong chùa. Tương truyền Tứ pháp được Sĩ Nhiếp cho tạc để thờ trong 4 ngôi chùa cổ trên vào thế kỷ thứ III. Trải qua thời gian, những pho tượng từ thời Sĩ Nhiếp đã không còn. Theo các nhà khoa học, Tứ pháp trong 4 ngôi chùa cổ nhất nước ta hiện nay là những pho tượng có niên đại muộn hơn nhiều, vào thời Hậu Lê.
Cùng với hệ thống tượng gỗ, thời Hậu Lê cũng phong phú các pho tượng đá. Nơi lưu giữ nhiều pho tượng đá cổ nhất nước ta có lẽ là chùa Trầm (Chương Mỹ, Hà Tây) với 48 pho tượng đá thời Lê được chế tác công phu, tinh xảo, tư thế nào cũng toát lên vẻ đẹp tâm linh của Đức Phật, Di Lặc, La Hán, Thập điện Diêm Vương... Từ thế kỷ XVII trở đi, và mặc dù sau đó đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, nhưng thế giới tượng Phật vẫn ngày càng trăm hoa đua nở, muôn hồng ngàn tía. Rất nhiều pho tượng mang tính kinh điển đã trở nên thân thuộc với đời sống tâm linh người dân Á Đông: Tòa Cửu Long, Thích Ca tọa thiền, Thích Ca nhập niết bàn, A Di Đà, Tam thế, Di Lặc, Quán Âm tọa sơn, Quán Âm Nam Hải, Tuyết Sơn, Chuẩn Đề, Đại Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng, các vị La hán...
taotuong-2.gif
Số lượng tượng Phật và nghệ thuật sắp đặt tượng ở mỗi ngôi chùa mang những phong cách khác nhau, nhưng thường tuân theo quy tắc chung. Hai bên tiền đường luôn sừng sững hai pho Hộ pháp với kích thước to lớn khác thường. Tòa Thiêu hương bố trí nhiều lớp tượng cân xứng hai bên. Chính giữa lớp trên cùng của Thiêu hương là tượng Ngọc hoàng, hai bên có Nam Tào và Bắc Đẩu. Nhiều ngôi chùa để tòa Cửu Long tọa lạc ở trung tâm của Thiêu hương, phía trước tượng Ngọc hoàng. Thiêu hương không thể thiếu các tượng Thánh hiền, Đức ông bố trí đăng đối, mỗi pho tượng này lại có thêm 2 pho người hầu. Lớp dưới cùng thường có tượng Tổ và tượng Thổ địa. Tam bảo của Thượng điện chỉ dành để bài trí tượng Phật nên còn gọi là điện Phật. Hai bên Tam bảo có 2 hàng tượng Thập điện Diêm Vương (mỗi bên 5 pho) nhằm làm tăng sự uy nghiêm cho Phật điện. Tượng ở Tam bảo sắp đặt thành nhiều lớp, trung bình có 5-6 lớp tượng. Mỗi lớp tượng thường có 1 pho hoặc 3 pho, thậm chí 5 pho. Những pho tượng ngự độc lập trên một lớp thường là: Thích Ca, A Di Đà, tòa Cửu Long, Quán Âm thiên thủ thiên nhãn... Những lớp tượng 3 pho thường tạo thành bộ Tam thế Phật, cùng với biến thể Di Đà Tam tôn.
Không tọa lạc ở những vị trí trang nghiêm tối thượng của Tam bảo, chỉ trú dọc 2 dãy hành lang chùa, nhưng hệ thống tượng La hán lại vẫn mang giá trị thẩm mỹ cao, đầy ắp giá trị hiện thực nhân sinh. La hán tái tạo những con người sắp thành Phật, đang ở cảnh giới trung gian giữa cõi người và cõi Phật. Để đạt thành chánh quả, con người phải trải qua muôn vàn gian nan, kiếp nạn. Bởi vậy, các pho tượng La hán chính là tác phẩm để những nghệ nhân xưa truyền tải vào đó những nỗi thống khổ nhất của kiếp người mà họ và biết bao đời đã từng trải qua, quằn quại trong “đêm trường” của xã hội phong kiến. Ngày nay, đứng trước những pho tượng La hán khiến chúng ta luôn rùng mình run rẩy, thán phục tài nghệ của những người thợ xưa, đặc sắc nhất là trong các ngôi chùa: Chùa Tây Phương, chùa Thầy, chùa Dâu, chùa Trăm gian...
Chùa Việt Nam không chỉ bài trí tượng Phật, mà còn có nhiều loại tượng khác: Tượng các vị danh nhân có công với nước, tượng Diêm vương, Ngọc Hoàng, tượng Hậu, tượng Thánh, Kim Cương, Tứ Trấn... Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới một số loại hình tượng Phật phổ biến nhất.
Bộ Tam Thế Phật
Ngự ở vị trí cao nhất của tòa Tam bảo luôn là hiện thân của Giáo chủ Như Lai, mỗi ngôi chùa với một hiện tướng khác nhau: tượng Thích Ca tọa thiền, A Di Đà, hoặc Bộ Tam thế Phật thể hiện 3 kiếp của Đức Phật Tổ. Ở chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội), Tam thế Phật ngự trên tầng cao nhất của tòa Điện Phật, cả ba pho đều trong tư thế thiền định, chân xếp bằng kiết già, cùng kích thước (cao 0,82m). Pho ở giữa với mái tóc kết xoắn ốc, khoác cà sa chùng rộng, nếp áo phủ cân xứng qua hai bờ vai. Pho bên trái, cổ đeo chuỗi anh lạc, tay trái đặt lên gối trái, nếp áo cà sa thưa hơn, vắt từ vai trái qua vai phải. Pho bên phải, tay trái đặt trước lòng với ngón cái cong lên, tay phải đặt ngửa trên đùi phải.
Ở chùa Hương Trai (Hoài Đức, Hà Nội), Bộ Tam thế niên đại thế kỷ XVII ngự trên bệ đá hoa sen. Cả 3 pho, mặt tượng đều đầy đặn, hiền hậu, trên đầu nổi “nhục kế” tròn như bát úp. Tóc kết xoắn ốc phủ lên nhục kế. Tai dài chảy xuống gần chạm vai. Trước ngực có sợi dây anh lạc tạo bởi các hạt nổi liên kết từ những vân xoắn. Cả ba pho tượng đều ngồi trong tư thế kiết già, tượng trưng cho 3 đại kiếp của Như Lai giáo chủ. Pho quá khứ (Trang nghiêm kiếp) mặc 2 lớp áo, ngực nổi chữ Vạn. Pho hiện tại (Hiền kiếp), vạt áo trái chồng lên vạt áo phải, tay trái duỗi thẳng đặt lên lòng đùi, tay phải kết ấn Vô úy. Pho Vị lai (Tinh tu kiếp), áo tạc bó sát thân, tay trái đặt lên đùi kết ấn Gia trì Bổn tôn, tay phải kết ấn Chuyển pháp luân. Bộ Tam thế Phật nguyên thủy thể hiện 3 kiếp của Phật Tổ trong hình dáng và kích thước tương tự nhau, nhưng về sau đã hình thành nên những biến thể: Tam thế Di Đà - Thích Ca - Di Lặc; Di Đà Tam tôn; Hoa Nghiêm Tam thánh.
taotuong-5.gif
Chùa Ngọc Khám (Thuận Thành, Bắc Ninh) ngày nay còn lưu giữ được ba pho tượng nghệ thuật bằng đá xanh vô cùng giá trị, đó chính là bộ tượng Tam thế được tạo tác vào khoảng cuối thời Trần đến đầu thời Lê sơ, niên đại thế kỷ XV, được các nhà khảo cổ học đánh giá là bộ tượng Tam thế Phật cổ nhất Việt Nam. Có tài liệu gọi ba pho tượng này là bộ Di Đà Tam tôn (Di Đà, Quán Âm, Thế Chí), nhưng đa số tài liệu khẳng định đây là các pho: Di Đà, Thích Ca, Di Lặc. Cả ba pho tượng đều có kích thước và hình dáng khá giống nhau, đều không còn nguyên vẹn. Đầu tượng bên trái bị gãy phải chắp vá lại. Tượng giữa khuyết một phần mũi, một bên má và một phần tai. Tượng bên phải sứt một phần mũi và cằm. Pho Di Đà cao 1,37m (cả bệ là 2,3m); tượng Thích Ca cao 1,37m (cả bệ là 2,39m); tượng Di Lặc cao 1,4m (cả bệ là 2,49m). Các tượng đều có gương mặt đầy đặn, tóc xoăn, tai chảy, toát lên vẻ phúc hậu mà cũng rất trang nghiêm. Mặt Phật hơi ngẩng cao, mặc áo bó sát thân, áo khoác ngoài có nhiều nếp uốn cong, đường diềm áo trang trí hoa văn. Ngực các pho tượng đeo vòng tràng hạt đan chéo nhau tạo thành hình tam giác, điểm xuyết bông hoa nhiều cánh cách điệu, với những dải tua rua dài. Ba chiếc bệ của bộ tượng Tam thế Ngọc Khám đều có phần trên cùng hình tròn tạo thành tòa sen với 2 lớp cánh, ngự trên bệ bát giác 3 tầng. Hoa văn trang trí trên bộ tượng Ngọc Khám vô cùng phong phú, chủ yếu tập trung ở bệ tượng, gồm các hình rồng, long mã, hoa lá, chim muôn… Hoa văn ở mỗi cánh sen có rồng, mây, hoa lá, cứ xen kẽ một cánh có hình rồng, lại tới cánh sen có đôi rồng chầu vào một viên ngọc. Những cánh sen trang trí 2 hình rồng cũng khác nhau, chiếc thì đôi rồng đối xứng theo trục dọc đứng thẳng chia đôi cánh sen, chiếc thì đôi rồng đối xứng theo trục chéo hợp với trục đứng thành góc 45 độ. Rồng trên cánh sen dáng thon nhỏ, đầu to và dài, miệng há rộng khoe hàm răng nhọn, mào lửa từ mũi vươn lên xoắn vỏ đỗ rồi tỏa theo hình lá cây, thân hình uyển chuyển trong bố cục hài hòa. Chân bệ được chạm khắc rất nhiều bức tranh sống động. Chân bệ giữa có phong cảnh đầm sen, với 2 bông sen đang nở rộ, cùng hai nụ sen chưa nở giữa những lá sen xòe rộng. Ở một cảnh khác, trên hồ nước mênh mông vươn lên khóm trúc, trên cành có 3 con chim đang đậu.
Trong các bộ Di Đà Tam tôn thường gặp ở các ngôi cổ tự, ngự chính giữa bộ tượng bao giờ cũng là pho A Di Đà theo lối kiết già để hàng phục yêu ma. Đầu tượng A Di Đà thường nổi nhục kế, có những cụm tóc xoắn ốc nên được dân gian gọi là "ông Bụt Ốc". Mặt tượng đầy đặn thể hiện sự phúc hậu, nét mặt thanh tịnh, tươi nhuần. Tai tượng to, dài, chảy xuống. Cổ tượng cao, nhiều ngấn. Tượng A Di Đà thường mặc áo choàng, vạt áo nhiều lớp chảy tràn xuống đài sen, ống tay áo rộng có những nếp song song chảy trên đùi rồi tràn xuống bệ. Ở một trong những kiểu biến thể Di Đà Tam tôn, bên trái A Di Đà là tượng Di Lặc, bên phải là tượng Tuyết Sơn. Một pho tượng béo tròn cùng một pho tượng gầy trơ xương tọa lạc 2 bên Đức A Di Đà cân đối, tạo nên giá trị thẩm mỹ cao về những thái cực hiện hữu trong thế giới thực. Tượng Di Lặc với gương mặt tròn đầy, miệng cười tươi tắn, hai tai to chảy dài xuống, cổ ngắn, đầu láng. Ngực tượng để trần, áo chỉ phủ từ dưới bụng trở xuống, bụng to tròn, hằn 3 nếp phía trước. Chân ở tư thế ngồi thoải mái, chân phải xếp bằng, chân trái chống hơi nghiêng, bàn chân đặt phía trước. Tay phải để ngửa, các ngón tay mở đặt trên đùi, tay trái úp xuống đặt trên đầu gối. Tượng Tuyết Sơn với dáng gầy gò, khuôn mặt khắc khổ nhưng thư thái, hai tai chảy dài xuống tận cổ. Toàn bộ khung xương lộ rõ, thậm chí đôi tay lộ rõ đường gân. Ấn tượng nhất chính là các khắc họa những xương sườn và khung xương chậu, khiến người chiêm ngưỡng luôn cảm nhận được sức mạnh tiềm ẩn trong con người gầy gò. Tượng thường tạc ở tư thế ngồi, chân phải xếp bằng, chân trái chống lên. Tay phải thõng xuống, bàn tay để ngửa, trong lòng bàn tay có viên ngọc. Taytrái úp xuống đặt lên đầu gối.
taotuong-3.gif
Ở một biến thể Di Đà Tam tôn khác cũng thường thấy, bên trái A Di Đà là tượng Đại Thế Chí, bên phải là tượng Quán Âm. Quán Âm và Đại Thế Chí tạc ở tư thế đứng trên đài sen. Đại Thế Chí có gương mặt to, tóc búi ngược, đội mũ có thành cao, hai tay tượng để trước ngực, có thể cầm bông hoa sen. Tượng Quán Thế Âm trong tư thế tay cầm bình nước cam lồ. Ngày nay vẫn còn lưu giữ được những bộ Di Đà Tam tôn có tuổi hàng trăm năm, phải kể đến các bộ tượng ở chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Nội), chùa Bắc Lãm (Hà Tây) vào thế kỷ XVII, chùa Tây Phương (Hà Tây), chùa Phúc Khánh (Hà Nội) vào thế kỷ XVIII, và phổ biến trong các chùa thế kỷ XIX. Bộ tượng Di Đà Tam tôn bằng gỗ cổ nhất Việt Nam đã được xác định là bộ Di Đà Tam tôn ở chùa Thầy, ngự ở vị trí cao nhất phía trong cùng của tòa Điện thánh. Ở đây, A Di Đà trong tư thế kiết già, đầu tượng có tóc kết xoắn ốc cao thiên về phía đỉnh. Tai đeo hoa, cổ đeo vòng trang trí hình tròn lớn ở giữa với hình hoa mai và anh lạc. Các nhà nghiên cứu mỹ thuật cho rằng đeo dây anh lạc chỉ có ở tượng niên đại TK XVI. Tay phải của tượng để trước lòng đùi kê lên bàn chân, tay trái lồng lên tay phải. Ngón cái của hai tay đan xen nhau, đều đeo nhẫn có mặt hoa cúc mãn khai. Tượng khoác áo cà sa chùng rộng, gấp nhiều nếp phủ quanh cổ và lượn tròn trước bụng. Lớp áo ngoài trùm qua bờ vai, phủ lên hai gối xuống mặt bệ sen. Bên trong có lớp xiêm rộng thắt lưng nhiều nếp và bó mối xoắn. Quán Âm Bồ tát ngồi trong tư thế thiền định, chân xếp bằng trên mặt đài sen. Kích thước tượng: cao 1,48m, ngang vai 0,58m, ngang đùi 1,14m. Đầu tượng đội mũ thiên quan, đính nhiều bông hoa tròn, đóa ở giữa có quầng sáng hình lá đề cân xứng. Mặt nhìn thẳng phía trước, đôi tay chắp trước ngực, bàn tay lồng úp vào nhau. Ngoài cùng khoác cà sa chùng rộng, cổ áo lượn tròn, phủ cân xứng hai bên tay, xuống đùi rồi trùm mặt bệ. Đường diềm áo có điểm hoa văn hình hạt ngọc và những bông hoa trông tựa như tràng hạt. Bồ tát Đại Thế Chí ngự trên bệ vuông, chân trái buông thõng, chân phải xếp bằng. Kích thước tượng: cao 1,22m, ngang vai 0,3m, ngang đùi 0,77m. Đầu đội mũ thiên quan, lượn vành núi cao, trang trí hoa sen. Mặt thanh nhỏ, cổ đeo vòng. Tay phải cầm phất trần đặt lên đầu gối phải, tay trái để ngửa trước lòng. Tượng khoác cà sa chùng rộng, giống tượng Đức Phật A Di Đà và Bồ tát Quán Thế âm. Quanh thân có vòng tràng hạt điểm hoa tròn, tua ngũ sắc rủ qua hai vai, quấn quanh tay, lượn xuống đùi. Cả ba pho Di Đà Tam tôn đều được tạc bằng gỗ mít, sơn son thếp vàng. Nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền, trong sách Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt cho rằng đây là "Bộ Di Đà Tam tôn có niên đại sớm nhất bằng gỗ được biết ở nước ta. Sở dĩ pho tượng Bồ tát Đại Thế Chí ở chùa Thầy có niên đại thế kỷ XVII vì có hình thức gần với tượng Quán Âm thời Mạc”. Trong sách Chùa Việt Nam, Giáo sư Hà Văn Tấn khẳng định: "Bộ tượng Di Đà Tam tôn ở chùa Thầy có niên đại 1607 hiện là bộ tượng Di Đà Tam tôn sớm nhất ở nước ta".
taotuong-4.gif
Một trong những biến thể của Tam thế Phật là bộ tượng Hoa Nghiêm Tam thánh, tọa lạc ở giữa là tượng Thích Ca Giáo chủ ngồi cầm hoa sen, như khi ngài thuyết pháp ở Linh Thứu sơn. Văn Thù Bồ tát ngự ở bên trái, đứng trên tòa sen, hoặc ngồi trên con sư tử xanh. Bên hữu là tượng Phổ Hiền Bồ tát, đứng trên tòa sen, hoặc ngồi trên con voi trắng. Đây là hình ảnh được tạc dựa theo thuyết nói trong kinh Hoa Nghiêm. Ở nhiều ngôi chùa, bộ Hoa Nghiêm Tam thánh cũng có những biến thể khác, bên trái là tượng Ca Diếp, bên phải là tượng A Nan Đà, đây là hai đại đệ tử của Đức Thích Ca khi Ngài còn ở thế gian, cả hai vị tôn giả này đều được tác tạo trong tư thế đứng, hình dáng hai người tỳ khưu.
Hình tượng  Đức Thích Ca Mâu Ni
Theo truyền thuyết, khi chào đời, Đức Phật đã bước đi bảy bước, dưới mỗi bước chân nở ra một bông sen. Ngài đưa tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất mà nói: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Tất cả các nước theo Phật giáo khi dựng lại hình ảnh Đức Phật đản sinh, thường khắc tạc tượng một em bé, chân đang bước dẫm lên bông sen nở, một tay chỉ lên trời một tay chỉ xuống đất. Những pho tượng Thích Ca sơ sinh bắt đầu xuất hiện trong những ngôi chùa ở Việt Nam cũng được thể hiện mộc mạc như vậy.
Tượng Thích Ca sơ sinh sớm nhất hiện còn thuộc thế kỷ XVI. Chùa Đông Dương (Hải Dương) có pho tượng Thích Ca sơ sinh sớm thuộc thời Mạc. Niên đại tương đối này trước hết được xác định qua tòa sen tròn đặt trên chiếc bệ bát giác, cánh sen mập, hoa văn được trang trí ở cả mặt cánh sen và các mặt bên của bệ bát giác những hình mây, hoa và cây thường gặp ở thời Mạc. Dáng tượng nhô về trước, chân hơi mở ra gây cảm giác vui và vững. Tượng mặc chiếc váy ngắn cũn chỉ có vài đường cong võng nhịp theo gấu váy, tạo cảm giác tượng như nhô ra và phình ngang, thể hiện em bé bụ sữa. Đầu tượng rất tròn, trán cao, hai mắt như chia đôi đầu, các chi tiết trên mặt đều hồn nhiên, đời thường. Niên đại thời Lê Trung Hưng, ngày nay còn pho tượng Thích Ca sơ sinh bằng đá ở chùa Hưng Long (Hà Nội). Tượng được tạc nổi trên mặt phiến đá trông giống như tấm bia, thể hiện cậu bé sơ sinh trần truồng đứng trên đài sen, trong một vòm động. Viền quanh động là một băng hoa với hình chín con rồng nối nhau như đường diềm của bia, sườn bên ghi rõ niên hiệu Phúc Thái 2 (tức năm 1644).
Đến thế kỷ XVII, tượng Thích Ca sơ sinh đã phát triển lên thành Tòa Cửu Long, diễn tả sinh động và đầy đủ truyền thuyết đản sinh. Tòa Cửu Long lấy cây vô ưu làm bối cảnh, cùng với bầu trời đan bởi chín con rồng phun nước, xung quanh có Đế Thích, Phạm Thiên cùng các Thiên thần. Hình ảnh này được khắc họa dựa theo truyền thuyết, khi Đức Phật chào đời, bầu trời xuất hiện chín con rồng phun nước thơm xuống để tắm cho Ngài, hai vị vua trời là Đế Thích và Phạm Thiên, cùng các thiên thần tiên nữ đến dâng hoa ca múa chào mừng. Tòa Cửu Long niên đại thế kỷ XVII ở chùa Keo (Thái Bình) được đánh giá là một trong những tòa Cửu Long cổ nhất nước ta. Ngày nay rất nhiều ngôi cổ tự còn lưu giữ được những tòa Cửu Long do người xưa tạo tác có tính nghệ thuật thẩm mỹ cao độ, phải kể đến tòa Cửu Long trong những ngôi chùa: Bảo Đài Cổ Sái (trong quần thể Hương Tích), chùa Đại Bi (Nam Giang-Nam Định), chùa Phúc Khánh, chùa La Khê, chùa Đồng Trúc, chùa Ngọc Trục (Hà Nội), chùa Linh Ngai (Hà Nam), chùa Dư Hàng (Hải Phòng).
Khi tác tạo tòa Cửu Long, các nghệ nhân tha hồ tự do sáng tác nên hình tượng rồng nhiều dạng khác nhau. Chẳng hạn, rồng trên tòa Cửu Long của Linh Ngai tự có đầu mập hơn so với thân, với nét đặc trưng: mắt quỷ, miệng sói, mũi sư tử, râu cá trê, sừng nai... Càng quan sát kỹ những con rồng ta có cảm tưởng như chúng đang thỏa sức vờn mây nhưng lại thật hung dữ trong biểu hiện sức mạnh của uy quyền. Nếu như hầu hết những pho tượng Phật đều thuộc loại hình điêu khắc nhân dạng, diễn tả từng vị Bồ tát, thì riêng tòa Cửu Long là cả một quần thể gồm rất nhiều pho tượng đặt trong sự phối cảnh phức hợp. Tên gọi “Tòa” đã nói lên lòng tín ngưỡng của con người. Nội dung cốt lõi của tác phẩm phải diễn tả thấu triệt ý nghĩa thăng diệu của sự kiện đản sinh. Bối cảnh lấy trời đất vũ trụ (gồm cả “Thiên thượng” và “Thiên hạ”) bao bọc, đồng thời làm nền tôn cao Chân ngã Như Lai. Hình ảnh chín con rồng phun nước là sự kết hợp tuyệt vời giữa triết lý Phật giáo với tín ngưỡng dân gian của người Việt cổ, thể hiện lòng cầu mong của người làm ruộng được mưa thuận gió hòa để bước vào một vụ mùa phong đăng hòa cốc.
Trong nhiều ngôi chùa, phổ biến gặp những pho tượng Đức Phật Thích Ca tọa thiền, với nhiều hình thức kết ấn: Tam muội, Mật phùng, hoặc Chuẩn Đề. Cả ba cách kết ấn này đều tạo cho tượng có bố cục cân đối đến mức gần như đăng đối giữa hai nửa phải và trái, do đó gây được hiệu quả trang nghiêm. Ở chùa Đại Phúc (Hoài Đức, Hà Nội), Phật Thích Ca kết ấn Mật phùng, hai vạt áo chảy dài xuống, gắn kết chặt chẽ tượng với bệ thành một chỉnh thể, tất cả lại được đặt trên lưng một con voi trắng. Cánh sen bệ tượng vênh ra, trên cánh sen chạm nổi một số hình trang trí, có thể tượng thuộc niên đại hơi muộn, khoảng thế kỷ XVIII. Những pho tượng Thích Ca niêm hoa ghi lại hình ảnh Đức Phật thuyết pháp không dùng lời (bất lập văn tự) phổ biến trong nhiều ngôi chùa.
taotuong-6.gif
Trong loại hình tượng Phật Thích Ca, chúng ta cũng thường gặp tượng Phật nhập Niết bàn, điển hình ở chùa Mía (Đường Lâm, Hà Nội); chùa Phổ Minh (Nam Định); chùa Keo (Thái Bình); chùa Thổ Hà (Bắc Ninh). Phật nhập niết bàn thể hiện sự tịch diệt một cách thanh thản trong tư thế nằm ngủ nghiêng mình tay phải tiếp đất để nâng đầu, tay trái để dọc theo thân mình ở sườn phía trên. Thông thường các nhà sư, cũng như hết thảy mọi người, thường nhập diệt ở tuổi cao, nên thân thể phải già nua. Nhưng hầu hết các pho tượng nhập Niết bàn lại thể hiện Đức Phật nhập diệt trong tư thế tráng niên, khỏe mạnh. Tượng Phật nhập Niết bàn chùa Mía có phần đầu tóc to cao, mình mặc áo dài với nếp chảy sóng, toàn thể lớn hơn người thực với nét đẹp nữ tính. Trong khi đó tượng Phật nhập Niết bàn chùa Keo chỉ dài có 91cm, vẫn còn ở tuổi thiếu niên chưa thành Phật, y phục như Thích Ca sơ sinh (mình trần, mặc váy). Những tượng về đề tài này đều muộn, thuộc thời Nguyễn, thậm chí ở tận đầu thế kỷ XX.
Tượng Quán Âm
Trong tín ngưỡng Phật giáo Việt Nam, Quán Âm là biểu tượng của Từ bi, xót thương các khổ nạn của chúng sinh mà ra sức cứu độ. Theo truyền thuyết có 39 thân pháp Quán Âm, và hàng trăm ứng thân của Ngài, bởi vậy trong nghệ thuật điêu khắc có vô vàn cách thức thể hiện Bồ tát Quán Âm. Nghệ thuật tạo hình Quán Âm phát triển rực rỡ, trở thành mảng văn hóa phong phú bậc nhất trong dòng chảy của nghệ thuật tạc tượng ViệtNam. Các nhà nghiên cứu nước ta đã thống kê và phân chia tượng Quán Âm thành 6 nhóm phổ biến: Thánh Quán Âm, Quán Âm Nam Hải, Mã Đầu Quán Âm, Quán Âm Chuẩn Đề, Quán Âm Tống Tử, Quán Âm tọa sơn.
Tượng Thánh Quán Âm khắc họa hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm khoác áo cà sa, tay cầm bình ngọc cắm cành dương liễu, trong bình đựng nước cam lồ. Pho tượng tái hiện truyền thuyết rằng, một năm trời đại hạn, nông dân khổ sở vì thiếu nước cày cấy, nên cầu khẩn Bồ tát. Ước vọng của dân chúng thấu đến Quán Âm, Ngài cưỡi mây thị hiện, cầm nhành liễu chấm vào nước cam lồ, hướng về các thửa ruộng ở bốn phương đông tây nam bắc phất tay rảy nước. Lạ thay, mây mù tụ họp trong không trung, một cơn mưa lớn như xối đổ xuống không ngừng trong cả tiếng đồng hồ, sau đó mây mới tan và mưa mới ngừng. Nhờ cơn mưa rào trừ được nạn hạn hán mà cứu trăm họ trong một vùng đất rất lớn khỏi cảnh thiên tai. Tượng Quan Âm cầm bình nước cam lồ không những được đặt trong Thượng điện, mà người ta còn đặt bên ngoài khuôn viên kiến trúc chùa, không có mái che. Thông thường, khi bài trí lộ thiên bên ngoài chùa, người ta thường sơn tượng màu trắng, để Thánh Quán Âm quay mặt ra hồ, sông, ao trước chùa.
Mô típ Quán Âm tọa sơn tạc vị Phật nữ tọa lạc trong một hang động hoặc trên núi. Đặc sắc là những pho tượng Quán Âm tọa sơn ở các ngôi cổ tự: chùa Đại Trà (Hải Phòng) thế kỷ XVI; chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh), chùa Tam Sơn (Bắc Ninh), chùa Đa Tốn (Hà Nội) vào thế kỷ XVII; chùa Cả, chùa Nhạ Phú, chùa Dương Liễu (Hà Tây) vào thế kỷ XIX. Một dạng rất đặc biệt của mô típ Quán Âm tọa sơn là Quán Âm Tống Tử mà dân gian quen gọi là Quan Âm Thị Kính, xuất hiện ở chùa Tây Phương, chùa Mía và các chùa khác thuộc thế kỷ XVIII. Tượng Quán Âm tay ôm đồng tử lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử tín ngưỡng tượng hình tại ViệtNam vào thế kỷ thứ XVII và đã trở nên nổi tiếng vào thế kỷ thứ XVIII, hiện nay vẫn còn bảo lưu tại nhiều chùa. Trong nhiều ngôi chùa, tay trái của Bồ tát Quán Âm bế một đứa trẻ, bên vai phải tượng đôi khi có con chim khổng tước ngậm chuỗi hạt.
Quán Âm Chuẩn Đề là một mô típ khá đặc sắc trong nghệ thuật tạo hình tượng Phật. Chuẩn Đề còn có nghĩa “Tịnh Khiết”, vẫn được hiểu là một pháp ấn được thể hiện bằng hai bàn tay chắp vào nhau đưa lên trước ngực, 2 ngón tay giữa dựng thẳng (tạo thành mũi nhọn của vajra - kim cương), các ngón còn lại đan vào nhau và quặp xuống, 2 ngón cái hoặc chắp dính vào nhau hoặc đan chéo nhau và gập lại.
Loại hình Mã Đầu Quán Âm khá phổ biến trong các ngôi chùa ở Trung Quốc, nhưng rất hiếm gặp ở nước ta. Hiện mô típ này chỉ duy nhất tìm thấy ở ở chùa Vĩnh Phúc (Hoài Đức, Hà Tây), niên đại vào khoảng thế kỷ XIX. Tượng Mã Đầu Quán Âm chùa Vĩnh Phúc cao 113 cm, ngang vai 27cm, được làm bằng gỗ, đặt trên bệ cũng bằng gỗ. Tượng tạc một người phụ nữ ở tư thế ngồi trên ngọn núi, gương mặt tươi tắn, hiền hậu, đầu đội mũ làm theo kiểu nhọn dần lên phía trên. Hai chân buông thõng, một tay để vào nếp áo trước bụng, tay kia ôm con ngựa trắng, ngựa nép sát người, chỉ nhìn thấy một chân phía trước, đầu ngựa tỳ vào vai Quán Âm.
Loại hình nghệ thuật tượng Quán Âm xuất hiện nhiều nhất trong chùa Việt là Quán Âm Nam Hải, với hình tượng rồng đội tòa sen gọi là quỷ biển, ngự trên tòa sen là Quán Thế Âm Bồ tát. Quán Âm thiên thủ thiên nhãn là đỉnh cao nghệ thuật của Quan Âm Nam Hải. Quán Âm được nhân dân tưởng tượng với hình Phật Bà có ngàn tay và ngàn mắt, ngàn mắt biểu trưng cho đại trí tuệ, ngàn tay biểu trưng cho đại từ bi. Đặc sắc nhất phải kể đến những pho tượng thiên thủ thiên nhãn ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Tam Sơn (Bắc Ninh) vào thế kỷ XVII, chùa Mễ Sở (Hưng Yên), chùa Tây Phương (Hà Tây)... Pho tượng được coi là kiệt tác nghệ thuật bậc nhất trong nghệ thuật tạc tượng Việt Nam là pho Quán Âm thiên thủ thiên nhãn của chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh). Tượng cao 3,7m, vành hào quang rộng 2,1m và bệ tượng dày 1,15m. Phật được tạc trong dáng nữ giới với khuôn mặt đôn hậu, điềm tĩnh siêu thoát. Đầu tượng còn được tạc thêm hai bộ mặt ở hai bên má và có thêm 8 bộ mặt ở 3 tầng trên mũ và trên đỉnh có một pho tượng A Di Đà. Ngoài hai đôi tay chính chắp trước ngực theo kiểu "liên hoa hợp chưởng" và được đặt trên đùi theo kiểu "thiền định", có 40 cánh tay lớn nằm ở hai bên. Đằng sau lưng Phật có 958 cánh tay nhỏ, được sắp xếp theo những vòng tròn đồng tâm và đặt so le nhau ở từng lớp, tạo thành những vòng hào quang cho tượng. Trong lòng mỗi bàn tay của tượng đều chạm một con mắt, tạo ra ý nghĩa kép, những cánh tay vừa tỏa hào quang độ lượng của Phật, nhìn thấu cõi nhân gian, vừa tượng trưng cho những bàn tay dang ra cứu vớt mọi nỗi thống khổ. Với nghìn con mắt và nghìn bàn tay, Phật Bà như nhìn thấu vũ trụ, vươn tới những cõi xa xăm để cứu giúp chúng sinh. Phật Bà ngồi hành đạo trong tư thế thư thái ung dung, vạt áo cà sa rủ mềm xuống bệ, cơ hồ như phủ lên muôn loài, thuần phục Tràng Ba Long Vương dữ tợn đội tòa sen đưa Phật Bà vượt qua biển. Trên tượng có ghi: "Tuế thứ Bính Thân niên, thu nguyệt, cốc nhật doanh tạo. Nam Đông Giao Thọ nam tiên sinh phụng khắc". Đây là bức tượng duy nhất trong hệ thống tượng cổ Việt Nam có ghi niên đại năm tạc, tên người tạc.
Tượng Quán Âm thiên thủ thiên nhãn chùa Mễ Sở, Hưng Yên là pho tượng cổ có nhiều tay nhất ở nước ta, tới 1.113 cánh tay; ngoài tập hợp các cánh tay được ghép thành hình vòng cung như tượng ở chùa Bút Tháp, còn được phát triển tiếp lên phía trên đầu vị Phật, tạo thành các đường vòng uốn khúc liên tục như những đám mây cuộn. Đặc biệt, các tay nhỏ của Quan Âm không chỉ tạc từ cánh tay trở ra như tượng chùa Bút Tháp, mà còn có thêm phần gập của khuỷu tay. Đôi tay trên cùng được chụm lại ở phía trên đỉnh của mũ thiên quan (được gọi là tay Đảnh hóa Phật), hình thức này được làm theo khuôn mẫu của tượng Phật Trung Quốc. Điểm ấn tượng nhất của pho tượng này là có thêm một đôi tay ở sau lưng tượng (được gọi là tay Phổ Lễ), việc này làm cho bức tượng có thêm một không gian nữa, tạo thành không gian đa chiều cho việc thưởng thức nghệ thuật tượng.
Một vài quy tắc mỹ thuật trong tạc tượng Phật
Tượng Phật với mục đích để thờ phụng, nên quy trình chế tác đòi hỏi công phu nghiêm cẩn, không phải bất cứ nơi nào cũng làm được. Mỗi nghệ nhân không chỉ cần có sự khéo léo của đôi tay, trí tưởng tượng của khối óc, mà còn phải nắm vững những quy định khe khắt về động tác, dạng thế, kích thước, cách trang phục và các đặc tính cơ bản của mỗi loại tượng. Bởi vậy, từ xưa đã hình thành nên những làng nghề truyền thống chuyên chế tác tượng Phật, phát triển rất thịnh vượng. Ở huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng), nổi danh các phường thợ làm tượng gỗ như: Hà Cầu, Bảo Động, Mai Yên. Làng La Xuyên (huyện Ý Yên, Nam Định) không những lừng danh về nghề tạc tượng Phật từ lâu đời mà ngày nay còn nổi tiếng với các sản phẩm đồ gỗ như sập gụ, tủ chè, tủ chùa... Tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc về Hà Nội) có 2 làng nghề tạc tượng Phật trứ danh, đó là làng Chàng Sơn (ở huyện Thạch Thất) và làng Sơn Đồng (ở huyện Hoài Đức). Làng Chàng Sơn có tới 98% dân số theo đạo Phật, nghề mộc ở đây nổi tiếng khắp xứ Đoài, chủ yếu là tạc tượng Phật, mà bộ sản phẩm trứ danh suốt nhiều đời nay chính là “các vị La hán chùa Tây Phương”. Những làng nghề chế tác đá lừng danh với sản phẩm tượng Phật bằng đá ở Bắc Bộ phải kể đến: làng Phụng Châu (Chương Mỹ, Hà Nội); Làng Ninh Vân (Hoa Lư, Ninh Bình)... Những làng nghề đúc đồng lừng danh với sản phẩm tượng Phật bằng đồng ở miền Bắc có: làng nghề Tống Xá , Vạn Điểm (thuộc huyện Ý Yên, Nam Định); Ngũ Xá (Hà Nội); Đại Bái (Bắc Ninh)...
Trong hầu hết các ngôi chùa ở miền Bắc nước ta, số lượng và sự đặt bày tượng Phật cùng với những lễ nghi tôn giáo có những nguyên tắc nhất định. Do vậy, từ hình thức tới nội dung pho tượng, người thợ cũng phải tuân thủ theo những quy chuẩn khá đồng nhất, chẳng hạn: Tượng A Di Đà bao giờ cũng ngự ở tòa sen, nơi cao nhất Tam bảo và ngồi kiểu “kiết già hàng ma”; các pho Ananđà và Ca diếp thường được tạc trong tư thế đứng; tượng Hộ pháp bao giờ cũng có kích thước phóng đại (chiều cao từ 2,5-3,5m); Quan Âm Tống Tử thường có kích thước nhỏ và bao giờ cũng bồng đứa con nhỏ trên tay...
Từ cổ chí kim, các nghệ nhân tạc tượng đều lấy "diện" (kích thước của đầu tượng) để làm chuẩn tính tỷ lệ kích thước các bộ phận của tượng Phật. Tỷ lệ tượng ngồi bằng 4 diện và tượng đứng bằng 7 diện được đúc kết từ bao đời ở nước ta, cũng tương đồng với những quy chuẩn trong nghệ thuật tạo hình nhân dạng ở châu Âu. Trong quy chuẩn về bố cục tượng Phật thường phân chia như sau: từ chân tóc tới cằm bằng 1 diện; từ cằm tới rốn bằng 3 diện; từ rốn tới gót chân bằng 3 diện. Ngoài việc tuân thủ quy tắc về tỷ lệ chiều cao, người thợ cũng cần tuân thủ những công thức rộng vai, dài tay: rộng vai tượng từ 2 đến 4 diện; dài tay khoảng 3 diện; bề dày thân từ 1,5 đến 2 diện. Công thức đó còn thay đổi tùy thuộc tượng béo hay gầy, tượng nam hay nữ, và cảm hứng sáng tạo riêng của nghệ nhân điêu khắc. Trên khuôn mặt trước khi tạc, các nghệ nhân thường phân chia từng mảng nhỏ để dễ tác nghiệp: khoảng cách giữa hai con mắt, từ chân tóc tới chân mày, chiều dài sống mũi, bề rộng cánh mũi, khoảng cách giữa môi trên và môi dưới, từ môi dưới tới cằm, độ dày của môi... Bằng thủ pháp nghề nghiệp, họ khai thác triệt để những nét “Phật” thường bộc lộ ở vầng trán, đuôi mắt, mi mắt và cằm. Nghệ nhân cần tránh những điểm “sắc”, điểm “ác” thường dễ nhận thấy ở các nếp nhăn nơi khóe miệng, chóp mũi, cánh mũi. Nếu tạc không khéo dễ bộc lộ những nét dung tục trên khuôn mặt tượng, và ngược lại người thợ tài hoa sẽ thể hiện được những nét từ bi nhân hậu, sắc sảo trên mặt tượng, đồng thời sáng tạo những nét siêu phàm của cõi Phật.
Tuy nhiên, mọi công thức chỉ mang tính tương đối, mỗi người thợ đều có những bí quyết riêng. Làm nhiều thành thuận tay quen mắt, nên từng hình mẫu Phật đã nhập sâu vào tâm khảm người thợ. Chỉ cần nhìn khúc gỗ nguyên liệu, nghe những yêu cầu của khách đặt hàng, người thợ đã tự phác họa ngay trong đầu về kích thước, hình hài pho tượng. Dụng cụ đo đạc duy nhất trong tay người thợ là dây đo và một “thước tầm”. Sau khi phác họa kích thước của đầu, tính khoảng cách từ cằm tới tay, từ cằm tới khuỷu tay, từ dái tai tới vai, độ cong của lưng, bề rộng của hai vai, chiều cao của cổ, người thợ đục dần từ cổ, vai xuống. Sau khi đục, phác lấy dáng chung một lượt suốt từ diện tới bệ, người thợ mới tỉ mẩn đục chi tiết từng bộ phận. Trong khi đục vẫn phải phân chia các mảng khối, khoảng cách và đảm bảo tỷ lệ cân xứng. Cuối cùng là khâu gọt, nạo, rồi đánh giấy ráp cho nhẵn. Trong khi gọt người thợ dùng loại đục dẹt, mỏng để tách các chi tiết nhỏ để thể hiện kỹ các đường lượn, mảng miếng, chi tiết nào cần "nổi bật" ra, chi tiết nào cần làm mờ đi.
Kỹ thuật sơn son thếp vàng tượng cũng kỳ công như nghệ thuật làm vóc sơn mài. Đầu tiên “hom” tượng bằng sơn trộn đất phù sa, phải làm sao cho không được non sơn, cũng không được già quá. Sau đó, bó bằng sơn sống rồi sơn thí. Sau mỗi công đoạn đều phải mài tượng bằng đá và nước. Sơn lên rồi lại mài đi, rồi lại sơn lên..., cứ thế bao giờ thấy bề mặt tượng phẳng nhẵn và mọng lên thì mới phủ bằng sơn thếp. Sơn thếp là một kỹ nghệ cổ truyền rất công phu, sử dụng nguyên liệu là bột quỳ để phủ lên mình tượng.
Quỳ là một loại bột từ vàng, bạc miết trên tờ giấy quỳ, người ta đem những lá vàng, lá bạc loại cao tuổi dát mỏng, cắt thành những mảnh vuông, xếp vào giữa những tờ giấy, rồi dùng búa nện đều cho đến khi vàng tan thành bột.
Vĩ Thanh
Cách đây 2 năm, GS.Trần Lâm Biền có bài đăng trên Tạp chí 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, phê phán việc dựng tượng trong nhiều ngôi chùa ngày nay. Theo GS, tượng Phật xưa chỉ sử dụng một vài loại chất liệu mang giá trị tâm linh, được coi là có linh khí: đá, gỗ mít, đồng. Ngày nay rất nhiều chùa, người ta dựng tượng bằng bê-tông cốt thép, việc làm này rất đáng phê phán, vì khiến giảm giá trị của tượng Phật, đi chệch ra khỏi dòng chảy văn hóa Phật giáo ngàn năm. GS cũng cho rằng, nhiều ngôi chùa dựng tượng lộ thiên, để tượng phải chịu cảnh “mưa tuôn nắng gội”, thật phản văn hóa. Rằng thời Mỹ ngụy chế độ cai trị hà khắc, Phật giáo đưa tượng Phật ra ngoài đường trong những cuộc tuần hành để đấu tranh đòi quyền tự do tôn giáo, quyền hạnh phúc cho nhân quần. Ngày nay đất nước thái bình thịnh trị, hà cớ gì mà lại đẩy tượng ra ngoài trời như vậy?
Tuy nhiên, theo người viết, văn hóa luôn không ngừng được bồi đắp. Bên cạnh việc kế thừa giá trị truyền thống, chúng ta cần phải cách tân để tạo ra những giá trị hiện tại, vì sau vài trăm năm nữa, những sản phẩm của người thời bây giờ cũng có thể sẽ trở thành di sản văn hóa. Người xưa chọn chất liệu làm tượng Phật, thường tìm những vật liệu dễ chế tác, lại có độ bền cao. Gỗ, đá, đồng, sứ đáp ứng được những yêu cầu đó nên được người xưa chọn lựa. Bê-tông mới chỉ được phát minh trong thời gian gần đây, giả dụ người xưa biết đến bê-tông, biết đâu đó cũng sẽ được coi là chất liệu có linh khí để chế tác đồ thờ Phật. Bởi vậy theo tôi, việc sử dụng bê-tông để dựng tượng Phật không nên coi là phản văn hóa. Mặt khác, sử dụng gỗ, sứ, đá, sẽ khó tạo ra được những pho tượng kích thước khổng lồ, đúc bằng đồng sẽ rất tốn kém, trong khi bê -tông có thể giải quyết được những nhược điểm này. Không phải bây giờ người ta mới dựng những tượng Phật lộ thiên, sử sách từng ghi lại việc người thời Lý dựng tượng Phật trên núi Quỳnh Lâm. Tượng trong chùa thuộc hệ tượng thờ, đưa tượng Phật ra ngoài trời sẽ không còn là tượng thờ mà trở thành tượng đài, tiếp thu cách tôn vinh của phương Tây. Xây dựng tượng đài Phật cũng là một trong những cách thức tôn vinh Đức Phật, các vị Bồ tát, nên cần được cổ xúy.
Thời gian gần đây, công cuộc trùng tu tôn tạo, nhiều ngôi chùa xảy ra không ít bất cập, khiến nhiều cơ quan ngôn luận lên tiếng phê phán. Trải bao tao loạn chiến tranh, thiên tai bão lũ, những di sản ông cha để lại cần được trùng tu tôn tạo là đương nhiên. Thế nhưng trùng tu đến mức xóa sạch di tích gốc quả là chuyện đáng lo. Theo nhiều bài báo, chúng ta giật mình khi không ít ngôi cổ tự hàng trăm năm tuổi sau cuộc đại trùng tu đã trở thành “một tuổi”.
Tại không ít ngôi chùa, khi người ta dỡ chùa ra để trùng tu lại, nhiều pho tượng đang bình thường, bỗng dưng xảy ra hiện tượng lạ lùng là lớp sơn phủ tượng tan chảy, khiến mình tượng ướt nước. Dân chúng nhiều nơi đồn thổi nhau rằng, đó là do những người trùng tu đã “gây động” tượng Phật, khiến tượng “toát mồ hôi”. Giải thích hiện tượng này, bà Nguyễn Thị Giang, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hà Tây trước đây cho biết: Các pho tượng để trong chốn thâm u của Phật điện suốt hàng trăm năm, nếu bỗng dưng gặp ánh sáng mạnh (khi tháo dỡ Phật điện) sẽ gây ra hiện tượng nước sơn trên mình tượng phản ứng hóa học với không khí, ánh sáng tạo ra hiện tượng sơn vữa nước. Đây hoàn toàn không phải là điều gì bí hiểm. Vì vậy, các nhà thầu trùng tu di tích nên quan tâm tới vấn đề này, đừng vì thiếu hiểu biết mà làm hủy hoại các pho tượng.

Nhận thức về giá trị di sản của chúng ta ngày nay đã vượt lên hơn hẳn so với người thời xưa, nên cách nghĩ, cách làm cũng phải khác xưa. Không nên vì cũ nát mà thay mới hoàn toàn. Chúng ta cần phải nghiên cứu, đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào việc bảo tồn các pho tượng Phật nói riêng, di tích nói chung. Cần đề ra mục đích tối thượng là giữ lại tối đa những gì là di sản của cha ông để lại, bởi chúng mang sứ mệnh là thông điệp, tiếng nói của người xưa tới thế hệ mai sau.
Tượng La Hán
A-la-hán (Chữ Hán phồn thể 阿羅漢; sa. arhat, arhant; pi. arahat, arahant; bo. dgra com pa); dịch nghĩa Sát Tặc (殺賊) là diệt hết bọn giặc phiền não, ô nhiễm; Ứng Cúng (應供) là người đáng được cúng dường; Bất Sinh (不生) hoặc Vô Sinh (無生) là người đã đạt Niết-bàn, đoạn diệt sinh tử.
A-la-hán là danh từ chỉ một Thánh nhân, một người đã đạt cấp "vô học" (không cần phải học gì nữa) của Thánh đạo (sa. āryamārga; pi.ariyamagga), không bị ô nhiễm (sa. āśrava; pi. āsava) và Phiền não (sa. kleśa; pi. kilesa) chi phối. Một A-la-hán có khi còn sống thì dù đời là bể khổ thì vẫn ung dung, tự tại nên còn gọi là Hữu dư Niết-bàn (sa. sopadhiśeṣanirvāṇa; pi. savupadisesanibbāna), khi A-la-hán này viên tịch thì gọi là nhập Vô dư Niết bàn.
A-la-hán là hiện thân của sự giác ngộ trong thời Phật giáo nguyên thủy.
A-la-hán là các vị đã giải thoát 10 trói buộc thế gian như: ngã kiến, nghi ngờ, chấp đắm giới luật, tham, sân hận, sắc tham, vô sắc tham, kiêu mạn, hồi hộp không yên (trạo), vô minh.
A-la-hán được xem là người đã từ bỏ ô nhiễm, bỏ các gánh nặng, đã đạt mục đích và tâm thức đã được giải thoát.
Có thể đạt quả vị A-la-hán bằng con đường Tứ thiền hoặc Tứ Thánh quả. Nhưng muốn đi đường nào thì cũng phải sống độc thân, có Ái Dục mà tu đắc đạo là chuyện không bao giờ có. Vì Ái Dụcvà Niết Bàn là kẻ thù của nhau.
Về cơ bản, Đức Phật cũng tự cho mình là một A-la-hán, cách mà Phật đi đến giác ngộ cũng giống hệt những vị A-la-hán khác, nhưng vì trong vô số kiếp trước Phật đã xả thân làm lợi ích cho chúng sinh, thực hành Bồ tát hạnh nên khi đắc đạo ngài có thần thông, trí tuệ, dung mạo, công đức... cực kỳ cao quý, phi phàm, vượt xa những A-la-hán đệ tử sau này. Và chính Phật là người giác ngộ duy nhất thời bấy giờ (trước đó đã có những vị Phật khác rồi) nên người ta gọi Ngài là Bậc Giác Ngộ, tiếng Hán là "Giác giả", tiếng Việt là "Phật". Nhưng càng về sau, nhiều luận bản xuất hiện và làm cho khoảng cách giữa từ "Phật" và từ "A-la-hán" càng cách xa. Thậm chí nhiều luận bản còn có ý chê bai quả vị A-la-hán là kém cỏi. Đây là điều trái ngược với quan điểm ban đầu của Phật.
Vì thế không nên phân biệt Đại thừa, Tiểu thừa; thời Đức Phật tại thế không có chuyện chia phe, lập phái như thế này, mà người thời nay chia ra như thế. Xưa kia, khi một vị đắc quả A-la-hán, Phật không nói người này đã tinh tấn (chăm chỉ) tu theo pháp môn này hay pháp môn kia, mà giải thích rằng trong một tiền kiếp người đó đã hết lòng cung kính, cúng dường một bậc Thánh nào đó.





Thích Ca tọa thiền, Thích Ca nhập niết bàn


A Di Đà
A-di-đà hay A Di Đà (chữ Hán: 阿彌陀) là danh từ phiên âm có gốc từ hai chữ trong tiếng Phạn: अमिताभ, amitābha và amitāyusAmitābhadịch nghĩa là "vô lượng quang" - "ánh sáng vô lượng"; amitāyus có nghĩa là "vô lượng thọ" - "thọ mệnh vô lượng".
Đây là tên của một vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Đại thừa. A-di-đà trụ trì cõi Cực lạc (tiếng Phạn: sukhāvatī) ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Tịnh độ tông tại Việt NamTrung QuốcNhật Bản và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí tuệ.
Trong lịch sử đạo Phật, việc tôn xưng A-di-đà là một mốc phát triển quan trọng. Phép niệm A-di-đà là một cách tu dưỡng mới của Phật tử, không phải trải qua vô số kiếp. Đây là cách tu dưỡng dựa vào Tha lực, dựa vào đại nguyện của một vị Phật-một phép tu "nhanh chóng, dễ dàng" hơn chứ không chỉ dựa vào tự lực của chính mình. Đó là phép tu nhất tâm niệm 10 lần danh hiệu "Nam-mô A-di-đà Phật" lúc lâm chung để được sinh vào cõi Cực lạc. Để có thể đủ sức vững vàng niệm đủ 10 lần câu "Nam mô A Di Đà Phật" cận ngay lúc lâm chung thì lúc bình thường phải kiên trì niệm Phật thường xuyên.
Pháp tu này dựa trên 3 nền tảng TínNguyệnHạnh. Nghĩa là:
  • Tín là tin tưởng vào cõi Tịnh độ, tin vào lời thề tiếp dẫn chúng sanh của Phật A Di Đà, tin vào khả năng của mình hoàn toàn có thể thực hiện được và được Phật tiếp dẫn vãng sanh về cõi Tịnh độ.
  • Nguyện là phát nguyện dũng mãnh, tha thiết, quyết tâm về cõi Tịnh độ, từ đó buông xả, không tham luyến bất kỳ điều gì khác. Dù để thành Phật cứu giúp chúng sanh hay chỉ để giải thoát khỏi khổ ách trong sinh tử luân hồi, người theo pháp tu này cũng đều có phát nguyện mạnh mẽ, nhất quyết về cõi Tịnh độ của đức Phật A Di Đà.
  • Hạnh là công phu trì niệm và tu tập, nghĩa là từ niềm tin và phát nguyện mạnh mẽ, người tu kiên trì niệm "Nam mô A Di Đà Phật" thường xuyên. Chính công phu tích lũy này sẽ giúp người tu được bảo vệ, gia trì để đủ khả năng niệm đủ 10 lần câu "Nam mô A Di Đà Phật" lúc lâm chung để ứng với đại nguyện của Phật A Di Đà đến tiếp dẫn về cõi Tịnh độ.
Tóm lại, tuy thấy 10 niệm lúc lâm chung là dễ dàng nhưng thực ra không dễ. Vì nếu người tu không kiên trì tu tập lúc sinh thời thì khi lâm chung đối diện với sự đau đớn, luyến tiếc, oan gia trái chủ đến đòi nợ thì không thể đủ khả năng nhớ được chứ đừng nói niệm đủ 10 niệm "Nam mô A Di Đà Phật". Ngược lại, người nào tu tập kiên định lúc sinh thời thì lúc lâm chung sẽ dễ dàng niệm đủ 10 niệm "Nam mô A Di Đà Phật". Dù cho thể xác có đau đớn, bất ngờ nhưng tinh thần vẫn an nhiên tự tại vì công phu tu tập đã làm cho câu "Nam mô A Di Đà Phật" ăn sâu vào tâm thức. Cộng thêm sự gia trì của Phật A Di Đà và đông đảo Bồ tát thì đới nghiệp vãng sanh về cõi Tịnh độ, được giải thoát là chắc chắn.




Quán Âm tọa sơn,
Quán Âm Nam Hải

Tuyết Sơn (tượng Phật)

Tuyết Sơn là một loại tượng minh họa thời kỳ tu khổ hạnh của đức Thích Ca Mâu Ni trước khi thành Phật theo quy mẫu nhất định.
Theo Phật tích thì Thích Ca Mâu Ni lúc bấy giờ đã 29 tuổi, rời bỏ ngai vàng tìm lên núi Hy Mã Lạp Sơn tầm đạo. Ngài tu khổ hạnh sáu năm trời, chấp nhận những cực hình thể xác để đạt giải thoát tinh thần. Trong trạng thái đó thân thể ngài gầy gò, tiều tụy nhưng không lay chuyển được cái chí kiên cường của ngài. Đến năm thứ bảy thì ngài đắc đạo, từ bỏ khổ hạnh mà đạt đến giác ngộ để thành Phật.
Để truyền đạt cái chí kiên dũng của đức Thích Ca, trong nhiều ngôi chùa ở Việt Nam như chùa Bút ThápBắc Ninhchùa Tây PhươngHà NộiChùa KeoThái Bình đều có đắp pho tượng Tuyết Sơn, tức thượng Thích Ca khổ hạnh, thân thể khắc khổ, chỉ còn da bọc xương. Tượng này mang tên Tuyết Sơn vì núi Hy Mã Lạp Sơn nơi Thích Ca ngồi tu còn có tên là "Tuyết Sơn" nên danh hiệu đó được dùng cho thời kỳ khổ hạnh.
Vào thời điểm này, đức Thích Ca chưa đắc đạo nên chưa phải là Phật.
Tượng Tuyết Sơn được thờ trong chùa Việt Nam đôi khi còn được hợp thành bộ ba gọi là "Tuyết Sơn tam thánh" gồm có: Tuyết Sơn, Ca Diếp và A Nan Đà.[1]




Chuẩn Đề
Phật Mẫu Chuẩn Đề tên Phạn là CundìCunïdïhi(चुन्दी), tên Hán văn là Thất Câu Chi Phật Mẫu hay Thất Câu Đê Phật MẫuChuẩn Đề Bồ Tát. Ngài là một trong lục quan âm của Phật Giáo, trong Tạng Giới Man Đa La ghi Chuẩn Đề là một trong 3 vị Phật Mẫu thuộc Biến Tri Viện.
Chuẩn Đề là một vị bồ tát trong trường phái Đại thừa, và đặc biệt được nhắc đến nhiều trong Kim cương thừa. Bà được xem là Bhagavathi(trong tiếng Phạn có nghĩa là "nữ thần"), hay "mẹ của các Phật", và thường được xem là ngang hàng với Quán Thế Âm. Chuẩn Đề có thể có liên quan đến vị nữ thần Chandi trong Ấn Độ giáo[1].
Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng hay màu vàng lợt, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc. Đầu đội mão báu có ngọc lưu ly rũ treo, có 18 tay đều đeo vòng xuyến khảm Xà Cừ và mỗi tay đều cầm các loại khí cụ biểu thị cho các Tam Muội Gia, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.
Hiện thân của Chuẩn Đề Bồ Tát có nhiều hình hài, nhưng chân thân của bà được cho là:
  • Bửu tượng có nhiều vẻ quang minh tốt đẹp, đều chiếu diệu cả mình, còn thân tướng thì sắc vàng mà có lằn điển quang trắng.
  • Chỉ ngồi kiết già, trên thì đắp y, còn dưới thì mặc xiêm đều trọn một sắc trắng mà có bông, lại có đeo chuỗi anh lạc và trên ngực có hiện ra một chữ “vạn”.
  • Còn hai cườm tay có đeo hai chiếc bằng ốc trắng, hai bên cánh tay trỏ có xuyến thất châu coi rất xinh lịch, lại hai trái tai có được ngọc bửu đương và trong các ngón tay đều có đeo vòng nhỏ.
  • Trên đầu thì đội mão Hoa quang, trên mão ấy có hóa hiện ra 5 vị Như Lai.
  • Khuôn mặt có 3 mắt, mỗi con mắt ấy có ánh nhìn sắc sảo.
  • Toàn thân có mười tám cánh tay, mỗi bên chín cánh.
  • Hai bàn tay ở trên hết thì kiết ấn Chuẩn đề, như tướng đương lúc thuyết pháp.
  • Tay trái thứ hai cầm lá phướn như ý, còn tay mặt cầm cái thí vô úy.
  • Tay trái thứ ba cầm một bông sen đỏ, còn tay mặt cầm cây gươm.
  • Tay trái thứ tư cầm một bình nước, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi Ni ma bửu châu.
  • Tay trái thứ năm cầm một sợi dây Kim cang, còn tay mặt cầm một trái la ca quả.
  • Tay trái thứ sáu cầm một cái bánh xa luân, còn tay mặt cầm một cái búa.
  • Tay trái thứ bảy cầm cái pháp loa, còn tay mặt cầm cái thiết câu.
  • Tay trái thứ tám cầm một cái bình như ý, còn tay mặt cầm một cái chày kim cang.
  • Tay trái thứ chín cầm một cuốn Kinh Bát nhã Ba La Mật, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi dài.
  • Bồ tát Chuẩn Đề ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ.

Địa Tạng

Địa Tạng (skt. क्षितिगर्भKṣitigarbhatiếng Trung地藏bính âmDìzàngWade–Giles: Ti-tsang; jap. 地蔵Jizōtib. ས་ཡི་སྙིང་པོsa'i snying po,kor.지장지장보살ji jangji jang bosal[1]) là một vị Bồ-tát được tôn thờ trong Phật giáo Đông Á, thường được mô tả như một tỉ-khâuphương Đông. Địa Tạng Bồ-tát được biết đến bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kỳ sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn cho đến khi Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, và nguyện không chứng Phật quả nếu địa ngục chưa trống rỗng. Do đó, Địa Tạng thường được xem như là vị Bồ-tát của chúng sanh dưới địa ngục hay là giáo chủ của cõi U Minh.[2] Trong văn hóa Nhật Bản, Địa Tạng là Bồ-tát hộ mệnh cho trẻ em, cũng như bảo vệ các vong linh của trẻ em hoặc bào thai chết yểu. Địa Tạng thường được mô tả là một tỉ-khâu trọc đầu với vầng hào quang, một tay cầm tích trượng để mở cửa địa ngục, tay kia cầm ngọc Như Ý tượng trưng cho ánh sáng xua tan bóng đêm.


Hộ pháp
Hộ Pháp (chữ Nho: 護法, sa. dharmapāla, pi. dhammapāla) theo nhà Phật, nhất là phái Kim cương thừa (sa. vajrayāna) là những vị thần bảo vệ Phật pháp và Phật tử. Những ai nguyện noi theoThành tựu pháp (sa. sādhana) mà đọc câu Chân ngôn thì đều được các vị thần đó phù hộ. Ngoài ra các vị Hộ Thế (chữ Nho: 護世, sa. lokapāla), tức những vị thần nguyện theo Phật cũng có chức năng như Hộ pháp.
Phật giáo Việt Nam liệt kê nhiều vị thần như Phạm ThiênĐế ThíchKiên LaoĐịa KỳThiên Lý NhãnThiên Lý Nhĩ... trong danh sách hộ pháp nhưng trong chùa thì có hai dạng chính.

Khuyến Thiện và Trừng Ác[sửa | sửa mã nguồn]


Đôi tượng Hộ pháp này thường tạc rất lớn, đầu cao chấm nóc nhà, bố trí ở hai bên tiền đường. Thần trang phục như võ tướng, đầu đội mũ trụ, mặc áo giáp, thân thể vạm vỡ, ngồi trên sư tử, có sẵn khí giới để bảo vệ đạo pháp.Dạng phổ biến nhà hai vị thần đối sánh mang tên Khuyến Thiện và Trừng Ác.[1]
Tượng thần Khuyến Thiện, tục gọi là "ông Thiện" thường tô mặt trắng, nét mặt thanh thản, đặt ở bên tay trái bàn thờ Phật (từ trong nhìn ra), tay cầm viên ngọc thiện tâm, là báu vật của Phật tử, khích lệ mọi người noi theo.
Tượng thần Trừng Ác thì tô mặt đỏ, đặt bên tay phải bàn thờ Phật; nét mặt thần giận dữ, lăm lăm vũ khí để trừng trị kẻ ác tâm như răn đe mọi người lánh xa con đường dẫn đến sa ngã.

Bát bộ Kim Cương[sửa | sửa mã nguồn]

Dạng thứ hai là Bát bộ Kim Cương gồm tám vị thần cũng mặc võ phục nhưng không bài trí ở gần lối vào mà gần bàn thờ Phật vì đây là các vị thần linh có trách nhiệm bảo vệ Phật.

Hộ pháp theo khác truyền thống khác[sửa | sửa mã nguồn]

1. Hộ pháp theo Kim cương thừa còn liệt danh Ma-ha-ca-la (sa. mahākāla, nghĩa là Đại Hắc 大黑) – được xem là một kiếp của bồ tát Quán Thế Âm – là đấng bảo vệ người tu hành trước những hiểm nguy và ảnh hưởng xấu liên quan đến chuyện tu học. Tuy nhiên các hành giả đó phải được chân truyền sự hỗ trợ từ vị thần bảo hộ, Thần thể (bo. yidam) của mình. Vị Đại Hắc (sa. mahākāla), Hộ Pháp của tông Ca-nhĩ-cư và Đạt-lại Lạt-ma thường được trình bày như một vị thần cao lớn, da đen. Vị này có bốn trách nhiệm lớn đối với trở ngại khó khăn của người tu hành: điều phục, giúp đỡ, thu hút, huỷ diệt. Các vị Hộ Thế trong Phật giáo Tây Tạng được chinh phục – theo truyền thuyết – là nhờ công của Đại sư Liên Hoa Sinh. Đó là các vị thần của đạo Bôn (bo. bön བོན་) đã được điều phục thành các vị phục vụ Phật pháp. Các vị đó thường là hiện thân của các lực lượng thiên nhiên. Người ta còn nhắc đến các vị Hộ Thế Tứ thiên vương. Các vị này xuất hiện từ lâu trong tranh tượng Ấn Độ và cũng được tôn thành Hộ Pháp.
2. Hộ Pháp, Luận sư của Duy thức tông (sa. vijñānavādin), sống trong thế kỉ thứ 6-7 sau Công nguyên, môn đệ của Trần-na (sa. dignāga) và về sau trở thành viện trưởng của viện Na-lan-đà (sa. nālandā). Sau đó Sư đến Giác Thành (bodhgayā) và trở thành viện trưởng viện Đại Bồ-đề (sa. mahābodhi). Sư mất năm 32 tuổi. Hầu như mọi tác phẩm của Sư đều thất lạc cả.
Sư viết luận giải về Bách luận (sa. śataśāstra) của Thánh Thiên (sa. āryadeva), về Duy thức nhị thập tụng (sa. viṃśatikā vijñaptimātratākārikā) của Thế Thân. Tư tưởng luận giải của Sư còn được tìm thấy trong tác phẩm Thành duy thức luận của Huyền Trang. Hộ Pháp và các môn đệ nhấn mạnh tính "duy tâm" (sa. cittamātra) tuyệt đối của Duy thức học, cho rằng thế giới "không gì khác hơn là sự tưởng tượng."
3. Hộ Pháp, Cao tăng Tích Lan (1865-1933), sáng lập hội Đại Bồ-đề (Mahābodhi Society) năm 1891 nhằm phục hưng viện Đại Bồ-đề tại Giác Thành. Sư là tăng sĩ đầu tiên của thời cận đại tự nhận mình là một người Vô gia cư (sa. anāgārika, xem Khất sĩ). Năm 1925, Sư sáng lập hội Đại Bồ-đề ở London.

Ho-phap Khuyen-thien



Ho-phap Trung-ac


Tòa Thiêu hương bố trí nhiều lớp tượng cân xứng hai bên. Chính giữa lớp trên cùng của Thiêu hương là tượng Ngọc hoàng, hai bên có Nam Tào và Bắc Đẩu.

Tượng thần tài thổ địa

Thập điện Diêm Vương
Thập Điện Diêm Vương (hay còn gọi là 10 vị vua[1]) theo tín ngưỡng Phật giáo Á Đông, trong đó có Việt Nam, là các vị thần linh cai quản cõi chết và phán xét con người ở Địa ngục căn cứ vào công hay tội họ đã tạo ra khi còn sống.[2]
Mười vị vua ở địa ngục có các trách nhiệm phán xét các loại tội ác khác nhau của con người bao gồm các vị như sau:[1]
  • Nhất điện: Tần Quảng Vương
Tần Quảng Vương Tướng chuyên điều khiển việc khỏe mạnh, ốm đau, sinh tử của trần gian và quản lý việc u minh, cát hung. Người thiện sau khi thọ mệnh được tiếp dẫn siêu sinh. Người nửa công nửa tội được đưa đến điện thứ mười xét xử, sau đó được đầu thai làm người trên thế gian: nam thì chuyển thành nữ, nữ thì chuyển thành nam. Người làm điều thiện ít, điều ác nhiều thì được áp giải đến đài cao, phía bên trái điện, gọi là đài gương “nghiệt cảnh đài”, để nhìn vào đó liền thấy rõ mọi việc tốt xấu hồi còn tại thế, sau đó giải đến điện thứ hai để vào ngục chịu khổ.
  • Nhị điện: Sở Giang Vương
Sở Giang Vương trông coi địa ngục Hoạt Đại (có 16 tiểu địa ngục với các hình phạt như: mây đè, phân thối, bị đâm, bỏ đói, bỏ khát, nấu máu, nấu một chảo đồng, nấu nhiều chảo đồng, bỏ vô cối xay sắt, đong lường, gà mổ, ao tro, chặt khúc, gươm lá đâm, chó sói ăn thịt, bỏ vào ao lạnh giá...). Những ai lúc còn sống trên thế gian làm điều tổn thương đến thân thể người khác, gian dâm, sát sinh đều được đưa vào ngục này và các tiểu ngục để chịu khổ. Khi hết kỳ hạn liền được đưa đến ngục thứ ba để định đoạt tiếp hình phạt.
  • Tam điện: Tống Đế Vương
Tống Đế Vương Dư quản Hắc Thằng Đại Địa (có 16 tiểu ngục với các hình phạt: nước mặn, bị gông xiềng, đục sườn, nạo mặt, nạo mỡ, móc gan tim, móc mắt, lột da, căng da, cưa cẳng, rút móng, hút huyết, treo ngược, sả vai, ăn giòi, đập đầu gối, mổ tim). Ai khi sống trên trần gian mà ngỗ ngược, hỗn láo với bề trên, xúi bẩy kiện tụng, gây sự bất hòa,... phải vào ngục này và các tiểu ngục chịu khổ, hết kỳ hạn đưa đến điện thứ tư.
  • Tứ điện: Ngũ Quan Vương
Ngũ Quan Vương quản địa ngục Hợp Đại (và 16 tiểu ngục với hình phạt: xiên thịt, xối nước sôi, vả sưng mặt, chặt gân xương, khứa vai lột da, khoan da thịt, chim trĩ mổ, mặc áo sắt, cây, đá dằn, khoét mắt, tro lấp miệng, đổ thuốc độc, trượt nhớt té, xâm miệng, chôn trong đá vụn...). Những ai trốn nộp tô, thuế cho nhà nước, mua gian bán lận đều bị đưa vào ngục này và các ngục nhỏ chịu khổ, hết kỳ hạn được đưa qua điện thứ năm.
  • Ngũ điện: Diêm La Thiên Tử
Diêm La Thiên Tử vốn ngự ở điện thứ nhất nhưng vì thương người chết oan hay trả hồn về sống lại kêu oan, nên bị giáng xuống quản đại địa ngục Khiếu Hoán (tội phạm ở đây lâm vào cảnh buồn chán, đau khổ không gì bằng) và 16 chu tâm tiểu ngục. Những ai đến điện này đều được dẫn đến đài Vọng Hương để nghe và thấy tất cả những điều, những tai ương mà họ đã gây ra trên trần gian, sau đó được đưa vào địa ngục rồi vào chu tâm tiểu ngục, mổ bụng moi tim, ruột ném cho chó ăn. Hết kỳ hạn lại được đưa xuống điện thứ sáu.
  • Lục điện: Biện Thành Vương
Biện Thành Vương quản Khiếu Hoán đại địa ngục và thành Uổng Tử và 16 tiểu địa ngục với hình phạt: quỳ chông, nhốt trong hầm phân, thiến dái, quết thịt, trâu báng, ngựa đạp, bửa sọ... Những ai khi sống trên thế gian oán trời trách đất, cứ khóc lóc, trộm cắp, đầu cơ tích trữ... đưa vào ngục này và tiểu ngục để chịu khổ hơn nữa. Hết kỳ hạn được đưa đến điện thứ bảy.
  • Thất điện: Thái Sơn Vương
Thái Sơn Vương quản địa ngục Nhiệt Não (có 16 tiểu ngục; tội phạm được quẳng vào vạc đồng để nấu). Ai khi sống trên trần gian đào mồ, trộm mả, lấy hài cốt để làm thuốc, rời bỏ người thân thích, đưa vào ngục này và các tiểu ngục. Hết kỳ hạn giải đến điện thứ tám.
  • Bát điện: Đô Thị Vương
Đô Thị Vương quản đại địa ngục Đại Nhiệt Não (có 16 tiểu ngục; tội phạm bị thiêu, bị nấu cực hình hơn). Những ai sống trên trần gian bất hiếu khiến cha mẹ đẻ, cha mẹ chồng, cha mẹ vợ phải buồn phiền, bực tức khi chết sẽ bị ném vào ngục này và các tiểu ngục. Kẻ bất hiếu chịu hết mọi hình thức đau khổ, giải đến điện thứ mười, thay đổi hình dạng vĩnh viễn làm loài súc sinh.
  • Cửu điện: Bình Đẳng Vương
Bình Đẳng Vương quản Thiết Võng A Tỳ và 16 tiểu ngục ở Thành Phong Đô. Ai sinh sống trên thế gian mà giết người, đốt nhà, bị chém nơi pháp trường đều giải đến điện này, bắt ôm cột đồng trống rỗng và trói chân tay lại, đốt lửa ống đồng cho tim gan thiêu trụi và chịu nhiều cực hình khác, sau đó lần lượt đầu thai vào những nơi kẻ đó đã làm hại, giải đến điện thứ mười.
  • Thập điện: Chuyển Luân Vương
Chuyển Luân Vương chuyên nắm các điện mà giải đến nơi quỷ hồn để làm rõ thiện ác, quyết định đẳng cấp, rồi cho lên đầu thai. Nam hay nữ, sống lâu hay chết yểu, giàu sang phú quý hay nghèo hèn, lần lượt được ghi vào danh sách. Những con quỷ mà có nghiệp ác, cái thai bị lạnh đi, khiến cho nó sáng sinh ra chiều đã chết. Hết kỳ hạn trở lại làm người, đầu thai vào nơi sống rất man rợ, bẩn thỉu.
Các tội nhân sau khi chịu đủ các hình thức xử phạt ở các điện, được giải đến điện Thập điện cho đầu thai. Những ai được đầu thai đều được giao cho Thần Mạnh Bà đến Thù Vong Đài cho ăn cháo lú, để quên hết những chuyện của kiếp trước. Nếu ai không chịu uống thì giá đao sẽ hiện lên dưới chân, quấn chặt lấy chân, bên trên dùng ống đồng đút vào trong cổ họng bắt uống một cách đau đớn khổ sở. Những biện sự về địa ngục, Diêm Vương, Thập điện Diêm La có phần nào mô phỏng hình ảnh quan nha trên thế gian. Các tranh vẽ, chạm khắc trên gỗ đá... miêu tả cảnh phạt tội ở địa ngục: địa ngục tăm tối, máu chảy, đầu rơi, các hình phạt kinh hồn... cốt không ngoài mục đích khuyến thiện răn ác, nhằm làm cho người đời thấy đó mà kiêng dè, thấy đó mà hướng thiện, nhắc nhở người đời phương châm đạo lý “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”. Ở góc độ hoằng pháp, các biện sự này là phương tiện của phương cách “Dĩ huyễn độ chơn”.

Tượng Quan Thế Âm

Tượng Quan Thế Âm, hay còn gọi là tượng Quan Âm, là một sản phẩm điêu khắc, tạc lại hình tượng Quan Thế Âm. Các hình thức tượng rất đa dạng, phụ thuộc vào sự gia nhập của Phật giáo tại mỗi quốc gia và phụ thuộc cả vào các câu truyện dân gian, truyền thuyết của mỗi nước. Qua nhiều thăng trầm, biến cố lịch sử xã hội cũng như của Phật giáo cũng đã để lại dấu vết ở các bức tượng, văn hóa vật thể. Tựu trung lại, tượng Quan Âm có thể coi là biểu tượng Phật giáo và là một tác phẩm mang đầy tính nghệ thuật, thể hiện trình độ khéo léo của nghệ nhân cũng như là sự gởi gắm tình cảm, niềm tin vào Phật giáo của người xưa. Xu hướng làm tượng Quan Âm hiện nay rất phát triển, không chỉ để phục vụ tín ngưỡng mà còn để trang trí nội thất, làm tặng phẩm lưu niệm. Tuy nhiên, mặc dù các tượng này cũng khá đẹp và tinh xảo, nhưng do không được trải qua nghi thức "hô thần nhập tượng" nên chúng chỉ có giá trị như đồ thủ công mỹ nghệ. Trong số các loại hình tượng Quan Âm thì tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay là một hình thức tượng hóa thân đặc sắc nhất.
Vào cuối thế kỷ 9, một vài biểu tượng của Quan Thế Âm được tìm thấy ở Ajanta, Ấn Độ, trên các bức bích họa và trong điêu khắc, trên một ngôi đền ở Bhuvaneshvar và nhiều nơi khác nữa. Ở Đông Nam Á, những bức tượng giả đồng tại JavaSumatra và những tác phẩm điêu khắc ở Angkor, những bứcphù điêu trên các stupa ở Borobudur, Java là những báo trước về tượng bốn mặt khổng lồ của Lokesvara (Quan Thế Âm, theo tiếng Khmer). ỞCampuchia, nhiều bức tượng Lokesvara cũng được tìm thấy với toàn thân được bao bọc bằng hàng trăm hình tượng nhỏ về các vị "tán quang Phật" (radiating Buddha). Ở Sri Lanka cũng có các hình tượng về Quan Thế Âm có niên đại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 9. Ở Việt Nam, người ta cũng tìm thấy các tượng này như: tượng bán thân Avalokitesvara ở Mỹ ĐứcQuảng Nam (thế kỷ 9-10); đầu tượng Avalokitesvara (thế kỷ 7-8); tượng Avalokitesvara Padmapani bằng đồng (thế kỷ 7-8), cao 31 cm... Những cổ vật này của Việt Nam hiện nay đang được lưu giữ ở Viện bảo tàng DTH LindenStuttgart,Đức.
Tại Trung Quốc - đến thế kỉ 10 - Quan Âm còn được giữ dưới dạng nam giới, thậm chí trong hang động ở Đôn Hoàng, người ta thấy tượng Quan Âm để râu. Đến khoảng thế kỉ thứ 10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lãotrong thời này. Một cách giải thích khác là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tantra) trong thời kì này: đó là hai yếu tố Từ bi (sa. maitrī-karuṇā) và Trí huệ (sa.prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một "quyến thuộc" nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Đa-la (sa. tārā), và Bạch Y Quan Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.
Một trong các lí do đó là đối với Phật Giáo, Phật không phân biệt nam hay nữ. Khác với các thần thoại sơ khai quan niệm các vị thần có giới tính và co sự sinh sản, Phật giáo và các tôn giáo lớn trên thế giới không cho rằng thần của họ có giới tính và sự sinh sản. Do đó việc quan niệm Quán Âm là nam hay nữ không phải là vấn đề quan trọng trong Phật giáo. Vả lại, theo phẩm Phổ môn, khi muốn cứu vớt hoặc giác ngộ cho chúng sinh, Quán Âm có thể hóa thành 32 sắc tướng [1] như Phật, Bồ Tát, Càn-thát-bà, thiện nam, tín nữ v.v tùy theo đối tượng để cứu giúp chúng sanh.. Tín ngưỡng dân gian thờ Mẫuở Việt Nam cũng có ảnh hưởng tới hình thức tượng Quan Âm tại đây.
  • Tượng Quan Âm Cam lồ: Quan Âm Cam lồ là vị Phật có nhiệm vụ rảy nước cam lồ để cầu sự mát mẻ cho nhân gian. Tượng có một tay cầm bình cam lồ và một tay cầm cành dương liễu, Quan Âm đang đứng trên một toà sen và có thể có thêm lọng che trên đầu.
  • Tượng Quan Âm tọa thiền
  • Tượng Quan Âm Tọa sơn: Quan Âm tọa lạc trong một hang động hoặc trên núi, có bế một đứa trẻ trên tay trái, bên vai phải có thể có thêm một convẹt hoặc chim khổng tước ngậm chuỗi hạt. Hình ảnh này lấy từ sự tích Quan Âm Thị Kính.
Vật cưỡi của Quan Thế Âm (nếu có) là một con hạc hay con công, có khi lại là phượng hoàng hoặc chim trĩ. Trong Mật tông, Quan Thế Âm có đôi mắt nửa khép nửa mở, đôi tai rất dài và đôi khi có hàng ria mép mỏng và những cánh tay dài.
Tượng Quan Âm được đặt không những ở trong điện Phật của chùa mà còn được đặt bên ngoài khuôn viên chùa. Thông thường, khi được đặt bên ngoài, tượng có màu trắng, mặt chính hướng ra hồsông hay biển. Như ở chùa Bổ Đà hoặc được đặt giữa một cái ao nhỏ như trong một số chùa ở Hồ TâyHà Nội. Đôi khi tại một số đèo nguy hiểm cũng có đặc tượng Quan Âm

Tượng gỗ[sửa | sửa mã nguồn]

Loại gỗ dân gian hay được dùng để tạo tượng là gỗ mít. Loại gỗ này dễ đục đẽo, bền và ít bị nứt và có ưu điểm là ưa sơn. Thông thường gỗ của một cây mít già thường được đưa ra ao ngâm vài tháng, giúp gỗ loại bỏ đi một số chất và côn trùng trong thân cây. Sau đó, thân gỗ sẽ được vớt lên và để ra ngoài trời phơi hàng tháng cho kiệt nước. Lúc này, gỗ đã có thể được sử dụng để bóc vỏ và pha cắt làm tượng. Nếu gỗ vừa cỡ tượng thì nghệ nhân chỉ việc đẽo bỏ đi phần thừa, nếu gỗ nhỏ mà tượng lớn thì phải ghép và làm mộng cho những chỗ này. Sau đó tượng gỗ sẽ được phủ ra ngoài một lớp đất phù sa tinh luyện trộn với sơn, hom toàn bộ pho tượng. Việc khắc và gắn những đôi tay là khó nhất sau cho tay được tự nhiên, mềm mại và không cứng nhắc. Sau khi hom sơn, tượng bắt đầu được sơn thếp. Lớp sơn then (sơn có màu đen) được phủ lên đầu tiên và được phủ nhiều lần để chúng ngấm cả vào lớp đất hom phủ trên bề mặt trước đó. Sau một vài lần phủ, người ta sẽ lấy giấy ráp đánh bóng cho bề mặt tượng thật bóng và mịn. Lớp sơn tiếp theo là lớp sơn cánh gián rất mỏng để dát vàng và bạc. Thông thường vàng và bạc được dát theo lối vẩy cá.
Các tượng của Nhật Bản thường được làm bằng gỗ Hinoki, gỗ của một loại cây tuyết tùng trắng, không bị biến đổi hình dáng sau nhiều năm. Sau khi được tạc hoàn chỉnh, tượng được thoa một lớp thạch cao mỏng ở bên ngoài và được tô màu các chi tiết.

Tượng đá[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đá là loại tượng có độ bền cao, nhưng để tạc một tượng Quan Âm, nhất là Quan Âm thiên thủ thiên nhãn thì rất khó. Thêm vào đó, người ta không thể ghép đá theo chiều ngang như vật liệu gỗ mà chỉ có thể ghép theo kiểu đặt chồng lên nhau. Để giải quyết vấn đề này, ở Campuchia, người ta đã đục ra từ một khối đá ban đầu và đục khắc tay sang hai bên, nhưng các cánh tay này lại sát với nhau đến tận khuỷu và cũng chỉ có tối đa đến 5 cánh tay. Tiếc rằng, những di vật khảo cổ học này không còn tìm thấy nguyên vẹn và người ta không biết chính xác những cánh tay này như thế nào. Các phần tìm lại của bức tượng chỉ còn từ phần khuỷu tay trở vào, cụt mất cánh tay. Các nghệ nhân xưa của Campuchia cũng đã cố gắng xoay xở và tạc lên chính thân thể Phật vô vàn những hóa thân là những tượng nhỏ, khắc chìm hoặc nổi lên khắp bề mặt tượng.

Mối quan hệ giữa Phật giáo - Đạo giáo - Đạo mẫu của tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, trong mô hình đạo Phật dân gian, các truyền thuyết về Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thị Kính đã có ảnh hưởng tới hệ thống các tượng Quan Âm thế kỷ 17. Đây cũng là thời gian có sự xuất hiện của Mẫu Liễu Hạnh cũng các truyền thuyết về bà. Sự ra nhập của Đạo Mẫu vào các ngôi chùa đã khiến Liễu Hạnh trở thành vị thần được sùng kính nhát trong dân gian và được gọi là Mẫu Thượng Thiên, ngang hàng với vị thế của Quan Âm thiên thủ thiên nhãn. Theo Thạc sĩ,nhà nghiên cứu Trang Thanh Hiền thì có thể đưa ra một mô hình như sau:
Thứ tựTên MẫuTên Quan Âm
1Mẫu Thượng ThiênQuan Âm Thiên thủ Thiên nhãn
2Mẫu Thượng NgànQuan Âm Tọa Sơn
3Mẫu ThoảiQuan Âm Nam Hải
3Mẫu ĐịaQuan Âm Thị Kính
Điều này cũng lý giải cho việc ở chùa Đại ÁngThường TínHà Tây, tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay được đặt thờ phía trước toà thánh Mẫu.

Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Quan Thế Âm nhiều tay (gỗ, khoảng thế kỉ 18), bộ sưu tập nghệ thuật Việt Nam của Bảo tàng GuimetParis.
Quan Thế Âm là vị bồ tát có nhiều phép thuật, hay cứu chúng sinh nên ngài có nghìn mắt, nghìn tay và được gọi là Quan Âm thiên thủ thiên nhãn (Quan Âm nghìn mắt nghìn tay). Hình tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay đã có mặt tương đối sớm. Các tùy vật của Quan Âm thương thấy có ở các cánh tay này: cây gậy hành hương, mũi tênMặt Trănghoa sen xanh, bình nước, ngũ sắc tường vânkiếmhoa sen trắngsọ ngườigương soi, chùm nho, câykíchkinh vănthủ ấnđinh batràng hạtphậtthiên cungphất trầnthiền trượngcung tênhoa sen đỏvòng tay...
Ở Việt Nam, hình tượng này có từ thời LýTrần và đạt tới đỉnh cao nghệ thuật vào thế kỷ 17 với tượng Phật Quan Âm ở chùa Bút Tháp. Theo kinh điển của phái Mật tông, trong quá khứ xa xôi, Quan Âm được nghe Thiên quan Vướng Tĩnh Chú Như Lai giảng về Đại Bi Tâm Đà la Ni, sau đó đã xuất hiện trên người nghìn mắt để thấy khắp |thế gian]] và nghìn tay để cứu vớt chúng sinh. Còn ở Việt Nam, câu truyện cổ tích "Bà chúa Ba" hay "Sự tích Phật Bà nghìn mắt nghìn tay chùa Hương Tích" đã giải thích cho lý do xuất hiện hình tượng Quan Âm này. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Mễ Sở,Hưng Yên và ở chùa Bút ThápBắc Ninh là hai tượng Quan Âm tiêu biểu về nghệ thuật và trí tưởng tượng phong phú của nghệ nhân.


































Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét