Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014


Nhập môn cầu Đạo
MINH THỆ





“ Phàm con người phải biết có chi trên đầu. Cái không trung trên đầu ta đó là Trời. Đấng cầm quyền trên ấy là Đấng Tạo Hóa, là Ngọc Hoàng Thượng Đế, là Chúa Tể cả càn khôn thế giới.
Nay Đấng Tạo Hóa lấy danh lập Đạo là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, dùng huyền diệu Tiên gia đến dựng nơi nước Nam ta một nền Chơn Đạo rất cao thượng mà độ rỗi nhơn sanh khỏi luân hồi, gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Đức Thượng Đế, vì thương yêu nhơn loại, đến độ rỗi chúng ta, lại còn gọi mình là Thầy, kêu chúng ta là môn đệ. Vậy nên chúng ta phải hết lòng kính mến và sùng bái Đấng Tạo Hóa và hết dạ tín ngưỡng cái Đạo rất huyền vi mầu nhiệm của Đấng Chí Tôn.” . - (Trích phần đầu Tiểu Tự của Tân Luật)

Top of Page



Trong một xóm nghèo ở ngoại ô Thị Xã VL có vợ chồng ông Hai Thiệt đều theo Đạo Cao Đài, căn nhà của hai ông bà đang ở là nhà xưa, lợp ngói âm dương, cột gỗ và vách ván đều hư mục gần hết, cửa nẻo xệch xạc, trong nhà không có gì quí giá ngoài hai bàn thờ : bàn thờ giữa nhà để thờ Đức Chí Tôn, bàn thờ bên cạnh để thờ Tổ Tiên. Hai ông bà đều già, gần 70 tuổi, không còn sức lao động, sống được là nhờ vợ chồng đứa con gái làm nghề bán gạo lẻ tại chợ nhỏ CL, cung cấp lương thực tạm đủ để nuôi sống ông bà, vợ chồng đứa con gái ấy không khá giả chi, chỉ đủ tay làm hàm nhai. Vả lại ông bà Hai Thiệt đều ăn chay trường, cũng ít tốn kém. Hai ông bà đều siêng năng cúng kiếng tại nhà, hàng xóm thường nghe tiếng chuông mõ nhẹ nhàng phát ra từ ngôi nhà cũ kỹ ấy. Khi đến ngày mùng 1 hay rằm, ông bà Hai Thiệt thường tới Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu để chầu lễ Đức Chí Tôn hay Đức Phật Mẫu, cách nhà của ông bà khoảng hai ngàn thước.
Những người trong xóm đều rất cảm mến ông bà Hai Thiệt, vì tánh nết hiền hậu và thật thà.
Trong số láng giềng có ông Út Mô thường qua nhà nói chuyện chơi. Gia đình Út Mô không có Đạo, chỉ thờ ông bà, rất có cảm tình với ông bà Hai Thiệt, nên cũng có cảm tình với Đạo Cao Đài.
Thình lình ông Hai Thiệt bị cảm nặng, nằm một chỗ không dậy nổi. Ông Út Mô thấy có nhiều vị Đạo Cao Đài mặc áo trắng quần trắng đến thăm ông Hai Thiệt bịnh, có xách theo đường sữa và trái cây tặng cho người bịnh. Vài ngày sau, bịnh ông Hai Thiệt trở nặng hơn, khó bề thang thuốc.
Ông Út Mô thấy có vài vị Đạo Cao Đài mặc đạo phục nghiêm chỉnh, đem theo mấy đứa con gái nhỏ tuổi làm đồng nhi đến nhà ông Hai Thiệt để tụng Kinh Hấp Hối cho ông. Chừng một lúc sau, ông Hai Thiệt thở hơi cuối cùng. Mọi người đều không cầm giọt lệ.
Ông Út Mô cảm thấy thương xót ông Hai Thiệt, nghĩ rằng gia đình ông rất nghèo, bà Hai thì già, không còn sức lao động, đứa con gái làm chỉ đủ ăn, làm sao lo hòm rương và làm đám tang cho ông Hai Thiệt. Ông Út Mô đang lo lắng nghĩ cách giúp đỡ thì bỗng nhiên Út Mô thấy nhiều người Đạo Cao Đài chở đến nhà ông Hai Thiệt một cái hòm, thấy cũng khá tốt, có đủ đồ tẫn liệm, có vài ông mặc áo đạo tỳ đi theo lo việc tẫn liệm. Mấy ông cúng vái nơi bàn thờ giữa, rồi đến chỗ xác ông Hai Thiệt nằm, đồng nhi tụng kinh rồi mấy ông đạo tỳ liệm xác ông Hai Thiệt vào quan tài.
Một nhóm người đạo khác, đủ cả nam nữ, chở tới bàn ghế, chén dĩa, son nồi nấu nướng, rồi phân công ra, người đi chợ mua rau cải củ đậu, người lo chẻ củi đun bếp, người lo dựng rạp, trải bàn, sắp ghế. Còn các vị trong ban nhạc thì chở nhạc cụ tới gồm : cặp trống, đờn cò, đờn kìm, kèn, mõ, vv... rồi có người đi mua đồ cúng gồm : nhang, đèn sáp, bông, trái cây, rượu, trà cũng vừa mang tới.
Những người đạo đến giúp đám tang làm việc rất trật tự, mỗi người một việc rất ăn khớp nhau, làm rất quen tay, không nghe một tiếng nói lớn, không một tiếng chửi thề, không một tiếng cười giỡn, mọi người đều tỏ dấu bi ai.
Hôm sau, ông Út Mô thấy một nhóm thanh niên của Đạo Cao Đài đến đám tang, vào nhà thay quần áo lễ sĩ màu xanh đậm, đội mão lễ sĩ trắng có thêu hoa thị đen phía trước, để làm lễ cúng tế. Ban nhạc đánh trống và đờn, đồng nhi tụng kinh, lễ sĩ hiến lễ, hai tay cung tròn ngang mày, cầm dĩa cúng phẩm, chân bước đi rập ràng theo tiếng trống, bước tới, rồi đi xen qua lộn lại hay xây vòng theo bài bản rất trật tự, tập luyện rất công phu, đem cúng phẩm dâng lên bàn vong.
Các người đạo đi đám thì mặc toàn áo dài trắng, quần trắng, nữ để đầu trần, nam thì đội khăn đóng đen, đứng hầu xung quanh nghiêm trang, trật tự, đồng nhi tụng kinh giọng trầm bổng bi ai, lúc nhanh lúc chậm, tạo thành một khung cảnh tôn nghiêm, huyền bí.
Đặc biệt vào buổi sáng hôm sau, ông Út Mô thấy một vị Chức sắc mặc áo rộng đỏ, đầu đội mão tròn cũng màu đỏ, giữa mão có thêu một con mắt, đến làm phép cho người chết. Đồng đạo đến dự rất đông, đứng vào hai bên phía trước quan tài, nam bên trái, nữ bên phải. Vị Chức sắc cúng nơi bàn thờ giữa xong thì đến đứng trước quan tài, ra hiệu lịnh cho đồng nhi tụng kinh. Út Mô để ý thấy vị Chức sắc ấy đi rất chậm quanh quan tài, bước đi chắc chắn, nghiêm nghị, tay mặt cầm cành dương rẩy nước làm phép, sau đó đi vòng thứ nhì, tay trái cầm cây kéo như lựa chỗ rồi cầm kéo cắt khơi khơi trong không khí, đi giáp vòng rồi trở lại đứng trước quan tài, kế đó có người phụ lễ đưa cho ông bó nhang đang cháy để ông tiếp tục làm phép. Khi ông làm phép xong thì đồng nhi tụng kinh vừa dứt.  
Ông Út Mô hỏi một người đạo, ông Chức sắc mặc áo đỏ ấy làm phép gì vậy ?  Vị ấy trả lời : Đó là ông Giáo Hữu đến làm phép xác, phép cắt dây oan nghiệt và phép độ thăng cho ông Hai Thiệt, để linh hồn của ông sớm được siêu thăng lên cõi thiêng liêng. Buổi lễ diễn ra rất trật tự, trang nghiêm, đầy vẻ thiêng liêng.
Buổi lễ làm phép vừa xong, ông Út Mô thấy một chiếc xe có hình dáng là một con rồng, đầu xe làm hình đầu rồng, cuối xe làm hình đuôi rồng, mình xe làm nhà vàng, trước và sau xe đều có cắm cờ đạo 3 màu : vàng, xanh, đỏ. Chiếc xe nầy sơn và vẽ hình con rồng màu vàng rất đẹp, đậu trước nhà ông Hai Thiệt. Ông Út Mô hỏi một người đạo thì được biết đây là tượng trưng chiếc thuyền Bát Nhã chở xác người chết đem chôn nơi nghĩa địa.
Trong nhà lúc đó, đồng nhi tụng kinh, hết bài kinh nầy tới bài kinh khác, sau đó đứng dạt ra hai bên để ban đạo tỳ vào đứng trước quan tài làm lễ, có người chỉ huy cầm nhịp gõ lớn làm hiệu lịnh, các đạo tỳ đi vòng qua lộn lại rồi đi xen kẻ rất trật tự, có tập luyện thuần thục. Bàn vong được dẹp bỏ, các đạo tỳ vào đứng quanh quan tài, chuẩn bị khiêng quan tài ra đặt lên thuyền Bát Nhã.
Đoàn đưa đám tang khởi hành, đi đầu là tấm bảng lớn bằng vải đen có thêu 6 chữ lớn màu trắng “ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”, tiếp theo là một người cầm phướn 3 màu vàng xanh đỏ, trên phướn có hai chữ nho, đi tiếp theo là bàn vong, hai bên có hai hàng đồng nhi vừa đi vừa tụng kinh, kế đó là thuyền Bát Nhã đặt trên 4 bánh xe chạy chậm chậm nối theo, tang gia đi tiếp theo và sau cùng là các đồng đạo nam nữ đi tiễn đưa. Ông Út Mô để ý thấy không có việc rải giấy tiền vàng bạc khi đám tang đi dọc đường. . . . . .  (Nghi thức của đám tang sẽ được trình bày đầy đủ chi tiết trong Chương 24 sau cùng)
Út Mô quan sát đám tang của Hai Thiệt do Đạo Cao Đài tổ chức, đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác, không ngờ Hai Thiệt nghèo như vậy mà Đạo Cao Đài tổ chức cho ông một đám tang rất long trọng, đầy đủ nghi lễ, trật tự trang nghiêm, bi ai, trong sự trợ giúp hết sức nhiệt tình của đồng đạo, với tính cách là làm công quả. Dù gia đình giàu có ở ngoài đời, chịu tốn nhiều tiền, cũng không thể tổ chức được một đám tang tốt đẹp như vậy.
Ông Út Mô cảm thấy rất khâm phục Đạo Cao Đài và trong trí ông lóe lên tư tưởng : hay là mình xin gia nhập vào Đạo Cao Đài.
Ông Út Mô suy nghĩ mấy ngày, rồi quyết định xin nhập môn vào Đạo Cao Đài. Ông liền tìm đến Thánh Thất, nói rõ ý muốn của mình, được người đạo đưa vào gặp vị Lễ Sanh Cai Quản Thánh Thất.
Ông Út Mô nói :
- Xin ông Lễ Sanh cho tôi theo Đạo Cao Đài.
Ông Lễ Sanh hỏi : - Bạn vui lòng có thể cho biết lý do nào khiến bạn muốn nhập môn vào Đạo Cao Đài ?
Út Mô thành thật trình bày : - Thưa ông Lễ Sanh, tôi tên là Nguyễn Văn Mô, ở kế cận nhà ông Hai Thiệt vừa mới mất đó, tôi thấy ông Hai Thiệt là người Đạo Cao Đài, rất hiền lành nhưng rất nghèo, được Đạo Cao Đài tổ chức cho một đám tang rất long trọng, lại giúp đỡ tiền bạc vật chất đủ hết, làm cho tôi rất kính phục Đạo Cao Đài, nên tôi muốn xin nhập vào Đạo Cao Đài.
Ông Lễ Sanh nói : - Tu theo Đạo Cao Đài phải cúng kiếng hằng ngày, như bạn đã thấy ông Hai Thiệt đó, phải ăn chay và đi làm công quả cực lắm ! Bạn chịu nổi không ?
Út Mô mạnh dạn đáp :
- Người ta làm nổi thì nhứt định tôi cũng làm nổi.
Ông Lễ Sanh gọi một em công quả đến, bảo em đạp xe gấp, gọi ông Chánh Trị Sự và Thông Sự nơi hương đạo của ông Út Mô đến Thánh Thất vì ông Út Mô đến xin nhập môn cầu đạo.
Vị Lễ Sanh nói tiếp :
- Trong lễ nhập môn cầu đạo, bạn phải lập minh thệ trước Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn. Lập minh thệ là nói lên lời thề nguyện của mình quyết tâm theo đạo.
Ông Lễ Sanh liền lấy ra một tờ giấy nhỏ, trên đó có in sẵn lời Minh Thệ, đưa cho Út Mô xem, rồi nói tiếp :
- Bạn phải đem sanh mạng của bạn ra mà thề với Đức Chí Tôn, quyết tâm theo Đức Chí Tôn tu hành, không lui lại đường đời hay tẽ qua ngả khác, bạn có chịu không ?
- Thề với Đức Chí Tôn thì tôi chịu thề liền.
- Tôi đọc lời Minh Thệ, bạn nhìn vào giấy dò theo : “ Tên họ của bạn, tuổi của bạn, thề rằng : từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục.”
Thiên tru Địa lục là Trời Đất giết chết đó. Bạn dám thề không ?
- Thề với người khác thì tôi sợ, còn thề với ông Trời thì tôi bằng lòng.
Lúc đó, ông Chánh Trị Sự và Thông Sự của Hương đạo ông Út Mô ở cũng vừa tới Thánh Thất. Ông Lễ Sanh nhờ hai vị nầy tiến dẫn Út Mô nhập Đạo. Sau đó ông vào phòng thay đạo phục rồi cùng Út Mô lên Chánh điện của Thánh Thất. Ông Chánh Trị Sự chỉ cho Út Mô thấy Thiên bàn thờ bức họa vẽ Thiên Nhãn tượng trưng Đức Chí Tôn Thượng Đế, ý nghĩa là Trời thấy hết biết hết mọi việc của con người, không có gì mà giấu giếm được Trời.
Ông Chánh Trị Sự hướng dẫn Út Mô cách bắt Ấn Tý và cách lạy Đức Chí Tôn. Ông Thông Sự thì giúp việc lên đèn, đốt nhang trên Thiên bàn và hầu chuông, vì người phụ trách lễ vụ vắng mặt.
Kế ông Lễ Sanh mặc đạo phục vàng, mão trắng có thêu Thiên Nhãn phía trước, bước vào Chánh điện, làm lễ Đức Chí Tôn, cầu nguyện, lạy xong thì đứng dậy, xá rồi bước ra nói :
- Ông Chánh Trị Sự hướng dẫn Anh Út vào làm lễ.
Ông Chánh Trị Sự nói :
- Anh Út vào đứng trước Chánh điện, mặt hướng lên Thiên bàn, hai tay bắt Ấn Tý, xá 3 xá, quì xuống :
. đưa Ấn Tý lên giữa trán, niệm : Nam mô Phật,
đưa ấn Tý qua màng tang trái niệm : Nam mô Pháp,
rồi đưa qua bên phải, niệm : Nam mô Tăng,
. đem Ấn Tý xuống đặt giữa ngực, niệm :
  Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,
. cúi đầu, niệm tiếp :  (mỗi niệm mỗi cúi đầu)
  Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát,
  Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đại
                                           Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,
  Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân,
  Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
        Ông Chánh Trị Sự bảo Út Mô đưa Ấn Tý lên trán cầu nguyện : “ Tôi tên Nguyễn Văn Mô, … tuổi, hôm nay tự nguyện xin nhập môn vào Đạo tu hành.”
Kế đó bảo Anh Út Mô lạy Đức Chí Tôn 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Phải gật chậm chậm để kịp câu niệm.
Ông Lễ Sanh bảo Anh Út Mô cầm tờ giấy có in câu Minh Thệ, đọc lớn lên : Tôi tên . . . . . . . tuổi . . . . . vv . . .
Xong đặt tờ giấy xuống, tay bắt Ấn Tý trở lại, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật như đã hướng dẫn, đứng dậy, xá Đức Chí Tôn 3 xá, quay lại xá chữ Khí 1 xá rồi lui ra.
Ông Út Mô mới làm lễ lần đầu nên rất lọng cọng, vị Chánh Trị Sự phải sửa tới sửa lui, nhưng ai cũng vậy, vì chưa quen.  Thế là buổi lễ Nhập môn vào Đạo Cao Đài của ông Út Mô đã xong.
Ông Chánh Trị Sự đưa Út Mô trở lại văn phòng, đến bàn viết, lấy sổ bộ ra ghi tên Nguyễn Văn Mô vào,  cấp cho ông Út Mô một giấy Sớ Cầu Đạo Tạm, rồi nói :
- Bây giờ, Anh Út là tín đồ của Đạo Cao Đài, anh cần tập cúng lạy cho quen, bắt đầu tập ăn chay mỗi tháng 6 ngày, rồi học thuộc Kinh Cúng Tứ thời. Anh phải may một bộ đạo phục : áo dài trắng, quần trắng, khăn đóng đen. Sau thời gian 6 tháng, anh làm tròn bổn phận Đạo hữu thì anh sẽ được cấp Sớ Cầu Đạo Thiệt Thọ, dùng cho đến mãn đời, khi chết cũng phải đốt đem theo.  Anh nên sở hữu 4 quyển sách căn bản để học đạo buổi đầu :
* Kinh Thiên Đạo - Thế Đạo,
* Thánh Ngôn Hiệp Tuyển I-II,
* Pháp Chánh Truyền.
* Tân Luật.
Tôi sẽ cung cấp cho anh các sách nầy. Anh là Đạo hữu trong Hương đạo của tôi, có việc gì thì anh liên lạc với tôi, hoặc với hai ông Phó Trị Sự và Thông Sự nơi ấp đạo của anh, chúng tôi sẽ giúp cho.        . . . . . . . . . . . .

Top of Page



Lời Minh Thệ nầy do Đức Chí Tôn giáng cơ lập ra, chớ không phải do một người phàm nào đặt để, nên có tính cách thiêng liêng huyền bí.
Câu Minh Thệ gồm 36 chữ, số 36 là bội số của 12, mà số 12 là số riêng của Đức Chí Tôn.

Tên họ  . . . . . . .  Tuổi . . . . . . . .
Thề rằng : từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi  dạ đổi lòng, hiệp đồng chư  môn đệ, gìn  luật  lệ  Cao  Đài,  như  sau  có  lòng  hai  thì  Thiên tru  Địa  lục.

1*  Biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế :
“ Là trọn nhìn một Đạo Cao Đài của Đức Chí Tôn, ngoài ra không đặng xu hướng theo ngoại giáo, tà quyền, lập nên phe đảng, chia rẽ tâm lý, gây nên sự rắc rối chia ly  làm mất đức  tin  trong cửa Đạo.
2* Hiệp đồng chư môn đệ  gìn luật lệ Cao Đài :
“ Tín đồ nhập môn rồi phải tuân hành luật pháp chơn truyền của Đại Đạo là : Tân Luật, Đạo Luật, Pháp Chánh Truyền, vv... và thi hành các qui điều giáo huấn của Hội Thánh để làm tròn phận sự mình. Ấy là phương hiệp đồng nhứt trí của toàn đạo, tín đồ, Chức việc, Chức sắc Hội Thánh để nhặt gìn luật lệ Cao Đài của Đấng Chí Tôn.
3* Như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục :
“ Ăn ở hai lòng, bất trung bất chánh, dối Thầy phản bạn và làm những việc trái với luật lệ của Đại Đạo, cùng hành động vô nhân vô nghĩa, mất sự thương yêu, mất điều tín nhiệm, gieo rắc những điều ngờ vực hiềm khích giữa tình đồng đạo và manh tâm bội nghịch cùng Hội Thánh, sẽ chịu luật công bình của Trời Đất tru diệt (giết phạt).
“ Minh Thệ đối với luật vô vi tức là Thiên điều của Chí Tôn và các Đấng Phật Tiên Thánh Thần cầm quyền trị thế là một ân huệ được chọn làm môn đệ của Đấng Chí Tôn.
“ Khi giữ tròn lời Minh Thệ sẽ được các Đấng hộ trì, ban ân lành, đạo tâm sáng suốt, trọn vẹn đức tin, đến ngày thành công đắc đạo, được ghi tên vào Tiên tịch (Bộ Tiên).
“ Minh Thệ đối với luật hữu hình của Hội Thánh là một giá trị uy tín đối với Đạo và Hội Thánh. Khi giữ tròn lời Minh Thệ sẽ được tín nhiệm kính nể, bảo trợ hưởng mọi đặc ân với luật công bình của Hội Thánh.
“ Lời Minh Thệ nhập môn cầu Đạo là một điều rất quan hệ của người giữ Đạo và là một lời hứa trọn vẹn tín thành với Hội Thánh cùng các Đấng thiêng liêng.
“ Một kiếp sanh ở hiện tại và tương lai, phước hay tội, cũng do nơi lời Minh Thệ nầy.
“ Vậy, toàn đạo nam nữ nên trân trọng gìn theo lời Minh Thệ.” (Trích văn thư của Hội Thánh : Dẫn giải lời Minh Thệ nhập môn cầu Đạo ngày 27-1-Tân Mão, dl 4-3-1951)
Top of Page



 “ Bần đạo nói thật, buổi Đức Chí Tôn đến tạo Quốc Đạo cho nòi giống Rồng Tiên nầy, chính Ngài cầm cơ đi đến các tỉnh kêu từ nhà, gọi từ đứa con, cho không biết bao nhiêu bài khuyến dạy, tạo thành một nền tôn giáo Cao Đài là Quốc Đạo. Bần đạo tưởng chưa có người nào đem cả tinh thần tâm đức mà thi ân cho dường ấy, Đức Chí Tôn đến độ rỗi, lập giáo, rồi lại bắt Minh thệ.
Hỏi tại sao Ngài lại bắt Minh thệ ? Là buộc con cái phải hiệp đồng cùng nhau. Mỗi người có một chút đức tin. Thầy bảo qui đức tin ấy lại, phải có tâm đức tin tưởng, yêu ái lẫn nhau, phải nhìn nhận có Thầy, có đức tin nơi Thầy. Hại thay ! Có nhiều đứa con của Ngài cũng nghe, cũng tìm Đạo, cũng thọ giáo, cũng Minh thệ đủ phép tắc, biết bao nhiêu khi mới đến cùng Thầy, quì dưới chơn Thầy, mà hễ ra khỏi chơn Ngài rồi thì lại phản phúc Ngài và con cái của Ngài.”  (Trích Thuyết Đạo của Đức Phạm Hộ Pháp)

   Mục đích của Minh thệ là gì ?

- Về phần người : Minh thệ cốt để người tín đồ dứt khoát tư tưởng mà thủ tín với lời thề, không dám làm điều gì trái với lời thề tức là trái với luật đạo, để hết lòng lo lập công bồi đức, trau tâm luyện tánh mà đạt đến phẩm vị cao trọng nơi cõi thiêng liêng.
- Về phần thiêng liêng :  Người có lập Minh thệ thì các Đấng thiêng liêng mới nhìn nhận là môn đệ của Đức Chí Tôn, tức là tín đồ của Đại Đạo, mới hộ trì không cho tà ma khuấy phá, gây trở ngại bước đường tu tiến.

Minh thệ có ích lợi gì ?
Khi lập Minh thệ rồi mới được làm môn đệ của Đức Chí Tôn, mới hưởng được hồng ân của Chí Tôn ban cho :
* Thứ nhứt, môn đệ giữ tròn luật đạo, ăn chay 10 ngày trong một tháng thì vào hàng Đạo hữu, đối phẩm Địa Thần trong Cửu phẩm Thần Tiên.
* Thứ nhì, môn đệ giữ tròn luật đạo, ăn chay 10 ngày mỗi tháng thì khi qui liễu được làm Phép Xác, Phép Đoạn Căn, Độ Thăng, làm Tuần Cửu, Đại Tường, Tiểu Tường, để đưa chơn hồn đi lên qua 12 từng Trời, bái kiến các Đấng Tiên Phật, bái kiến Đức Phật Mẫu và Đức Chí Tôn, sau đó được Tòa Tam Giáo Ngọc Hư Cung định phận.

Ngoài ra, từ xưa tới nay, muốn đạt những thành công vĩ đại thì bổn thân người đó phải có chí khí kiên cường bất khuất vượt qua các trở ngại lâm nguy; còn muốn đạt đến phẩm vị Tiên, Phật thì phải có lời Đại nguyện, giống y lời Minh thệ :
- Trước khi thành Phật A-Di-Đà, Ngài có 49 điều Đại nguyện.
- Thái Tử Sĩ Đạt Ta lúc mới xuất gia, có phát ra 4 điều Đại nguyện.
Vậy, việc Minh thệ là một việc làm rất có ích và rất có ý nghĩa đối với mỗi tín đồ Cao Đài, về phương diện phàm trần cũng như về phương diện thiêng liêng.
Top of Page



Từ ngày lập đạo, Đức Chí Tôn chưa hề bắt buộc người nào theo Đạo cả. Đức Chí Tôn chỉ vạch ra cho nhơn sanh thấy con đường nào chánh, con đường nào tà, con đường nào chơn thật đưa đến giải thoát khỏi luân hồi, con đường nào quanh co đưa đến tội tình sa đọa. Nhơn sanh hiểu biết rõ như thế để giác ngộ, rồi đi con đường nào hay không đi là tùy  ý  nhơn sanh lựa chọn và định đoạt.
TNHT : Nếu kẻ nào biết hiểu Thánh Ngôn của Thầy nơi miệng các con mà tỉnh ngộ thì số hằng sống của nó vốn còn, còn chẳng thì thôi, để chúng nó theo Tà quái.
Rõ ràng Đức Chí Tôn để nhơn sanh tự định đoạt đời mình, Chí Tôn chỉ đem lòng thương yêu hướng dẫn.
TNHT : Đạo là quí, của quí chẳng bán nài, các con đừng thối chí.
Như vậy nhơn sanh tự do chọn lựa tín ngưỡng, hoặc không tín ngưỡng tùy ý, không bắt ép hay nài nỉ ai cả.
Nhưng lập Minh thệ là sự biểu lộ quyết tâm theo Đạo tu hành đến trọn đời. Đừng bao giờ nghĩ rằng, theo Đạo Cao Đài để thử nghiệm hay có mục đích vụ lợi, mượn danh Đạo tạo danh đời.
Theo Đạo là một đại sự trong cuộc đời mình, nhập môn cầu Đạo và lập Minh thệ là một khúc quanh vô cùng quan trọng trong cuộc đời mình, nên cần phải cân nhắc cẩn thận, tìm hiểu cho kỹ lưỡng, xét nét cho thật nghiêm chỉnh các phương diện.
Đạo Cao Đài không bắt buộc ai theo Đạo, nhưng khi đã giác ngộ theo Đạo thì buộc phải theo trọn đời bằng việc lập Minh thệ, không cho người tín đồ Cao Đài thối lui trở lại đường đời, mà phải tiến mãi trên con đường Đạo, để được trúng tuyển vào Đại Hội Long Hoa trước khi xảy ra cuộc Tận Thế thay đổi cuộc diện nơi Địa cầu 68 nầy.
Tại sao khi ở ngoài vòng thì không buộc, mà khi đã vào cửa Đạo rồi thì lại buộc ?
Bởi vì thời kỳ nầy là mạt kiếp của Hạ Nguơn Tam Chuyển, bước qua Thượng Nguơn Tứ Chuyển lập đời Thánh đức, nhơn loại phải trải qua một cuộc Đại Phán Xét cuối cùng, để chấm dứt một chu kỳ tiến hóa cũ, bắt đầu một chu trình tiến hóa mới. Do đó, Đức Chí Tôn đại khai ân xá cho các đẳng chơn hồn, nếu ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về ngôi vị cũ. Thời kỳ nầy cần phải tu gấp, tu rút, không còn thời giờ để chần chờ nữa. Bởi vậy Đức Chí Tôn buộc Minh thệ là thể lòng thương yêu vô lượng của Đấng Cha Lành, buộc con cái phải gấp rút tu hành để kịp trở về cùng Ngài.
Địa cầu nầy sắp phải chịu một lần đổi thay, nhơn loại bị nạn chết chóc đủ cách sầu thảm, 10 phần chỉ còn
sống có 1 phần mà thôi. Số nhơn loại sống sót là những người đủ trình độ đạo đức, đủ bác ái công bình, để các Đấng lập đời Thánh đức, tạo lập một xã hội đại đồng.
Cho nên việc lập Minh thệ là một quyền lợi tất yếu của người tín đồ Đạo Cao Đài.
Đương nhiên luật công bình thiêng liêng mở ra có thưởng ắt có phạt. Nếu thực thi đúng theo lời Minh thệ thì chắc chắn sẽ được thiêng liêng ân thưởng như đã trình bày
bên trên, còn nếu không giữ đúng lời Minh thệ hay làm ngược lại lời Minh thệ thì ắt bị phạt.
Cho nên, theo Đạo là để chí cốt tu hành, còn nếu cảm thấy không thể giữ được lời Minh thệ thì chưa nên theo Đạo. (Trích trong Cao Đài Từ Điển của Đức Nguyên)
Top of Page



Thế nào là Thất Thệ ?  Thất Thệ là làm mất lời thề, tức là không giữ được lời thề, không thực thi đúng lời thề, là vi phạm lời thề.
Trong phần II của bài nầy (đã trình bày ở các trang trước) : “Giải thích lời Minh Thệ” của Hội Thánh có ba mục : 1*, 2*, 3*, nếu không giữ đúng theo ba mục nầy thì phạm vào tội Thất Thệ.
Như Thất Thệ có bị Thiên tru Địa lục không ?
Đáp : Theo nguyên tắc thì phải bị Thiên tru Địa lục đúng theo lời thề, nhưng đối với một ông Cha hiền từ là Đại Từ Phụ, chỉ biết hăm he phạt nặng cho con cái sợ sệt mà lo tu hành, chớ có bao giờ Ngài giết chết con cái của Ngài. Những người thất thệ chỉ bị đọa vào Phong Đô, tức Cõi Âm Quang, để học đạo, nơi đó có Thất Nương DTC giáo hóa nữ phái và Địa Tạng Vương Bồ Tát dạy nam phái cho biết rõ lẽ đạo, đâu là phước, đâu là tội. Khi đã thức tỉnh biết rõ thì các Đấng nơi ấy cho đi đầu thai chuyển kiếp để trả quả theo đúng luật công bình thiêng liêng, đồng thời lo tu hành để được Đức Chí Tôn cứu vớt.
TNHT :  Hồng ân của Đại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đọa hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu kém đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy, đó là mấy Đạo hữu tín đồ thất theä.(TNHT 1-2 hợp nhứt, B 165)
Sau đây là kết quả việc Thất thệ của một tín đồ, tại Hương đạo Bá Hữu, Phận đạo đệ nhứt, có Phúc Trình dâng lên Hội Thánh.
Nội dung Phúc Trình, xin chép ra sau đây :

“ Chúng tôi là Bàn Trị Sự đương quyền Hành Chánh Hương đạo Bá Hữu thuộc Đệ I Phận đạo, đồng kính phúc trình một việc như sau :
Kính bạch Hội Thánh,
Nguyên trong Hương đạo chúng tôi có vị Đạo hữu Lê Văn Lòng 60 tuổi, qui vị ngày 17-giêng-Đinh Mùi, nhưng vị nầy trước kia còn sống thì có tánh hiền lương chơn thật, biết lập công bồi đức cùng Đạo, nhưng ông còn thiếu sự chay lạt và cúng kiếng. Ông không biết nên ngày qui vị của ông, Bàn Trị Sự chúng tôi hành lễ theo Châu Tri số 61 của Hội Thánh, thì có người con trai lớn của ông là Lê Văn Sen 29 tuổi, thợ hồ, yêu cầu Bàn Trị Sự chúng tôi hành lễ đủ kinh cho thân phụ người rồi thì sẽ ăn chay trong 81 ngày và tụng kinh trong Tuần Cửu, nhưng nói mà thông qua chớ không ăn chay, nên 10 giờ đêm ngày 17-3-Đinh Mùi, ông Lê Văn Lòng về nhập xác cho con về việc nói trên và cung khai các việc như sau :
Do sự chứng kiến của Liên gia trưởng và nhiều người lân cận nói lại, ông về mách bảo vợ con biết là ông thất thệ, hồi còn sống không ăn chay, nên bị tội ở Khách Đình của Hội Thánh, để chờ ngày thưởng phạt  của cácĐấng.
Ông nói với vợ con rằng : Yêu cầu Bàn Trị Sự tụng kinh cho ông 3 đêm Sám Hối xin tội giùm ông, ông mới đặng siêu thăng, và ông đính chánh ông có hai tên : Nguyễn Văn Lòng tự là Lê Văn Bộ, mới đúng trong Bộ thiêng liêng và khi dâng sớ cầu nguyện cũng viết y như vậy.
Ông còn nói : Linh hồn ông hiện giờ còn ở lưng chừng, muốn đi đâu phải xin phép mới có người hướng dẫn, và muốn vô nhà nào cũng không được vì nơi gia đình tư nhân có thờ Chí Tôn thì không dám vô vì ở đó có Thần Thánh, mà ông là người có tội, vì ông không giữ đúng lời Minh Thệ khi  nhập môn  cầu đạo.
Ông Trưởng liên gia hỏi thêm ông : Hiện giờ ở Khách Đình có một mình ông hay có ai nữa không ?
Ông trả lời : Trùng trùng điệp điệp, những người thất thệ lưng chừng như ông còn ở đó mấy chục năm nay.
Ông nói đến đây rồi khóc òa lên và nói cho vợ con tin làm bằng chứng là cái mả của ông, mưa lở một phía bên trái, gần đầu. Việc nầy cũng đúng sự thật.
Đến đây ông xuất đi luôn.
            Bá Hữu, ngày 18 tháng 3 năm Đinh Mùi (1967).
            (Bàn Trị Sự ký tên)
Top of Page




Những người đến nhập môn vào Đạo Cao Đài phần lớn không phải do hiểu biết giáo lý của Đạo, hay có đức tin Thượng Đế, mà là do cảm phục sự linh hiển hay sự cao cả của Đạo trong việc phụng sự bất vụ lợi giúp ích nhơn sanh.
Như trường hợp của ông Út Mô đã kể nơi phần I, ông cảm phục Đạo Cao Đài tổ chức một đám tang cho người đạo nghèo với đầy đủ nghi lễ, trong trật tự trang nghiêm và huyền bí, với tinh thần làm công quả bất vụ lợi, khiến cho người nghèo được làm đám cũng long trọng như người giàu. Ông cảm phục lẽ đó mà nhập môn vào Đạo.
Ông Út Mô chưa có đức tin tôn giáo, chưa có tín ngưỡng Trời Phật, chỉ thấy một mặt thể hiện tốt đẹp về nghi thức đám tang mà ông theo Đạo.
Nhưng đó là cái duyên rất cần thiết cho một người đến với Đạo. Nếu chưa có cái duyên nầy thì ông Út Mô chưa đến với Đạo.
Do đó, các Chức sắc trong cơ Phổ Độ của Đạo Cao Đài cần phải thuyết minh giáo lý cho các tín đồ hiểu rõ, để chuyển từ cái mê tín (là cái duyên) thành chánh tín thực  sự, hoàn toàn tin tưởng Đạo Cao Đài là chánh đạo có một giáo lý chơn thật đủ sức giải thoát con người ra khỏi biển khổ luân hồi, tin tưởng Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu là hai Đấng Cha Mẹ chung của toàn cả chúng sanh, luôn luôn thương yêu và tìm cách cứu độ chúng sanh.
Riêng bản thân của người Đạo hữu Cao Đài, ngoài việc cúng kiếng và làm công quả, phải dành nhiều thời giờ để học luật pháp và giáo lý của Đạo có in trong các kinh sách thì mới hiểu rõ chơn truyền của Đạo, mới có đức tin vững chắc và mới không bao giờ xa Đạo hay bỏ Đạo mà thất thệ với Đức Chí Tôn.

*  Giải nghĩa vài từ ngữ đã dùng :

1. Tại sao tín đồ Đạo Cao Đài gọi Đức Chí Tôn là Thầy ?
Đức Chí Tôn là từ mà tín đồ Đạo Cao Đài thường gọi Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, hay vắn tắt là Thượng Đế, Ông Trời, là Đấng Chúa tể CKVT và vạn vật.
Đức Chí Tôn giáng cơ dạy đạo, xưng mình là Thầy, gọi các người nhập môn vào đạo là các con, là chư môn đệ.
Vì thế, các tín đồ Cao Đài đều là môn đệ của Đức Chí Tôn và gọi Đức Chí Tôn là Thầy.
Đức Chí Tôn là cha của linh hồn, Đức Phật Mẫu là mẹ của chơn thần, nên chúng ta gọi Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ và Đức Phật Mẫu là Đại Từ Mẫu, là hai Đấng Cha Mẹ chung thiêng liêng của toàn cả chúng sanh.

2. Cõi Âm quang là gì ? ở đâu ?
Trong TNHT I-II hợp nhứt, bài Thánh Ngôn số 159 và 165, Bát Nương và Thất Nương có giải rõ về Âm quang. Đây là cõi giữa Thiên đường và Địa ngục, được Đức Chí Tôn lập ra, sau khi đóng Địa Ngục mở tầng Thiên vào thời ĐĐTKPĐ trong Đại Ân Xá của Ngài.
Thời trước, các linh hồn phạm tội bị giam vào Địa ngục để quỉ sứ hành hình như đã nói trong Kinh Sám Hối, nhưng khi Đức Chí Tôn mở Đạo Cao Đài cũng là Đại Ân Xá kỳ ba, Đức Chí Tôn phế bỏ Địa ngục, lập ra một cảnh mới là cõi Âm quang, để đưa các linh hồn tội lỗi đến đó  học đạo.
Thất Nương DTC dạy dỗ các nữ tội hồn, Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các nam tội hồn. Ở cõi Âm quang chỉ có giáo hóa chớ không có trừng phạt.
Khi các tội hồn thức tỉnh, biết lẽ thiện ác thì được cho đi đầu kiếp nơi cõi trần để trả quả và tu hành, để được siêu thăng về cõi thiêng liêng.

3. Chánh tín và mê tín là gì ?
Chánh tín là tin tưởng đúng đắn, chơn chánh.
Mê tín là tin tưởng mù quáng, quàng xiên, lầm lẫn.
Chánh tín thì chánh niệm, mê tín thì vọng niệm.
Chánh tín là tin tưởng tuyệt đối lời giáo huấn của Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Tiên, Phật là
chơn thật, tin tưởng luật công bình thiêng liêng của Trời Đất.
Mê tín thì không tin luật công bình, luôn luôn vụ lợi, cầu cúng nhiều để Thần Thánh ban phước cho mình và gia đình mình. Thần Thánh công bình đâu bao giờ ăn hối lộ mà cầu cúng như vậy.
Muốn chuyển Mê tín qua Chánh tín thì chỉ có một cách là học đạo cho thấu đáo mà thôi.

4. Cửu phẩm Thần Tiên :
Cửu phẩm Thần Tiên là 9 phẩm vị từ Thần đến Tiên, kể ra : Địa Thần,   Nhơn Thần,   Thiên Thần,
         Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh,
         Địa Tiên,    Nhơn Tiên,    Thiên Tiên. 
Theo PCT :
* Đạo hữu giữ tròn Minh Thệ và Tân Luật thì được đối phẩm Địa Thần.
* Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự, làm tròn phận sự thì được đối phẩm Nhơn Thần.
* Lễ Sanh đối phẩm Thiên Thần.

* Giáo Hữu đối phẩm Địa Thánh. vv . . . .

CÁCH LẠY





1. Ấn Tý là gì ?
Ấn là dấu hiệu đặc biệt về mặt đạo có tác dụng huyền bí do hai bàn tay kết lại tạo ra. Tý là chi đầu tiên trong Thập nhị Địa chi : Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, vv . . . .
Trên bàn tay trái, vị trí của Tý ở tại chân ngón áp út, Sửu ở chân ngón giữa và Dần ở chân ngón trỏ.
Ấn Tý là cái ấn mà ngón tay cái của bàn tay trái co lại chỉ vào chi Tý rồi nắm lại, bàn tay mặt ốp bên ngoài mà ngón cái chỉ vào chi Dần của bàn tay trái.
2. Cách bắt Ấn Tý :
Ấn Tý là cái ấn đặc biệt của Đạo Cao Đài, cách bắt như sau : (Xem hình vẽ 1,2,3,4)
- Hình 1 : vị trí của ba Địa chi : Tý, Sửu, Dần trong thập nhị Địa chi nơi bàn tay trái.
- Hình 2 : ngón cái co lại đặt tại chi Tý, ý nghĩa là : Thiên khai ư Tý (Trời mở ra ở hội Tý).
- Hình 3 : nắm bốn ngón tay trái lại, bên trong có ngón cái làm như cái hột ở giữa.
- Hình 4 : bàn tay mặt ốp bên ngoài nắm tay trái ấy, ngón cái của bàn tay mặt đặt vào vị trí chi Dần của tay trái, ý nghĩa : Nhơn sanh ư Dần (Người sanh ra ở hội Dần).


Hai tay bắt như vậy gọi là Ấn Tý.
Cách bắt Ấn Tý có ý nghĩa về sự tạo thành Trời Đất và Nhơn loại, theo quan niệm của người xưa ở đông phương : Thời gian tạo thành càn khôn vũ trụ và vạn vật được chia làm 12 khoảng, mỗi khoảng thời gian được gọi là Hội và đặt tên theo Thập nhị Địa chi : Hội Tý là Hội đầu tiên, kế đến Hội Sửu, sau đó là Hội Dần, vv. . . .
·   Thiên khai ư Tý : Trời mở ra ở hội Tý.
·   Địa tịch ư Sửu :  Đất mở ra ở hội Sửu (tịch là mở).
·   Nhơn sanh ư Dần : Người sanh ra  ở hội Dần.
·   Các hội tiếp theo là sự tiến hóa của trời, đất, người và vạn  vật đến chỗ hoàn hảo.
Ấn Tý là ấn đặc biệt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Đức Chí Tôn đặt ra. Cho nên trong thời ĐĐTKPĐ, mỗi khi lạy, chúng ta đều phải bắt Ấn Tý, trong tất cả các trường hợp, dù đó là lạy Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, lạy các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, hay lạy Cửu Huyền Thất Tổ, lạy Vong phàm.
Top of Page



Lạy là gì ? Lạy là tỏ ra bề ngoài lễ kỉnh trong lòng.
Tay trái tượng trưng Dương, tay mặt tượng trưng Âm, hai tay chấp lại tượng trưng Âm Dương hiệp nhứt phát khởi càn khôn, hóa sanh vạn vật.
Hai tay chấp lại bắt theo Ấn Tý tạo hình như một trái cây, tượng trưng sự kết quả của hai thời kỳ Phổ Độ trước là : Nhứt Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ.
- Thời Nhứt Kỳ Phổ Độ : Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy cách bắt tay : Bàn tay trái nắm lại, ngón cái để ngoài, bàn tay mặt ốp vào bên ngoài, hai ngón cái đặt song song sát nhau, giống như cái bông búp. Khi lạy thì đứng chấp tay nơi ngực, cúi người xuống thấp, hai bàn tay chống lên đất, hai đầu gối lần lượt quì xuống, cúi đầu gần sát đất. Xong rồi rút hai tay lên, kế chống một gối, đặt hai tay lên gối rồi đứng dậy. Lạy như vậy gọi là phủ phục.
- Thời Nhị Kỳ Phổ Độ : Đức Phật Thích Ca dạy cách bắt tay và lạy như sau : Hai bàn tay xòe ra và chấp lại cho hai lòng bàn tay ốp sát vào nhau, giống như cái hoa sắp nở, khi lạy thì cúi người xuống thấp, mở hai bàn tay ra đặt ngửa trên mặt đất, giống như cái hoa nở (gọi là hoa khai), cúi đầu xuống cho trán chạm vào lòng hai bàn tay, xong rút tay lên chấp lại như cũ và đứng dậy.
- Thời Tam Kỳ Phổ Độ : Đức Chí Tôn dạy chúng ta chấp hai tay bắt Ấn Tý, giống như trái cây có cái hột bên trong (gọi là kết quả), quì xuống, cúi đầu và mở hai bàn tay ra đặt úp lên mặt đất, hai ngón tay cái gác tréo nhau (Hình 5), giống như chúng ta gieo hột giống xuống đất, trán cúi xuống chạm nhẹ lên mô bàn tay, rồi cất người lên.

Tóm lại, Ấn Tý của Đạo Cao Đài có hai ý nghĩa :
* Một là biểu thị ba thời kỳ đầu tiên tạo dựng CKVT (gồm Trời, Đất, Người) của Đức Chí Tôn Thượng Đế.
* Hai là tượng trưng sự kết quả của hai thời kỳ Phổ Độ trước (Nhứt Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ).

Cách xá :  
Khi đứng xá, hai tay bắt Ấn Tý, đưa lên trán, ý nghĩa là kỉnh Thiên (Trời), xá sâu xuống, ý nghĩa là kỉnh Địa (Đất), rồi rút Ấn Tý lên đặt nơi ngực, ý nghĩa là kỉnh Nhơn (Người). Xá như vậy nhắc chúng ta kính Tam Tài : Thiên, Địa, Nhơn.
Chỉ xá trước khi lạy và sau khi lạy xong, phải xá sâu xuống. Lưu ý là giữa hai lạy, không có xá nhỏ xen vào.



1.- Cách lạy Đức Chí Tôn :
- Đứng thẳng người, mặt hướng vào Thiên bàn, tay bắt Ấn Tý, xá sâu 3 xá, quì xuống (chân trái bước tới, chân phải quì xuống, chân trái quì theo), đặt ấn Tý trước ngực.
- Lấy dấu Phật Pháp Tăng :
     . Đưa ấn Tý lên giữa trán niệm : Nam mô Phật.
     . Đưa qua màng tang trái, niệm : Nam mô Pháp.
     . Đưa qua màng tang mặt, niệm : Nam mô Tăng.
(Khi đưa ấn Tý qua Pháp hay qua Tăng, nhớ giữ cái đầu luôn luôn thẳng đứng, đừng nghiêng đầu qua nghiêng đầu lại)
- Đưa ấn Tý xuống đặt giữa ngực, cúi đầu và niệm :
  . Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
  . Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
  . Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ
  . Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
  . Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
            - Đưa ấn Tý lên giữa trán cầu nguyện Đức Chí Tôn.
- Lạy xuống lần thứ nhứt, nhớ hai bàn tay mở ra úp xuống, hai ngón cái gác tréo nhau (Hình 5), đầu gật xuống : 
      . gật thứ 1 niệm :
Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
      . gật thứ 2 : cũng niệm y như vậy.
      . gật thứ 3 : cũng niệm y như vậy.
      . gật thứ 4 : cũng niệm y như vậy.
  Xong rồi cất mình lên, vẫn quì.
- Lạy xuống lần thứ nhì, lần lượt gật 4 gật, mỗi gật cũng niệm câu Chú của Thầy y như vậy.
- Lạy xuống lần thứ ba, làm y như lần lạy thứ nhì.
Như vậy, có 3 lần lạy (tức là lạy 3 lạy), mỗi lạy gật đầu 4 gật, mỗi gật niệm “Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”. Câu niệm đó gọi là câu Chú của Thầy. Tổng cộng lạy 3 lạy, 12 gật, 12 lần niệm.
Lạy xong, đứng dậy, xá sâu xuống 3 xá.
Nếu nơi Thánh Thất thì có bàn thờ Đức Hộ Pháp, phải quay lại, xá chữ KHÍ 1 xá.
Nếu không phải nơi Thánh Thất, không có bàn thờ Đức Hộ Pháp và chữ KHÍ thì khỏi quay lại xá. Xong lui ra.
Thật ra, phải lạy Đức Chí Tôn 12 lạy, nhưng Đức Chí Tôn ân xá, chỉ cho lạy 3 lạy và 12 gật, mỗi gật thay thế một lạy.  Số 12 là số riêng đặc biệt của Đức Chí Tôn.
Lưu ý : Nhận thấy có một vài vị, khi lạy xong, cất mình lên, rút tay bắt ấn Tý đặt lên ngực, lại xá nhỏ xuống một cái. Cái xá nhỏ nầy thừa.

2.- Cách lạy Đức Phật Mẫu :
Khi đến Điện Thờ Phật Mẫu, chúng ta vào chánh điện, đứng thẳng người hướng vào bàn thờ Đức Phật Mẫu, tay bắt ấn Tý, xá sâu 3 xá vừa cúi đầu, rồi quì xuống.
. Đưa ấn Tý lên trán, xá sâu xuống một xá, vừa xá  vừa niệm : Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
. Rút ấn Tý đặt trở lên ngực, rồi đưa lên trán, xá sâu xuống lần thứ nhì, vừa xá vừa niệm :
      Nam mô Cửu vị Tiên Nương.
. Xá sâu xuống lần thứ ba, vừa xá vừa niệm :
      Nam mô Bạch Vân Động chư Thánh.
. Đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện với Đức Phật Mẫu. . Lạy xuống 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm : 
     Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
Như vậy, lạy 3 lạy, 9 gật, 9 lần niệm danh hiệu của Đức Phật Mẫu.
Lạy xong đứng dậy, xá 3 xá, day ngược ra sau, xá cái phông màu trắng 1 xá. Cái phông ấy tượng trưng Khí Sanh quang mà Đức Phật Mẫu dùng để nuôi sống chúng ta. Xá xong lui ra.

3.- Cách lạy Tiên, Phật :
Trước khi lạy, vào đứng, bắt ấn Tý, xá 3 xá, rồi quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 3 lạy, mỗi lạy gật 3 gật, mỗi gật niệm danh hiệu của Đấng ấy.
Thí dụ : Lạy Đức Phật Thích Ca thì niệm : Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.
Lạy Cửu vị Tiên Nương thì niệm : Nam mô Cửu vị Tiên Nương.

4.- Cách lạy Thần, Thánh :
Trước khi lạy, vào đứng, bắt ấn Tý, xá 3 xá, rồi quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 3 lạy trơn (không gật), mỗi lạy  niệm danh hiệu của Đấng ấy.
Thí dụ : Lạy Bạch Vân Động chư Thánh thì mỗi lạy  niệm : Nam mô Bạch Vân Động chư Thánh.
Lạy Thần Hoàng Bổn Cảnh thì mỗi lạy niệm : Nam mô Thần Hoàng Bổn Cảnh.

5.- Cách lạy Cửu Huyền Thất Tổ :
Giống y như lạy Thần, Thánh, nghĩa là 3 lạy trơn, mỗi lạy niệm : Nam mô Cửu Huyền Thất Tổ.

6.- Cách lạy Vong phàm :
Vong phàm là vong linh của người phàm tục.
Người phàm tục là người chưa giác ngộ lẽ đạo, chưa có tín ngưỡng Trời Phật hay tôn giáo, chưa tin tưởng con người có một linh hồn bất diệt.
Trong PCT Chú Giải, phần Quyền hành của Chánh Phối Sư, người phàm tục được định nghĩa như sau :
PCT : “ Kẻ ngoại giáo, Tả đạo Bàng môn, người vô đạo, riêng nắm quyền hành thế tục, nghịch cùng chơn lý chánh truyền, mượn thế lực phàm tục mà diệt lành dưỡng dữ, mê hoặc nhơn sanh, lưu luyến trần thế, trên không biết Trời, dưới không kỉnh Đất, lấy người làm lợi khí đặng vụ tất công danh, quyền quyền thế thế, chẳng kiêng nể luân hồi, ham vật chất hơn tinh thần, lấy vinh hoa của kiếp sanh làm sở nguyện, như thú vật, cây cỏ, sắt đá, chỉ biết sống mà không biết sống làm gì, còn không hay, mà mất cũng không biết. Ấy là hạng phàm, gọi là đời đó vậy. 
Lạy Vong phàm gồm 4 lạy : 2 lạy quì và 2 lạy đứng, thực hành như sau :
Trước khi lạy, vào đứng, hai tay bắt ấn Tý, xá 3 xá.
Quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 2 lạy trơn (không gật).
Hai lạy quì  ý nghĩa là 1 lạy kính Thiên và 1 lạy kính Địa.
Xong rồi đứng lên, tay vẫn bắt ấn Tý, cúi mình lạy xuống theo lối phủ phục, chống đầu gối đứng dậy, rồi lạy xuống như vậy một lần nữa. Đó là 2 lạy đứng dành cho phần người, ý nghĩa là 1 lạy Âm và 1 lạy Dương. Xong thì xá 1 xá rồi  lui ra.

7.- Cách lạy Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu đã qui liễu :
Cách lạy tùy theo phẩm tước của vị Chức sắc ấy đối phẩm với hàng nào trong Cửu phẩm Thần Tiên.
a) Chức sắc đối phẩm Phật vị và Tiên vị : gồm  Đức Giáo Tông, Đức Chưởng Pháp, Nam Đầu Sư, Nữ Đầu Sư, Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh, Thập nhị Thời Quân.
Lạy theo cách lạy Tiên, Phật, nghĩa là 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm danh của Chức sắc ấy.
Thí dụ : Lạy Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung thì niệm : Nam mô Đức Quyền Giáo Tông.
(Ở đây không dùng Thánh danh Thượng Trung Nhựt vì Thánh danh nầy là của phẩm Đầu Sư).
Lạy Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu thì niệm : Nam mô Nữ Đầu Sư Hương Hiếu.
Lạy Đức Phạm Hộ Pháp thì niệm : Nam mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.
Lạy Đức Cao Thượng Phẩm thì niệm : Nam mô Đức Cao Thượng Phẩm.
Lạy Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa thì niệm : Nam mô Trần Khai Pháp Chơn Quân. . . . . vv . . .

b) Chức sắc đối phẩm Thánh vị :
Đối phẩm hàng Thánh vị gồm các phẩm Chức sắc :
- Bên Cửu Trùng Đài, từ Chánh Phối Sư đổ xuống tới hàng Giáo Hữu,
- Bên Hiệp Thiên Đài, từ phẩm Tiếp Dẫn Đạo Nhơn đổ xuống tới Truyền Trạng,
- Bên Cơ Quan Phước Thiện thì từ phẩm Thánh Nhơn đổ xuống tới phẩm Chí Thiện,
- Và các phẩm Chức sắc tương đương trong các cơ quan khác của Đạo như : Bộ Nhạc, Ban Kiến Trúc, Ban Nhà Thuyền, Ban Thế Đạo, vv . . .  (Xem Bảng Đối phẩm nơi cuối Chương Phước Thiện)
Cách lạy giống y như lạy Thánh, nghĩa là 3 lạy trơn, mỗi lạy niệm phẩm tước và Thánh danh của vị ấy, nếu không có Thánh danh thì niệm Thế danh.

          c) Lễ Sanh, Chức việc Bàn Trị Sự và Đạo hữu :
- Lễ Sanh và các phẩm Chức sắc tương đương được đối phẩm Thiên Thần, nên khi qui liễu, được lạy theo hàng Thần vị, nghĩa là 3 lạy trơn.
- Chức việc BTS gồm : Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự làm tròn nhiệm vụ thì được đối phẩm Nhơn Thần; Đạo hữu giữ tròn bổn phận và ăn đủ 10 ngày chay mỗi tháng được đối phẩm Địa Thần; các phẩm nầy và các phẩm tương đương khi qui liễu thì được lạy theo hàng Thần vị : 3 lạy trơn.
Điều nầy rất hợp lý, vì theo PCT : Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự đối phẩm Nhơn Thần; Đạo hữu đối phẩm Địa Thần, nên các phẩm nầy đều thuộc Thần vị.
Nếu cho rằng các phẩm nầy khi qui liễu là Vong phàm thì trái với PCT, hơn nữa 3 phẩm Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự là Hội Thánh Em (Đầu Sư Em, Giáo Tông Em, Hộ Pháp Em), thay mặt Hội Thánh Anh, cầm quyền hành đạo nơi hương đạo thì không thể xem là Vong phàm được.
PCT : (Đoạn nầy trích trong Quyền hành Chánh Phối Sư)
“ Trong Cửu Trùng Đài có Đầu Sư thì đối với phẩm Địa Tiên; Chưởng Pháp thì đối với phẩm Nhơn Tiên; Giáo Tông thì đối với phẩm Thiên Tiên; Tam Trấn Oai Nghiêm thay quyền Phật vị tại thế nầy. Ấy vậy, các Đấng ấy đối phẩm cùng các Đấng Trọn lành của Bát Quái Đài.
            Giáo Tông giao quyền cho Đầu Sư, Đầu Sư lại phân quyền cho Chánh Phối Sư (Hay !) lập Đạo đặng độ rỗi nhơn sanh; cũng như Hộ Pháp giao quyền cho Thượng Sanh và Thượng Phẩm.
            Còn Chánh Phối Sư và Phối Sư đối phẩm Thiên Thánh;  Giáo Sư đối phẩm Nhơn Thánh; Giáo Hữu đối phẩm Địa Thánh; Lễ Sanh đối phẩm Thiên Thần; Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự đối phẩmNhơn Thần, chư Tín đồ đối phẩm Địa Thần(Hay !)
            Ấy vậy, các vị  ấy đối phẩm vào hàng Thánh của Bát Quái Đài là cầm quyền lập Đạo.”

d) Chức sắc và Đạo hữu thất thệ, làm đám tang theo cách Bạt tiến :
Trong trường hợp nầy, dầu ở phẩm cấp nào, chúng ta  cũng lạy theo hàng Vong phàm, nghĩa là 2 lạy quì và 2 lạy đứng.

8.-  Lạy người sống :
Khi con cháu lạy cha mẹ hoặc ông bà còn sống, hay trò lạy thầy còn sống, thì đứng hướng vào vị đó, chấp hai tay ấn Tý, xá 1 xá, rồi lạy 2 lạy đứng theo lối phủ phục, lạy xong xá 1 xá.
Chúng ta nhớ, trong tất cả cách lạy thời ĐĐTKPĐ, hai tay phải bắt ấn Tý, vì ấn Tý là ấn của ĐĐTKPĐ.
Top of Page



Tại sao có 3 thời kỳ phổ độ ? 
Bởi vì từ khi xuất hiện loài người trên mặt địa cầu nầy, Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu cho 100 ức nguyên nhân giáng trần để khai hóa nhơn loại. (1 ức = 100 000)
Số nguyên nhân ấy khi sống nơi cõi trần, ăn thực phẩm của cõi trần nên bị qui phàm, không thể trở về được với Chí Tôn và Phật Mẫu. Đức Chí Tôn thương xót, mở ra Nhứt Kỳ Phổ Độ để cứu độ các nguyên nhân nầy.
* Các tôn giáo lớn thuộc Nhứt Kỳ Phổ Độ mở ra vào thời thái cổ gồm :
- Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ.
- Brahma Phật mở đạo Bà La Môn ở Ấn Độ.
- Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung hoa.
- Vua Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung hoa.
- Thánh Moïse mở Do Thái giáo ở nước Do Thái.
Các tôn giáo nầy chỉ cứu độ được 6 ức nguyên nhân, nên vẫn còn 94 ức nguyên nhân bị đọa trần.
Đức Chí Tôn lại thương xót, nên mở ra Nhị Kỳ Phổ Độ để tiếp tục cứu độ các nguyên nhân còn lại.
** Các tôn giáo lớn thuộc Nhị Kỳ Phổ Độ mở ra vào thời thượng cổ, gồm :
- Phật Thích Ca mở Phật giáo ở Ấn Độ.
- Lão Tử mở Tiên giáo ở Trung hoa.
- Khổng Tử chấn hưng Nho giáo ở Trung hoa.
- Chúa Jésus mở Thiên Chúa giáo ở Do Thái.
Các tôn giáo kỳ nầy cứu độ được 2 ức nguyên nhân.
Như vậy, số nguyên nhân còn bị đọa trần là 92 ức.
*** Đức Chí Tôn mở lòng đại từ đại bi lần chót, khai Tam Kỳ Phổ Độ tại nước Việt Nam, gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Đạo Cao Đài, kéo dài 700 ngàn năm, để tận độ  92 ức nguyên nhân còn bị đọa trần.

Đây là lần cứu độ chót, nếu các nguyên nhân không giác ngộ tu hành, không trở về được cõi TLHS thì không còn kêu ca hay trách móc vào đâu được nữa.

ĂN CHAY





1. Định nghĩa :
Ăn chay là ăn các loại thực phẩm phát xuất từ thảo mộc hay được chế biến từ thảo mộc.
Thí dụ : Ăn các loại rau cải, hoa quả, củ đậu, tàu hủ, tương chao, các loại nấm, vv . . .
Trái với Ăn chay là Ăn mặn.
Ăn mặn là ăn các loại thực phẩm phát xuất từ động vật hay được chế biến từ động vật. Động vật là nói chung các loài vật cử động : bò, bay, máy, cựa.
Thí dụ : Ăn thịt heo, gà vịt, bò, cá, tôm, cua, ba tê, lạp xưởng, hột vịt lộn, cá mòi hộp, vv . . . . .

2. Trai kỳ :
Chữ “chay” do chữ Hán là “trai” nói trại ra. Trai có nghĩa là trong sạch, thanh tịnh. 
Trai kỳ là ăn chay kỳ, tức là ăn chay một số ngày nhứt định trong mỗi tháng âm lịch, những ngày còn lại thì được ăn mặn.
Có hai loại trai kỳ : Lục trai và Thập trai.
Lục trai là ăn chay mỗi tháng 6 ngày, đạo Tiên gọi là Nguơn Thủy Lục trai, do Đức Nguơn Thủy lập ra.
Sáu ngày chay qui định trong tháng âm lịch là :
               1,  8,  14,  15,  23,  30.
Nếu tháng âm lịch thiếu, không có ngày 30 thì ăn chay ngày 29 thế vào cho đủ 6 ngày chay.
Thập trai là ăn chay mỗi tháng 10 ngày, đạo Phật gọi là Chuẩn Đề Thập trai, do Đức Phật Chuẩn Đề lập ra.
Mười ngày chay qui định trong tháng âm lịch là :
      1,  8,  14,  15,  18,  23,  24,  28,  29,  30.
Nếu tháng âm lịch thiếu, không có ngày 30 thì ăn chay ngày 27 thế vào cho đủ số 10 ngày chay.

3. Trường trai :
Trường trai là ăn chay trường, tức là ăn chay hoài từ ngày nầy qua ngày khác (không có ngày nào ăn mặn).
Theo Tân Luật, các tín đồ còn trong cấp Hạ thừa thì ăn chay kỳ tức là ăn 6 ngày hoặc 10 ngày trong tháng; còn các tín đồ trong bực Thượng thừa thì ăn chay trường.

Trong bực Hạ thừa, ăn chay 6 ngày trong một tháng là giai đoạn tập sự để cho quen dần với việc ăn chay, không nên giữ hoài như vậy, mà sau đó phải ráng tiến lên ăn chay 10 ngày trong một tháng thì mới được nhìn nhận là tín đồ thiệt thọ chánh thức của Đạo Cao Đài, mới thọ hưởng được các bửu pháp khi qui liễu, tức là các phép bí tích độ hồn trong cơ tận độ của Đức Chí Tôn; nếu còn ăn chay 6 ngày trong một tháng thì không hưởng được những điều nầy và tang lễ chỉ làm bạt tiến mà thôi.
(Làm bạt tiến là làm lễ đề cử dâng lên các Đấng thiêng liêng xin cứu giúp vong hồn cho được siêu thăng). (Xem Chương chót : Tang lễ)
Hai bực tín đồ : 10 ngày chay và 6 ngày chay trong một tháng, chỉ khác nhau có 4 ngày chay, mà quyền lợi trong Đạo rất khác biệt nhau. Chúng ta rất nên lưu ý.
Ăn chay nửa năm : Đối với người ăn chay 10 ngày trong một tháng, nếu ăn chay thêm 3 tháng có rằm lớn trong 1 năm (tức là tháng giêng, tháng 7 và tháng 10) thì tổng cộng ăn chay được nửa năm trong một năm.
(Ăn chay luôn 3 tháng thì được 90 ngày, còn lại 9 tháng, ăn chay mỗi tháng 10 ngày thì được 90 ngày. Tổng cộng ăn chay được : 90 ngày + 90 ngày = 180 ngày, tức là nửa năm). 

 4. Ngũ vị tân còn gọi là Ngũ huân :
Ngũ vị tân là 5 thứ có vị cay nồng và mùi hôi. (Tân là cay). Ngũ vị tân gồm : hành, hẹ, tỏi, kiệu, nén.
Bên Phật giáo, khi ăn chay thì cữ Ngũ vị tân.
Tu theo Tiên giáo, khi ăn chay, không kiêng cữ các thứ nầy, hễ là thảo mộc thì được ăn.
Trong Thánh Ngôn Sưu Tập, Quyển 1, đàn cơ ngày 16-1-1926, ông Quí Cao giáng cơ gọi Ngũ vị tân là Ngũ kỵ, tức là 5 thứ cấm kỵ không cho ăn đối với Phật giáo.
Ông Quí Cao viết rằng : 
“ Ngũ kỵ là : hành, tỏi, sả, ớt, tiêu.
Theo Phật giáo thì kỵ, Tiên giáo thì không.
Phật vì tích Mục Liên Thanh Đề  gọi là uế vật, là phi.
Tiên đạo cho dùng các thảo mộc, chẳng kỵ vật chi.”
Trong quyển sách Thiên Đạo của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu có viết về việc nầy như sau :
“ Trong Trời Đất không có chi là tuyệt đối, thì sự ăn chay tất nhiên cũng không nên tuyệt đối.
Cái nguyên tắc của sự ăn chay là ăn toàn những chất thuộc thảo mộc, thì năm thứ : hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu, gọi là Ngũ huân, vẫn là thảo mộc.
Có cữ chăng là những bậc công cao quả dày, tham thiền nhập định, vì nó có tính cách kích thích và thương tổn tinh thần.
Người mới học đạo cần phải lao động trong trường công quả thì chưa buộc phải kiêng cữ, nhưng ai kiêng cữ được cũng nên.
Vậy, việc ăn chay cũng như việc tu hành, không nên thái quá mà cũng không nên bất cập.”

        5. Người ăn chay trường có phải cữ trầu thuốc không ?
Để giải đáp vấn đề nầy, chúng ta phân bực tu Thượng thừa ra hai nhóm :
1.- Các Chức sắc còn nhiệm vụ phổ độ nhơn sanh.
Nhóm nầy hoạt động gần gũi với nhơn sanh, đi đứng nhiều, giao tiếp nhiều, nên Tân Luật không bắt buộc phải cữ Ngũ vị tân và không cấm ăn trầu hút thuốc. Tuy nhiên, nên cữ Ngũ vị tân vì cái hại của nó là làm cho tánh của mình thêm nóng nảy, cũng như cần phải cữ ăn trầu và hút thuốc vì nó gây thêm phiền toái và làm hại sức khỏe. Đã là Chức sắc của Hội Thánh thì nên kiêng cữ các thứ kể trên để làm gương tốt cho nhơn sanh.
2.- Nhóm tu thượng thừa luyện đạo trong Tịnh Thất.
Trong Tân Luật, phần Tịnh Thất, điều thứ 6 có ghi:
“ Nhập Tịnh Thất rồi phải tuyệt trầu thuốc và không được ăn vật chi ngoài mấy bữa cơm.”
Ngũ vị tân làm cho linh hồn yếu ớt; ăn trầu, hút thuốc thì hại kim đơn. Hành giả tu thiền định, luyện đạo cần phải kiêng cữ tuyệt đối các thứ kể trên.
Top of Page



1. Ăn chay thì giữ được Ngũ Giới Cấm dễ dàng.
Ngũ Giới Cấm là giới luật rất quan trọng đối với người tu ở bực thượng thừa. Không giữ tròn Ngũ Giới Cấm thì không thể đắc đạo được.
Người ăn chay trường thì giữ được Ngũ Giới Cấm dễ dàng, vì :
- Ăn chay trường thì tránh được sát sanh trong sự ăn uống. Đã không nỡ giết hại sanh vật để ăn thịt thì cũng đâu nỡ giết chúng để làm trò chơi. (Bất sát sanh)
- Hễ không ăn thịt thì cũng dễ cữ rượu, vì rượu thịt luôn luôn đi kèm nhau như bóng với hình. (Bất tửu nhục)
- Không ăn thịt uống rượu thì lòng dục lắng xuống, nên không nghĩ đến tà dâm, phá hại gia cang của người. (Bất tà dâm)
- Nhờ ăn chay trường mà lòng tham vật chất không có cơ hội nẩy nở. Đã tu rồi thì còn cầu chi tiền tài, của cải, vì khi chết, linh hồn đâu có đem theo được các thứ đó, chỉ đem theo công đức và tội lỗi mà thôi. Do đó việc trộm cướp hay gian lận tài vật rất ít khi xảy ra. (Bất du đạo)
- Nhờ ăn chay trường mà tâm hồn trở nên thanh cao, tránh được việc nói dối lường gạt người, gây đau khổ cho người mà đem lợi lộc về cho mình. (Bất vọng ngữ)

        2. Ăn chay để thanh lọc bản thể, tinh khiết chơn thần:
Những thức ăn mặn là huyết nhục của các loài động vật nên chỉ bổ dưỡng cho thể xác con người, vì thể xác con người cũng là huyết nhục.
Các thức ăn chay là rau đậu, trái cây, ngũ cốc; các thứ nầy nhờ hấp thụ trực tiếp ánh sáng mặt trời, dưỡng khí, đạm khí của không khí, lại hấp thụ các chất khoáng trong lòng đất, nên các thức ăn chay có hai tác dụng bổ dưỡng :
- Bổ dưỡng xác thân nhờ những chất khoáng hấp thu trong đất và đạm khí  trong không khí.
- Bổ dưỡng chơn thần nhờ hấp thu ánh sáng và dưỡng khí.
Như thế, chúng ta phải nhận rằng, với chế độ ăn chay đầy đủ gồm nhiều rau đậu và trái cây, ăn chay rất tốt so với ăn mặn, vì nó bổ dưỡng cả thể xác và chơn thần.
Người ăn chay trường lâu năm tạo được vừng hào quang trong sáng nơi đỉnh đầu, chơn thần cũng được trong sáng, tinh tấn, nên nhẹ nhàng hơn không khí. Đến kỳ thoát xác, chơn thần xuất ra khỏi thể xác một cách dễ dàng và bay khỏi bầu không khí đến các cõi thiêng liêng.
Người ăn mặn thì chơn thần mờ tối, trọng trược, vì ăn huyết nhục của thú cầm, nên nặng nề, không thể bay thoát khỏi bầu khí quyển được.
Thánh ngôn của Đức Chí Tôn dạy rõ rằng :
“ Nó (chơn thần) vẫn là chất tức hiệp với không khí Tiên Thiên, mà trong khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái chơn thần buộc phải tinh tấn, trong sạch, mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi ngoài càn khôn đặng.
Nó phải có bổn nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật, mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng.
Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất chơn thần tinh khiết.
Nếu như các con còn ăn mặn, luyện đạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng. Như rủi bị huờn thì đến khi đắc đạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển, thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt.
Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhơn Tiên  thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn.
Vì vậy mà Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện đạo.”  (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 20)

Bát Nương giáng cơ giải về cõi Âm Quang, cho biết : Muốn qua khỏi cửa Âm Quang thì phải ăn chay trường.
.
“ Ấy là một cái quan ải, các chơn hồn khi qui Thiên, phải đi ngang qua đó. Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy.” (TNHT1-2 hợp nhứt, B 159) 

3. Ăn chay là luyện tập Bi, Trí, Dũng :
- Loài vật nào cũng biết ham sống sợ chết như người, biết chỗ nguy hiểm thì tránh né hay trốn chạy để bảo tồn sự sống. Khi sắp bị giết chết, chúng biết sợ sệt và rên la đau đớn. Không giết hại chúng nó để ăn thịt là thể hiện lòng thương yêu, đức tánh từ bi. Do vậy, việc ăn chay là để tập cho tánh  BI  càng ngày càng phát triển.
- Khi ăn chay, chúng ta mới sáng suốt nhận định rằng, loài thú vật cũng được Thượng Đế ban cho nó sự sống như con người, nó chỉ là đàn em kém tiến hóa hơn con người mà thôi. Sau nhiều lần chuyển kiếp, chúng nó cũng sẽ tiến hóa lên thành người như chúng ta. Do đó, không giết hại chúng là để phát triển đức tánh sáng suốt trong con người chúng ta, tức là phát triển thể  TRÍ.
- Trước sự hấp dẫn của các món rượu thịt thơm ngon, cũng như sự mời mọc nài ép của bạn bè, ta can đảm từ khước, tức là ta có hùng tâm dũng chí, không để dục vọng thấp kém lôi kéo. Như vậy, ta có được cái  DŨNG.
Vậy, sự ăn chay là để phát triển ba đức tánh : BI, TRÍ, DŨNG trong con người chúng ta, để cuối cùng, ba đức tánh ấy phát triển rực rỡ cao tột thì đắc thành Tiên Phật.

4.  Ăn chay là để tránh quả báo luân hồi :
Việc giết hại mạng sống của con vật tạo thành một ác nghiệp. Sau nầy, hồn của con vật ấy sẽ đòi chúng ta phải trả món nợ sát mạng đó, và theo luật công bình thiêng liêng, chúng ta phải luân hồi tái kiếp để đền trả mối nợ oan nghiệt ấy.
Còn  việc  ăn  chay, tuy cũng có giết hại mạng sống loài thảo mộc, nhưng tội nầy nhẹ hơn nhiều so với việc giết hại thú vật, vì loài thảo mộc kém tiến hóa rất nhiều so với thú cầm.
Hơn nữa, việc sát hại thảo mộc để nuôi sống xác thân của chúng ta, được chúng ta đền trả lại bằng xác thân của chúng ta khi chết.  Khi chết, xác thân của chúng ta được vùi chôn trong lòng đất, rồi dần dần sẽ tan rã thành những chất bổ dưỡng nuôi sống thảo mộc. Khi sống thì ta ăn thảo mộc, khi chết thì thảo mộc ăn lại xác thân ta. Thế là hòa, không ai nợ ai. Như vậy, việc ăn chay giúp chúng ta không mắc nợ oan nghiệt, mà không mắc nợ oan nghiệt thì thoát khỏi luân hồi.

5. Ăn chay để kềm chế Lục dục Thất tình :
Ăn chay, ăn những thức ăn thanh đạm, không chứa máu thịt của loài động vật, nên làm dịu bớt bầu máu nóng trong người, dục vọng nhờ đó cũng giảm bớt cường điệu.
Lục dục Thất tình lúc nào cũng đòi hỏi xác thân làm cho nó thỏa mãn, nhưng nhờ ăn chay, chúng ta  kềm chế được nó, rèn luyện nó hướng tới mục đích thanh cao.
Thay vì chúng ta muốn giết một con gà để làm thành món ăn khoái khẩu, chúng ta nên lấy thức ăn thích hợp của gà rải cho nó ăn, để chúng ta nhìn nó đang sung sướng vui vẻ vì khoái khẩu. Chúng ta nhìn cái vui và cái sung sướng của con gà để chúng ta có được cái vui mừng cao thượng của kẻ ban ơn.
Top of Page



1.-)  Ăn tôm, cua, sò, ốc được kể là ăn chay không ?
Ăn tôm cua sò ốc, tức là ăn thịt các loài động vật. Chúng nó cũng có sanh mạng và sự sống. Phải bắt giết chúng nó thì mới ăn thịt được, rõ ràng ta phạm tội sát sanh, nên ăn tôm cua sò ốc dứt khoát không phải là ăn chay, mà đó là ăn mặn. Có người còn ngụy biện nói rằng vì chúng nó có máu trắng. Dù máu trắng nhưng chúng nó là loài động vật có tri giác, biết tìm thức ăn, biết chống cự hay trốn chạy ẩn núp khi mạng sống của chúng bị đe dọa.

           2.-) Ăn chay có được dùng bơ, sữa, mật ong, trứng gà không?
Về bơ (beurre) và phô-ma (fromage), ta phân biệt hai loại : Bơ thực vật (beurre végétale) và Bơ động vật (beurre animale).
- Bơ thực vật làm bằng các chất béo của thực vật như đậu phộng, dừa, trái bơ; sữa thực vật như sữa đậu nành, sữa đậu phọng . . . Bơ và sữa thực vật là thức ăn chay hoàn toàn, người ăn chay trường dùng rất tốt.
- Bơ động vật và phô-ma là hai loại được chế tạo từ sữa bò, sữa trâu. Dùng các thứ nầy không mang tội sát sanh, nên người ăn chay trường có thể dùng các thứ đó làm thức ăn chay. Tuy nhiên về phương diện thanh và trược thì bơ, phô-ma và sữa động vật có tính chất trược hơn các thức ăn thảo mộc.
Do đó, bên Phật giáo vẫn cho phép dùng bơ và sữa động vật làm món ăn chay.
Nó có nguyên nhân xa xưa là lúc Thái tử Sĩ-Đạt-Ta từ bỏ lối tu khổ hạnh, chuyển qua lối tu trung đạo, Ngài kiệt sức, bất tỉnh, nằm chết giấc dựa cội cây bồ đề. Có một thiện nữ được báo mộng trước, hôm ấy chuẩn bị bình bát sữa tìm đến cội bồ đề, cúng dường cho Phật. Khi Phật tỉnh lại, Phật cầm bình bát sữa uống cạn, nhờ vậy, Phật dần dần phục hồi sức khỏe.
. Về mật ong :
Mật ong do các con ong hút mật hoa hay hút chất đường rồi dùng nước miếng của nó tạo thành. Mật ong là thực phẩm hoàn toàn chay, rất bổ dưỡng, dùng cho người ăn chay trường rất tốt.
-  Về trứng  gà, trứng vịt, trứng cút :
Nếu các loại trứng có trống, tức là có chứa sẵn một mầm sống trong đó, để theo thời gian sẽ phát triển thành một sinh vật mới, khi dùng chúng làm thức ăn, tức là chúng ta sát hại mầm sống ấy, ắt phạm tội sát sanh.
Nếu trứng không trống, khi ta dùng thì không phạm tội sát sanh. Tuy vậy, trứng vẫn là chất trược, không làm cho chơn thần chúng ta trong sáng và thanh nhẹ, nên cần phải cẩn thận, không nên lạm dụng, tốt nhứt là không nên dùng.

Đối với những vị đang lập công trong trường thi công quả, việc ăn chay trường không nên quá bảo thủ khắt khe, nhứt là những khi đau ốm, cần phải phục hồi sức khỏe mau chóng để lo làm công quả, thì việc dùng thêm các loại bơ, sữa động vật, hay các loại trứng không trống, là một điều có thể thông cảm được vì không phạm giới sát sanh, nhưng chúng ta vẫn nhớ rằng các thức ăn ấy có chất trược, không tốt cho chơn thần.
Một điều mà chúng ta cần lưu ý là việc ăn chay là hành động tự giác tự nguyện vì lợi ích cho bản thân của chúng ta, chớ không phải lợi ích cho Đức Chí Tôn hay Phật Mẫu.
.
3)  Ăn chay trường có thành Tiên, Phật không ?
Nếu chỉ có ăn chay trường mà không làm công quả thì không thể thành Tiên, Phật đặng. Người ăn chay trường ấy, khi chết, chơn thần và linh hồn được trong sạch nhẹ nhàng, được siêu thăng lên các cõi Trời, hưởng sự an nhàn, nhưng không có ngôi vị là Tiên, hay Phật.
Muốn thành Tiên, Phật thì buộc phải có công quả.
“ Người dưới thế nầy muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của. Ấy là về phần xác thịt. Còn Thần, Thánh, Tiên, Phật, muốn cho đắc đạo phải có công quả. Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo.” (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 17)
Muốn có công đức thì phải làm công quả.
Việc ăn chay trường chỉ tạo được chơn thần trong sáng, làm công quả mới đắc thành Tiên,  Phật.
Nhưng ngược lại, nếu có đầy đủ công quả mà không ăn chay trường thì cũng không thể thành Tiên, Phật được, vì chơn thần trọng trược không thể bay khỏi bầu khí quyển mà lên cõi thiêng liêng. Hơn nữa, vì ăn mặn nên còn bị linh hồn các con vật đòi các món nợ oan nghiệt, nên chúng nó buộc chặt chơn thần người đó không cho bay lên cõi TLHS.
Cho nên, muốn đắc thành Tiên Phật thì phải có đủ hai điều kiện : 1.- Đầy đủ công quả.  2.- Ăn chay trường. 

4)  Ăn chay thì thanh, ăn mặn thì trược, tại sao ?
Có nhiều nguyên do, kể ra sau đây :
a.- Về cấp tiến hóa : Thảo mộc ở cấp tiến hóa thấp hơn động vật, chỉ có Sanh hồn; còn động vật thì ở cấp tiến hóa cao hơn, có được hai phần hồn là : Sanh hồn và Giác hồn. Do đó, loài động vật khi đau đớn biết rên la, khi sợ hãi biết chạy trốn.
b.- Về sự sinh sản và di truyền nòi giống : Loài thảo mộc có nhị đực và nhị cái ở trong cùng một cái hoa hay trên cùng một thân cây, nhờ ong bướm hay gió thổi mà nhị đực rơi vào nhị cái, kết thành trái và hột để di truyền nòi giống.
Loài động vật thì con đực và con cái là hai thân thể khác nhau, chúng có lòng dục nên tìm gặp nhau  giao phối, để sanh sản. Khi sanh sản thì máu huyết tiết ra dơ dáy.
Do đó, loài động vật thuộc Hậu Thiên Cơ ngẫu nên trọng trược, còn loài thảo mộc thuộc Tiên Thiên Cơ ngẫu nên thanh nhẹ.
c.- Về sự sinh sống : Loài thảo mộc sống nhờ hấp thu ánh sáng mặt trời và hấp thu các tinh chất của không khí và của đất, nên thảo mộc chứa nhiều sinh tố và khoáng chất.
Loài động vật sống nhờ ăn thảo mộc hay ăn thịt lẫn nhau, nên thịt của nó chứa ít sinh tố và có chất độc.
Do đó, chúng ta ăn loài thảo mộc thì vừa bổ dưỡng chơn thần vừa bổ dưỡng thể xác, còn ăn thịt thú cầm thì chỉ bổ dưỡng thể xác mà lại làm cho chơn thần  ô trược.
d.- Về tính dẫn điện :
Khi thoát xác, chơn thần của người ăn chay trường thì trong sáng, nhẹ nhàng, bay lên thoát qua lớp không khí dễ dàng; còn chơn thần người ăn mặn thì trọng trược mờ tối, nên không thể bay lên cao được, lại nữa, vì chơn thần trọng trược nên có tính dẫn điện tốt, dễ bị sét đánh tiêu tan khi bay lên cao.

5)  Thảo mộc có mạng sống, nên ăn chay cũng sát sanh, thì hơn ăn mặn chỗ nào ?
Thảo mộc là một loài trong chúng sanh, nó cũng có mạng sống, nhưng mạng sống của nó nhỏ bé hơn mạng sống của thú cầm, vì nó chỉ có một phần hồn là  Sanh hồn, và ở cấp tiến hóa thấp hơn thú cầm. Do đó, việc sát hại thảo mộc ít tội tình oan nghiệt hơn sát hại thú cầm.
            Vả lại, muôn loài vạn vật phải ăn mà sống. Để giải quyết cái ăn nầy, Thượng Đế dùng “ Vạn linh phụng sự Vạn linh”, tức là dùng loài sanh vật nầy làm thực phẩm nuôi sống loài sanh vật kia, và loài sanh vật nào bị hy sinh nhiều nhất thì lại sanh hóa nhiều nhất để quân bình cuộc sống trong CKVT.
Thảo mộc và ngũ cốc là hai thứ sanh vật mà Thượng Đế dành để nuôi sống con người, nên cấu tạo cơ thể của con người không có móng vuốt và không có răng bén nhọn chơm chởm. Nếu con người ăn thịt thú cầm là do dục vọng muốn tìm khẩu vị khác lạ mà thôi.
Vậy con người ăn thảo mộc là thuận Thiên ý, nhờ đó con người mới tiến hóa nhanh. Còn ăn thịt động vật là do dục vọng của con người bày đặt thêm ra, trái với Thiên ý, nên nó trì kéo con người chậm bước tiến hóa.
Việc sát hại sanh mạng của con thú để làm thức ăn nuôi sống thân ta tạo thành một oan nghiệt. Hồn con thú ấy chờ khi ta chết, sẽ đến đòi mạng và kéo níu chơn thần chúng ta không cho siêu thăng về cõi thiêng liêng.
Còn việc sát hại loài thảo mộc để làm thức ăn nuôi sống thân ta, thì ta sẽ lấy xác thân ta khi chết để làm thức ăn cho thảo mộc, sự vay trả như thế là đồng đều, nên không tạo ra oan nghiệt.

       6) Ăn chay có được phép ăn bù vào ngày khác không?
Hôm nay là ngày mùng 8 nhằm ngày ăn chay, nhưng vì tiệc tùng với người đời hay vì bạn bè nài ép, nên ăn mặn, rồi qua ngày hôm sau, ăn chay bù trở lại.  Việc đó thế nào ?
Chúng ta thấy rõ người ấy có tinh thần muốn ăn chay cho đúng các ngày theo luật định, nhưng vì một lý do vui vẻ nên không ăn được.
Như vậy là mình quá dễ dãi với sự đòi hỏi của xác thân, xem những lời nài ép của bè bạn quan trọng hơn lời Minh thệ giữ gìn Luật Đạo của mình. Đó là một sai lầm.
Việc ăn chay bù là để vớt vát lại nhưng nó chứng tỏ lương tâm mình không thắng nổi sự lôi cuốn của dục vọng thể xác. Thể xác thì thúc đẩy mình ăn uống rượu thịt vui say, mình chiều theo nó là mình yếu kém hơn nó, đầu hàng nó.  Từ sự thua nhỏ dần dần dẫn tới thua lớn, và vật dục sẽ làm trì trệ bước đường tiến hóa của mình, khiến chúng ta phải bị kẹt lại trong thời kỳ Chuyển thế, không kịp bước vào Nguơn Thánh đức.

9) Nhiều người ăn chay mà lời nói còn hung dữ quá ! Hành động còn thâm độc quá ! Tôi không cần ăn chay, miễn tôi làm lành làm phước là đủ rồi.
- Quả đúng như vậy. Nhưng đâu phải vì họ ăn chay mà họ trở nên hung dữ và thâm độc. Chúng ta nên nghĩ rằng : Nếu họ không ăn chay thì họ còn hung dữ và thâm độc hơn gấp bội. Nhờ ăn chay mà họ đã bớt tánh hung dữ nhiều lắm rồi đó.
Họ là người mới tập tễnh bước vào đường tu, hoặc là kẻ giả tu không chừng. Nhưng ta so sánh với họ làm gì ! So sánh với người kém hơn ta thì có ích lợi gì cho sự tiến hóa của ta, của linh hồn ta ? Hay chỉ để thỏa mãn tánh ích kỷ, cống cao ngã mạn của ta ?  Chúng ta muốn dừng lại ở mức tiến hóa nầy, hay muốn tiến hóa cao hơn nữa ?
            Tại sao chúng ta không nhìn lên các bậc chơn tu có đầy đủ đức hạnh ? Chúng ta cần phải học hỏi và bắt chước các vị ấy thì chúng ta mới tiến hóa nhanh được.
            10)  Ăn chay thì lòng phải chay là sao ?
Chay, chữ Hán là “trai” nghĩa là trong sạch. Lòng chay là lòng trong sạch. Đó là lòng biết quí trọng đạo đức, bác ái và công bình. Nếu ăn chay mà lòng không chay, tức là không biết ý nghĩa của việc ăn chay, hay biết mà không tin tưởng, thì không khác chi người không tiền mua cá thịt, đành phải ăn tương rau dưa muối vậy thôi, đâu có ích lợi gì cho đường đạo đức !
Top of Page



1. Sự tích Ngũ vị tân theo Phật giáo :
Bà Thanh Đề là mẹ của ông Mục Kiều Liên, khi đến chùa lễ Phật, không mang theo cúng phẩm nên các vị tăng tiếp khách đón tiếp lạnh nhạt. Trong lúc đó, những vị mang nhiều phẩm vật đến cúng chùa thì được các tăng đón tiếp niềm nở, trà nước đầy đủ. Bà Thanh Đề đem lòng oán giận, nên sau đó, bà làm một mâm bánh bao nhưn thịt mang đến cúng dường thì các tăng thấy vậy ra tiếp đón rất niềm nở, trà nước đầy đủ.
Khi các tăng báo cáo lên Hòa Thượng trụ trì, Hòa Thượng biết rõ sự việc nên cấm nhặt chư tăng không được dùng các bánh bao nầy và phải đem đổ bỏ sau chùa.
Thời gian sau, nơi chỗ đổ các bánh bao nhưn thịtù, mọc lên 5 thứ cây có vị cay nồng và hôi hám. Đó là 5 thứ cây : hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu. Hòa Thượng trụ trì cho đó là uế vật, cấm chư tăng không được dùng làm thức ăn vì chúng kích thích lòng dục và tánh nóng nảy của con người.

2. Tam hồn :
Theo luật tiến hóa của chúng sanh thì :
- Vật chất gồm đất, đá, nước, không khí được Thượng Đế tạo ra trước tiên, sau đó, vật chất tiến hóa lên thành loài thảo mộc, được Thượng Đế ban cho một phần
hồn gọi là Sanh hồn, làm cho thảo mộc có sự sống.
- Kế đó, thảo mộc tiến hóa lên thành loài thú cầm thì Thượng Đế ban thêm cho nó một phần hồn nữa gọi là Giác hồn để tạo cho nó sự hiểu biết và bảo vệ sự sống.
Vậy loài thú cầm đã có được hai phần hồn là : Sanh hồn và Giác hồn.
- Sau cùng, loài thú cầm tiến hóa lên thành người nguyên thủy và được Thượng Đế ban thêm cho một phần hồn nữa gọi là Linh hồn để con người có sự sống, có sự hiểu biết, có sự suy nghĩ và có tánh linh.
Như vậy con người có được Tam hồn gồm : Sanh hồn, Giác hồn  Linh hồn. Linh hồn là quan trọng nhứt vì nhờ nó mà con người linh hơn vạn vật.

3. Tam thể xác thân.
Về phương diện tu hành, trong thân thể của con người có ba thể gọi là Tam thể xác thân.
- Thứ nhứt là thể xác, do cha mẹ phàm trần sanh ra và được nuôi dưỡng bằng thực phẩm phàm trần.
- Thứ nhì là chơn thần, tức là xác thân thiêng liêng, do Đức Phật Mẫu lấy nguyên khí nơi Diêu Trì Cung tạo thành. Chơn thần nầy làm khuôn mẫu cho thể xác và khi xuất ra khỏi thể xác thì lấy hình ảnh của thể xác. Trung tâm của chơn thần là não bộ và cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, đạo gia gọi là Nê hoàn cung.
- Thứ ba là chơn linh hay linh hồn, do Đức Chí Tôn lấy một điểm linh quang của Thái Cực ban cho.

Chơn linh điều khiển chơn thần, chơn thần điều khiển thể xác. Chơn linh không trực tiếp điều khiển thể xác.  

THỜ PHƯỢNG


Khi đã nhập môn vào Đạo,  người tín đồ cần phải lo thiết lập Thiên bàn tại tư gia của mình để thờ phượng Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.
Trước hết phải chọn một chỗ trang trọng và tinh khiết nhứt trong căn nhà của mình để thiết lập Thiên bàn, nhưng cũng nên lưu ý là nơi thiết lập Thiên bàn phải thuận tiện cho việc cúng kiếng của mình. Nếu lập ở nơi cao quá, mỗi lần rót nước đốt nhang cúng phải bắc thang leo lên; hay là ở phố lầu, thiết lập Thiên bàn ở từng lầu cao nhứt, nơi đó rất tinh khiết nhưng mỗi lần cúng phải đi lên mấy từng lầu, thì việc cúng kiếng của mình có phần khó khăn, không được thường xuyên vì bản chất của con người mình với xác phàm vốn thường lười biếng.
Kế đó, chọn mua một cái khánh thờ, bên dưới có đóng bực tam cấp thì rất tốt. Kiểu khánh thờ nầy được


Cách bài trí trên Thiên bàn tại tư gia :

1.  Thánh tượng Thiên nhãn.
4.- Dĩa trái cây. -----  2. - Đèn Thái Cực. ---------   3.- Bình bông.
6 - Tách nước trà. ------ 8, 7, 9 - ba ly rượu. --------   5.- Tách nước trắng.
10 và 11 :  cặp đèn Lưỡng Nghi.
12 :  Lư hương.
            Đó là 12 món bắt buộc phải sắp đủ trên Thiên bàn.
            Phía dưới Thiên bàn đặt : 1 cái mõ và 1 cái chuông.
nhiều người đạo ưa chuộng nên có đóng sẵn để bán nơi các cửa hàng đồ gỗ ở trong vùng có nhiều tín đồ Cao Đài.
Liên lạc với ông Chánh Trị Sự của Hương đạo mình để nhờ ông thỉnh một tấm Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi để thờ. Tấm Thánh tượng nầy do Hội Thánh in ra và được Hội Thánh trấn Thần trước khi phát ra cho bổn đạo thỉnh về thờ tại tư gia.
Cách sắp đặt các món trên Thiên bàn như hình vẽ kế bên.
Không kể chuông và mõ, trên Thiên bàn có tất cả 12 món, sắp đặt theo hình chữ CHỦ (chữ Nho) . Chủ là làm chủ, còn đọc là Chúa : Chủ tể càn khôn vũ trụ, làm Chúa chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
1
4-------2-------3
6-8-7-9-5
10------12------11

Trong Đạo Cao Đài thường dùng số 12 để chỉ những gì thuộc Đức Chí Tôn, vì số 12 là số riêng của Thầy.

Về sự thờ phượng, Đức Chí Tôn dạy như sau :
 “ Phần nhiều trong các con chẳng để lòng thờ kính Thầy, tưởng cho đem thờ Thầy vào nhà là chủ ý cầu một việc lợi riêng chi cho gia quyến vậy thôi, chớ chẳng hiểu là một nguồn trong sạch để rửa các lỗi phàm tục của các con.
Nhiều đứa lại còn mờ hồ, đã thờ Thầy mà chưa chắc ý rằng thờ đặng chi và mở Đạo có ích gì ? Than ôi !  Đã bước chân vào đường đạo hạnh mà chẳng để công tìm kiếm học hỏi cho rõ ngọn nguồn thì làm phận sự môn đệ như thế có ích chi cho nền Thánh giáo đâu ? “ (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 70)
Top of Page

1. Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi : (Xem mục III : Ý nghĩa Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi).

2. Đèn Thái Cực : Đèn Thái Cực tượng trưng ngôi Thái Cực của Đức Chí Tôn. Ngôi Thái Cực là một khối Đại linh quang, là khởi điểm của càn khôn vũ trụ, mà mỗi linh hồn của chúng ta là một điểm Tiểu linh quang chiết ra từ khối Đại linh quang ấy.
Đèn Thái cực phải luôn luôn được đốt sáng, dầu có cúng hay không cúng, vì đèn Thái Cực còn tượng trưng cho cái tâm của ta, đó là ngọn tâm đăng nên phải đốt sáng  luôn luôn cho cái tâm của ta thường sáng.
Bổn đạo trong nước Việt Nam chúng ta từ lâu nay đã dùng đèn dầu làm đèn Thái cực, nhưng đối với các bạn đạo đang ở các nước tiên tiến như Mỹ, Úc, Âu châu, nơi đây chánh quyền cấm sử dụng đèn dầu vì phòng ngừa hỏa hoạn, nên bổn đạo nơi đó phải dùng đèn điện làm đèn Thái cực. Đèn dầu hay đèn điện đều có trong đó đủ cả âm dương, nhưng điều quan trọng là tạo ra một đốm lửa thường sáng để tượng trưng Thái cực, chúng ta phải chăm sóc thường xuyên, khi tắt thì sửa chữa và đốt lại ngay.   
            “ Thầy đã nói với các con rằng : Khi chưa có chi trong càn khôn thế giới thì Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng, Tứ Tượng biến Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mới lập ra càn khôn thế giới.”  (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 140)

3. Cặp đèn Lưỡng nghi :  Cặp đèn Lưỡng nghi tượng trưng hai nghi Âm và Dương do Thái Cực biến hóa
tạo ra. Hai nghi đó là Dương quang và Âm quang.
Khi cúng Đức Chí Tôn thì đốt lên cặp đèn Lưỡng nghi, cúng xong thì tắt, còn đèn Thái Cực thì phải đốt sáng luôn luôn.
Chúng ta từ lâu nay đã dùng đèn dầu hay đèn sáp làm cặp đèn Lưỡng nghi, nhưng đối với các bạn đạo đang ở các nước tiên tiến như Mỹ, Âu châu, Úc châu, họ bị cấm không được dùng đèn dầu, nên phải dùng hai bóng đèn điện làm cặp đèn Lưỡng nghi.
Cặp đèn Lưỡng nghi dùng đèn dầu hay đèn điện đều được, miễn là hai đèn đó phải cùng cở và có độ sáng như nhau.
[Nếu dùng đèn điện làm cặp đèn Lưỡng nghi, chúng ta dùng 2 bóng đèn tròn lớn 220V-60W, ghép nối tiếp, dây nối luồn vào bên trong chân đèn, rồi nối với nguồn điện 220V qua một công tắc điện. Đèn sẽ cháy hơi lu nhưng rất bền, không đứt, vì mỗi bóng chỉ chịu điện thế 110V.  
Còn bóng đèn dùng làm đèn Thái cực thì mua bóng nhỏ 220V-3W kiểu trái ớt, ghép nối tiếp với một diode nhỏ 220V, nó cháy lu nhưng rất bền, không đứt dù nguồn điện lên xuống bất thường. Không được dùng bóng đèn chớp chớp]  

4. Ba ly rượu : Khi cúng, dùng rượu trắng tinh khiết rót vào 3 ly, mỗi ly rót 3 phân rượu.
Rượu tượng trưng KHÍ, mà Khí là chơn thần.
Đức Chí Tôn dùng rượu tượng trưng chơn thần của chúng ta là muốn chơn thần cường liệt như rượu mạnh vậy.
Tại sao chỉ rót 3 phân rượu vào mỗi ly ?  Khi cúng đàn tại Thánh Thất, ly rượu do lễ sĩ dâng dâng lên phải rót đủ 9 phân, và người tiếp lễ cầm nhạo rượu do lễ sĩ dâng lên, rót thêm vào 3 ly rượu có sẵn trên Thiên bàn cho đủ 9 phân rượu trong mỗi ly là tại sao ?
Ba ly rượu đặt hàng ngang trên Thiên bàn có ý nghĩa giống như 3 cây nhang cắm hàng ngang trong lư hương (Án Tam tài),  là để tượng trưng Tam tài : Thiên, Địa, Nhơn (Trời, Đất, Người).
Ly rượu giữa tượng trưng Trời, 3 phân rượu tượng trưng Tam bửu (3 báu) của Trời là : Nhựt, Nguyệt, Tinh.
 Ly rượu bên tách trà tượng trưng Đất, 3 phân rượu nầy tượng trưng Tam bửu của Đất là : Thủy, Hỏa, Phong.
Ly rượu bên tách nước trắng tượng trưng Người, 3 phân rượu tượng trưng Tam bửu  của Người là : Tinh, Khí, Thần.
Khi lễ sĩ  dâng ly rượu và nhạo rượu lên trong lễ cúng Tiểu đàn hay Đại đàn tại Thánh Thất, người tiếp lễ cầm nhạo rượu lên rót thêm vào 3 ly rượu nầy cho đủ 9 phân, vì số 9 là số căn bản của Thiên Địa Nhơn :
- Trời có trên hết là Tam thập lục Thiên (36 từng trời), phía dưới có Cửu Trùng Thiên (9 từng trời). Số 36 là bội số của số 9 căn bản.  - Đất có Thất thập nhị Địa (72 địa cầu). Số 72 là bội số của 9. - Người thì có Cửu khiếu (9 lỗ), khi tu hành thì tiến hóa lên Cửu phẩm Thần Tiên, cũng lấy số 9 làm căn bản.
Vả lại, theo Số học, ba số : 36, 72, 9 có ước số chung nhỏ nhất  là 3, có ước số chung lớn nhứt là 9, cho nên, trước khi cúng thì rót 3 phân rượu, đến khi dâng Tam bửu thì rót rượu thêm cho đủ 9 phân rượu,  có ý nghĩa như vừa trình bày. (Bội số là số lớn hơn nhiều lần, Ước số là số nhỏ hơn nhiều lần). 

5. Tách nước trắng và nước trà :
- Tách nước trắng, đặt bên tả của Thiên bàn, tượng trưng Dương. Chúng ta dùng nước thiên nhiên như : nước mưa, nước giếng, nước sông, nước phông tên. Các thứ nước nầy chỉ cần lọc cho tinh khiết, trong suốt, không nấu sôi.
- Tách nước trà, đặt bên hữu Thiên bàn, tượng trưng  Âm. Nên dùng loại trà tốt, thơm tho.
Khi rót nước trắng hay trà, phải rót cho đủ 8 phân.
Hai tách nước trắng và nước trà, tượng trưng Âm Dương, nên thường gọi chung là hai tách nước Âm Dương.
Nước trà còn có một ý nghĩa khác : nước trà tượng trưng THẦN, một trong Tam bửu của con người. Thần là chơn linh, linh hồn. Đức Chí Tôn dùng trà tượng trưng chơn linh là muốn chơn linh của ta điều hòa như trà vậy.
Tại sao rót 8 phân nước Âm Dương ?
Tách có 8 phân nước trắng tượng trưng 8 lượng của Nghi Dương, tách có 8 phân nước trà tượng trưng 8 lượng của Nghi Âm. Hai tách nước âm dương hiệp lại tượng trưng 16 lượng, tức là 1 cân, số 1 tượng trưng Thái cực.  (1 cân = 16 lượng)
Vậy, đèn Thái cực và hai tách nước âm dương tượng trưng  Thái cực phân Lưỡng nghi, theo quan niệm về vũ trụ của người đông phương, cũng là  quan niệm của Đạo Cao Đài.
Mặt khác, nước trà tượng trưng Thần tức là linh hồn của chúng ta. 8 phân nước trà tượng trưng Bát phẩm chơn hồn đầu kiếp xuống cõi trần làm chúng sanh. Còn 8 phân nước trắng tinh khiết tượng trưng Bát công đức thủy trong Ao Thất bửu nơi CLTG cõi thiêng liêng.  (8 công đức của nước trong Ao Thất bửu là : lắng sạch, trong mát, ngọt ngon, nhẹ dịu, nhuần trơn, an hòa, uống vào thì hết đói khát lo âu,  bổ khỏe các căn của xác thân).
Hai tách nước trà và nước trắng nầy sau khi cúng xong có thể được Chức sắc đổ chung lại với nhau để hành pháp luyện thành Cam lồ thủy, dùng trong các bí tích : phép xác để tẩy trược chơn thần cho được trong sạch nhẹ nhàng, và phép giải bịnh để tẩy các trược khí trong cơ thể người bịnh.
Tóm lại, tất cả những món đặt trên Thiên bàn đều có tính cách tượng trưng, để nói lên quan niệm về giáo lý và triết lý của Đạo Cao Đài.
* Cái quan trọng của hai tách nước âm dương là ở chỗ nước trà và nước trắng, chớ không phải ở cái tách hay cái chung đựng nó; tách có quai hay không quai, bằng sành
sứ, nhựa hay thủy tinh đều dùng được cả.
* Tương tự như thế, cái quan trọng của ba ly rượu là ở chất rượu tinh khiết, chớ không phải nơi cái ly hay cái chung đựng rượu. Cái ly ấy có thể thấp hay có chưn cao, làm bằng ngọc quỳnh, sành, sứ, thủy tinh hay bằng nhựa, kể cả bằng kim loại,  đều dùng được cả.
* Cũng tương tự như thế, cái quan trọng của đèn Thái cực là tạo ra một đốm lửa thường sáng để tượng trưng Thái cực, chớ không phải ở chỗ cái đèn làm bằng chất gì, đốt bằng dầu hay bằng điện. Cho nên các bạn đạo ở các nước Âu Mỹ dùng đèn điện làm đèn Thái cực, thiết nghĩ  không có gì là sai trái.

6. Bình hoa : Nếu chúng ta tìm đủ 5 sắc hoa tươi cắm vào bình thì rất tốt, vì bài thài Dâng hoa có câu : Năm sắc hoa tươi xin kỉnh lễ. Nếu không đủ 5 sắc hoa tươi thì dùng mấy sắc hoa cũng đều tạm được. Năm sắc hoa dùng để tượng trưng Ngũ hành và Ngũ tạng của ta :
Màu hoa :     Trắng  Vàng  Xanh   Đỏ    Đen
Ngũ hành :    KIM    THỔ   MỘC   HỎA  THỦY
Ngũ tạng :     Phế     Tỳ     Can   Tâm  Thận
Các hoa màu trắng, vàng, xanh, đỏ dễ tìm, nhưng không có hoa màu đen, nên dùng hoa màu sậm thế vào như hoa màu tím sậm hay đỏ sậm.
Năm sắc hoa tượng trưng Ngũ tạng, tức là tượng trưng cho thân thể của ta, mà thân thể của ta là TINH (một trong Tam bửu : Tinh, Khí, Thần).
Dùng Hoa tượng trưng thân thể ta vì Đức Chí Tôn muốn thấy xác thân của chúng ta tốt đẹp như cái hoa.
7. Dĩa trái cây : Nếu có đủ 5 thứ trái cây (Ngũ quả) thì rất tốt. Ngũ quả là kết quả của các sắc hoa nên tượng trưng kết quả của việc tu hành của chúng ta.
[Chúng ta cần lưu ý là : Không được dùng trái cây giả hay bông hoa giả làm bằng nhựa để chưng cúng trên Thiên bàn, mà phải dùng bông hoa thật và trái cây thật].
Vậy, ba món trên Thiên bàn : Hoa, Rượu, Trà có ý nghĩa tượng trưng Tam bửu của con người :
- Hoa tượng trưng Tinh, tức là thể xác của ta.
- Rượu tượng trưng Khí, tức là chơn thần của ta.
- Trà tượng trưng Thần, tức là linh hồn của ta.

8. Lư hương : Lư hương là đồ dùng bằng sành hay bằng thau, trong đó đựng tro, để cắm nhang.
Khi cúng Đức Chí Tôn thì ta đốt 5 cây nhang cắm vào lư hương nầy. (không bao giờ đốt 3 cây hương)
Top of Page



1. Thiên Nhãn : Trên Thánh tượng có vẽ một con mắt trái ở trên cao hơn hết để thờ, gọi là Thiên Nhãn, nghĩa là con mắt của Trời. Con mắt nầy hiện ra trong mây, phát ra các tia hào quang chung quanh.
Thờ Thiên Nhãn có nhiều ý nghĩa sau đây :
- Chĩ vẽ 1 con mắt (chớ không vẽ một cặp mắt) vì chỉ có 1 Thượng Đế, chỉ có 1 Thái Cực. “ Khí Hư Vô sanh ra có 1 Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực.”
- Vẽ con mắt trái, vì bên trái thuộc Dương, Đức Chí Tôn là chủ Dương quang nên mắt trái  tượng trưng  Đ. Chí Tôn.
- Phải vẽ con mắt mở để chỉ rằng Đức Chí Tôn thấy rõ tất cả, biết rõ tất cả, không có gì giấu giếm được Trời. Câu nói : Hoàng Thiên hữu nhãn hay Trời cao có mắt, đều ở trong ý nghĩa ấy. Trong Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế có câu : Càn kiện cao minh, Vạn loại thiện ác tất kiến. Nghĩa là : Càn là Trời, ngôi Càn mạnh mẽ cao tột, sáng tỏ, ắt hẳn thấy rõ điều thiện điều ác của muôn loài.


(Hình Thánh tượng Thiên Nhãn và Ngũ Chi)

- Thờ Thiên Nhãn có ý nghĩa đại đồng. Bất cứ sắc dân nào, dân tộc nào cũng biết vẽ con mắt để thờ, nên hình con mắt không có tính cách phân biệt quốc gia, chủng tộc, nên có tính chất chung, tức là đại đồng.
Như Phật giáo vẽ hình Đức Phật Thích Ca để thờ với hình dáng người Ấn Độ; Thiên Chúa giáo vẽ hình Đức Chúa Jésus với hình dáng người Do Thái, nên có tính cách phân biệt về dân tộc, thờ người ngoại quốc, vv . . . Vẽ hình con mắt để thờ thì tránh được các ý tưởng phân biệt trên.
Hơn nữa, Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh, không riêng cho một sắc dân nào. Khi thờ con mắt là Đức Chí Tôn muốn cho nhơn loại không còn phân biệt nhau về quốc gia hay chủng tộc, nhìn nhau là anh em một nhà, đều là con cái của Đức Chí Tôn và Phật Mẫu.
- Ý nghĩa thiêng liêng :
Đức Chí Tôn có dạy trong TNHT, ngày 13-1-Bính Dần (dl 25-2-1926), với 5 câu chữ Nho, chép ra như sau :

Nhãn thị chủ Tâm,           
Lưỡng quang chủ tể,        
Quang thị Thần, 
Thần thị Thiên,    
Thiên giả Ngã dã.
Giải nghĩa vắn tắt :
* Con mắt là chủ của cái tâm, Thiên nhãn là chủ của Thiên tâm, mà Thiên tâm là Thái Cực là Đại Linh quang, nên Trời là chủ của Thái Cực.
* Hai ánh sáng là chúa tể. Lưỡng quang ấy là Lưỡng nghi : Âm quang và Dương quang, nên làm chủ tất cả.
* Ánh sáng ấy là Thần. Thần nầy là chơn linh của ông Trời, tức là Đại Linh quang của Đức Chí Tôn.
* Thần ấy là Trời.        * Trời ấy là Ta vậy.
  Vậy, thờ Thiên Nhãn là thờ Trời.
2. Ngũ Chi :
Phía dưới Thiên Nhãn là một ngôi sao lớn, đó là sao Bắc đẩu, trung tâm của CKVT. Đây là nơi ngự của Đức Chí Tôn nên phải vẽ Thiên Nhãn ngay phía trên sao Bắc đẩu.
Hai bên sao Bắc đẩu có vẽ mặt trời và mặt trăng. Hợp lại là Nhựt, Nguyệt, Tinh. Đó là Tam bửu của Trời.
Các Đấng ngồi bên dưới kể ra từ trên xuống dưới :
- Đức Phật Thích Ca ngồi giữa, đắp y vàng, ngồi kiết già trên tòa sen, là Giáo chủ Phật giáo.
- Đức Lão Tử, ngồi bên tay mặt của Đức Phật Thích Ca, mặc áo đạo màu xanh, tay cầm phất chủ, râu bạc trắng, đầu để trần. Ngài là Giáo chủ Tiên giáo.
- Đức Khổng Tử, ngồi bên tay trái của Đức Thích Ca, mặc áo đạo màu hồng, râu bạc trắng, đầu đội mão. Ngài là Giáo chủ Nho giáo.
Như vậy, ở hàng ngang nầy là hình của Ba Đấng Giáo chủ Tam giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ.
- Đức Lý Thái Bạch, ngồi hàng giữa, ngay phía dưới Đức Phật Thích Ca, có râu dài và đen, đầu đội mão cánh chuồng. Ngài là một vị Đại Tiên Trưởng, giữ chức Nhứt Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Lão Tử, cầm quyền Tiên giáo thời ĐĐTKPĐ. Đức Lý Thái Bạch còn được Đức Chí Tôn giao phó kiêm nhiệm Giáo Tông ĐĐTKPĐ.
- Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, ngồi phía tay mặt của Đức Lý Thái Bạch, là vị Nữ Phật ngự trên tòa sen, đắp y màu vàng, đầu đội mũ ni, tay mặt cầm tịnh bình có nhành dương liễu, tay trái bắt ấn. Ngài là Nhị Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Phật Thích Ca, cầm quyền Phật giáo thời ĐĐTKPĐ.
- Đức Quan Thánh Đế Quân, ngồi phía tay trái của Đức Lý Thái Bạch, ngài đội mão, mặc áo đạo màu xanh,  râu dài và đen, tay trái đang lật xem quyển Kinh Xuân Thu. Ngài là Tam Trấn Oai Nghiêm, thay mặt Đức Khổng Tử, cầm quyền Nho giáo thời ĐĐTKPĐ.
Ba Đấng : Lý Thái Bạch, Quan Âm Bồ Tát, Quan Thánh Đế Quân, là Tam Trấn Oai Nghiêm của Đạo Cao Đài, cầm quyền Tam giáo thời ĐĐTKPĐ.
- Đức Chúa Jésus (Gia Tô Giáo chủ), ngồi hàng giữa, ngay dưới Đức Lý Thái Bạch, tóc đen, râu ngắn đen,  tay mặt chỉ trái tim bác ái tỏa hào quang. Ngài là Giáo chủ của Thiên Chúa giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ.
- Đức Khương Thượng Tử Nha, ngồi hàng giữa, ngay phía dưới Đức Chúa Jésus, không đội mão, râu bạc trắng, mặc áo bát quái màu vàng, tay mặt cầm cây roi Đả Thần (Đả Thần tiên), tay trái cầm cây Hạnh Huỳnh kỳ. Ngài cầm Bảng Phong Thần, đứng đầu Thần vị.
- Bảy cái ngai, đặt phía dưới các Đấng, sơn son thếp vàng : ngai giữa lớn nhứt là ngôi Giáo Tông, 3 ngai kế dưới dành cho 3 vị Chưởng Pháp ba phái Thái Thượng Ngọc, 3 ngai  kế dưới nữa dành cho 3 vị Đầu Sư ba phái. Bảy ngai nầy tượng trưng 7 Chức sắc cao cấp nhứt của CTĐ cầm quyền Đạo Cao Đài trong cơ phổ độ nhơn sanh của Đức Chí Tôn.
Chúng ta đã thấy, các Đấng ngồi theo hàng ngang thì cầm quyền Tam giáo, thời Nhị Kỳ Phổ Độ và thời Tam Kỳ Phổ Độ, còn các Đấng ngồi ở giữa, theo hàng dọc từ trên xuống dưới là :
. Đức Phật Thích Ca tượng trưng Phật đạo,
. Đức Lý Thái Bạch tượng trưng Tiên đạo,
. Đức Chúa Jésus  tượng trưng  Thánh đạo,
. Đức Khương Thượng tượng trưng Thần đạo.
. 7 cái ngai của 7 Chức sắc cao cấp nhứt của CTĐ tượng trưng Nhơn đạo.
Vậy theo hàng giữa nầy, 4 Đấng ấy và 7 cái ngai tượng trưng Ngũ Chi Đại Đạo : Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo.
Do đó, Thánh tượng Thiên Nhãn trên được gọi là : Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi.
Sự trình bày Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi  của Đạo Cao Đài gồm đủ các Đấng Giáo chủ các tôn giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ và Tam Trấn Oai Nghiêm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, nói lên tôn chỉ của Đạo Cao Đài là : Tam giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt.

Hai bên Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi trên Thiên bàn thường có cẩn đôi liễn chữ Nho, viết ra sau đây:
( - - - - - - )
(- - - - - - -)                
 Hạnh ngộ  Cao  Đài  truyền Đại  Đạo,
 Hảo phùng Ngọc Đế   ngự  trần  gian.
Đôi liễn nầy là cặp trạng trong bài thi của Đức Chí Tôn có in trong TNHT, nghĩa là :
            - May mắn gặp được Đức Cao Đài truyền ra nền Đại Đạo,
            - Tốt đẹp thay gặp Đấng Thượng Đế giáng xuống cõi trần.
Top of Page



Khi chưa đốt gọi là Nhang, khi đốt rồi thì gọi là Hương, vì khói nhang tỏa mùi thơm.
Phần Tiểu Dẫn : Cách thờ phượng và cúng kiếng, nơi phần đầu của quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Hội Thánh viết như sau :  
“ Khi cúng Thầy, phải đốt cho đủ năm cây hương, cắm hàng trong ba cây gọi là Án Tam Tài, thêm hàng ngoài hai cây nữa gọi là Tượng Ngũ Khí.

   Thứ tự  cắm 5 cây hương :
-     Thứ tự cắm 5 cây hương  giống như khi chúng ta lấy dấu : Phật, Pháp, Tăng, cúng Đức Chí Tôn.

2 ----- 1 ----- 3
---4-------5----

Án Tam Tài : Án là đứng hàng ngang. Tam Tài là : Thiên, Địa, Nhơn. Án Tam Tài là ba ngôi Thiên Địa Nhơn đứng hàng ngang. Cắm cây hương 1 tượng trưng Thiên, cắm cây hương 2 bên phía mặt của bàn thờ thuộc âm, tượng trưng Địa, cắm cây hương 3 bên phía trái bàn thờ thuộc dương tượng trưng Nhơn.
Tượng Ngũ Khí : Cắm thêm ở hàng ngoài hai cây hương 4 và 5, tất cả là 5 cây hương, tượng Ngũ Khí tức là tượng trưng 5 chất Khí, là 5 cái năng lực khởi đầu của vũ trụ. Ngũ Khí là 5 chất khí nên không hình ảnh, thuộc thời Tiên Thiên, nhưng khi ngưng kết lại thì có hình ảnh, thuộc thời Hậu Thiên, tạo thành Ngũ Hành.
Khi đứng trước bàn thờ nhìn vào lư hương, thấy đủ 5 cây hương, không có cây nào bị che khuất là đúng.
Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải thích như sau :
        “ Nói về năm cây nhang, từ thử Bần đạo để cho các Nho gia tự do giảng giải sao thì giảng, còn Bần đạo hiểu rõ là Ngũ Khí. Chí Tôn dùng Ngũ Khí biến thành Ngũ  Hành,  vận chuyển càn khôn thế giới, tức là : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mỗi chất đều có mỗi sắc, mỗi sắc đều có mỗi Khí. Mùi vị và sanh quang của nó, chúng ta không thể hưởng được, nghe được.
Nên chi, khi làm lễ đốt đủ Năm cây hương là đúng theo phép tín ngưỡng, là qui pháp lại, mọi vật trong Ngũ Khí dâng lễ cho Đức Chí Tôn, chỉ có Người vui hưởng qui pháp ấy mà thôi. Cắt nghĩa rõ rệt ra là Ngũ Khí đó vậy. Đúng hơn nữa là trong Bát hồn vận chuyển được phải nhờ đến Ngũ Khí, cùng một ý nghĩa với : Vạn vật đồng thinh niệm Chí Tôn.”
Vậy Năm cây hương nầy là lễ hiến Ngũ Khí dâng lên Đức Chí Tôn. Do đó, không bao giờ được dùng nhang giả (nhang điện) cắm vào lư hương
Top of Page



Thượng tượng là đem bức Thánh tượng Thiên Nhãn đặt lên bàn thờ để thờ phượng Đức Chí Tôn.
Chủ nhà liên lạc với vị Chánh Trị Sự hương đạo của mình để nhờ ông sắp đặt Lễ Thượng tượng nơi nhà mình, ấn định ngày giờ cuộc lễ và mời các Chức việc Bàn Trị Sự. Sau đó chủ nhà đến Thánh Thất thỉnh vị Lễ Sanh do Hội Thánh bổ nhiệm cầm quyền đạo tại địa phương đến khai đàn chứng lễ Thượng tượng.
Tùy theo sự sắp đặt của Bàn Trị Sự, lễ Thượng tượng có thể tổ chức vào giờ Ngọ (12 giờ trưa) hay giờ Dậu (6 giờ chiều).
Chuẩn bị : Sớ văn để trên cái dĩa, đặt kế lư hương và một bó 5 cây nhang lấy chỉ cột lại.
Kiểm tra : bông, rượu, trà, nước trắng, cho đầy đủ.
Tất cả chia ra đứng hai bên Thiên bàn, nam tả, nữ hữu (từ Thiên bàn ngó ra). Chức sắc đứng trước, kế là Chức việc BTS, Đạo hữu, chủ nhà và gia quyến đứng chót.

Lễ Thượng tượng diễn ra như sau :

1. Gõ 3 tiếng chuông  : khởi lễ. Tất cả đều bắt ấn Tý.
2. Xá đàn 1 xá, tất cả bước vào đứng trước Thiên bàn.
3. Xá 3 xá, quì xuống. Người phụ lễ đốt bó nhang 5
            cây trao cho viï Lễ Sanh chứng đàn.
4. Lấy dấu : Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng.
        Đem ấn Tý đặt giữa ngực, vừa cúi đầu vừa niệm :
            - Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát
            - Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát,
            - Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,
            - Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế QuanThánh Đế Quân
            - Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
             (mỗi câu niệm,  gõ 1 tiếng chuông, cúi đầu)  
5. Đồng nhi khởi tụng kinh Niệm Hương.
            Dứt kinh, Chức sắc chứng đàn trao bó hương 5 cây cho phụ
             lễ đem cắm vào lư hương, giữa 5 cây hương đã cắm trước.
             Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu
          chú của Thầy. (mỗi lạy mỗi điểm chuông)
6. Đồng nhi tụng bài Khai Kinh.
            Dứt kinh,  cúi đầu, không lạy. Khi tụng danh hiệu
         của các Đấng, điểm 1 tiếng cho mọi người cúi đầu.
7. Đồng nhi tụng Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế.
        Dứt kinh, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, giống mục 5.  
8. Đồng nhi tụng Kinh Phật giáo.
            Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô
Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
9. Đồng nhi tụng Kinh Tiên giáo.
            Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô
            Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.
10. Đồng nhi tụng Kinh Nho giáo.
            Dứt kinh, lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô
            KhổngThánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.
11. Đồng nhi thài bài Dâng Hoa.
Dứt thài, mọi người đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện :
Dâng thể xác lên Đức Chí Tôn dùng phương nào thì
dùng. (Cách cầu nguyện dâng Tam bửu : Hoa, Rượu, Trà, 
 xem chi tiết  nơi Chương 5 : Cúng Tứ thời)
             Lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.
12. Đồng nhi thài bài Dâng Rượu.            
Y như mục 11 nhưng cầu nguyện Dâng chơn thần. 
13. Đồng nhi thài bài Dâng Trà.               
Y như mục 11 nhưng cầu nguyện Dâng linh hồn.
14. Dâng sớ : Người phụ lễ bưng dĩa sớ trên Thiên bàn
            trao sớ cho Lễ Sanh chứng đàn. Vị nầy cầm đứng
         bao sớ, xá 3 xá (có điểm chuông), cầu nguyện, rút lá
sớ ra, đưa cho người đọc sớ. (Đọc sớ, đến chỗ danh
hiệu các Đấng thì  cúi đầu). 
Đọc sớ :
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Thất thập . . . niên)
Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy, Thiên vận . . . . . . niên, . . . .  ngoạt, . . . . . nhựt, ngọ thời, hiện  tại Việt Nam quốc, . . . . . Trấn, . . . . Châu, . . . . , Tộc, . . . . . Hương,  cư trụ gia đường chi trung.
Kim đệ tử . . . (phẩm tước và Thánh danh của vị Lễ Sanh chứng đàn) . . . . . công đồng chư  Chức sắc hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng quì tại Thiên bàn tiền, thành tâm trình tấu.
HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI :
Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.
Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
TAM TÔNG CHƠN GIÁO :
Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,
Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,
Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.
           TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM :
Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,
Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,
Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,
Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,
           Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,
           Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.

Kim vì, kiết nhựt lương thần, thỉnh an Thánh tượng chi lễ, chư Thiên phong nghiêm thiết đàng tràng, hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm phụng hiến.
Cẩn thỉnh chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần, chứng minh tọa hạ.
Phục vọng Vô Trung Từ Phụ, phát hạ hồng ân, chuyển họa vi phước, tập kiết nghinh tường, bảo hộ gia đường . . . . (tên gia chủ xin thượng tượng) . . . . . diên niên hạnh phước.
Ngưỡng nguyện Đại Từ Bi vận chuyển thế cuộc tảo đắc hòa bình, trật tự an ninh, quốc thới dân an, phong điều võ thuận.
Chư Thiên phong hiệp dữ Chức việc, Đạo hữu nam nữ đẳng thiết triêm Thiên ân gia huệ dã.
Chư đệ tử  đồng thành tâm khấu bái cẩn sớ thượng tấu
                                                                        Dĩ  văn.
                                                        Đệ tử  : . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
                            (phẩm tước và Thánh danh của vị Chức sắc chứng đàn)

            Đọc sớ xong, người đọc đưa sớ cho vị chứng đàn bỏ vào bao sớ, vị nầy cầm bao sớ xá 3 xá, đốt sớ bỏ vào thố, đem đặt giữa chuông và mõ dưới Thiên bàn.
Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm chú đầy đủ.
15. Đồng nhi tụng Ngũ Nguyện.
            Dứt Ngũ nguyện, tuy đã có cầu nguyện theo sớ văn, nhưng vị chứng đàn có thể cầu nguyện thêm cho gia chủ (vì đây là sự khích lệ rất lớn lao đối với gia đình gia chủ).
            Khi cầu nguyện thêm, vị chứng đàn nên cất tiếng cầu nguyện rõ ràng vừa đủ nghe để mọi người cùng nghe cùng dâng lời cầu nguyện lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng, lời cầu nguyện có thể đặt ra như sau :

          “ Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,
            Nam mô Tam Tông Chơn Giáo,
Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm,
Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
Hôm nay, đệ tử  và Bàn Trị Sự Hương đạo . . . . . . đến khai đàn thượng tượng tại nhà của Đạo hữu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Nguyện cầu Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, Tam Trấn Oai Nghiêm, chư Phật, Tiên, Thánh, Thần ban ân lành cho Đạo hữu . . . .. . . . . và toàn gia quyến, tinh thần mẫn huệ, trí não quang minh, giữ lời Minh Thệ, gìn tròn luật Đạo, lập công bồi đức, giải quả tiền khiên, gội hưởng Thiên ân trong kỳ ba đại  ân xá.
Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.”

Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm chú đầy đủ.
16. Tất cả đều đứng dậy,  xá 3 xá, lui ra hai bên.
      (không có quay ra sau xá chữ Khí vì đây là tư gia)
17. Đồng nhi, ban nhạc và những người hầu đàn vào lạy
      Đức Chí Tôn.
18. Vị Chức sắc chứng đàn có thể thuyết đạo ngắn gọn nói
      về ích lợi của việc Thượng tượng, việc cúng tứ thời và
      bổn phận của người tín đồ đối với Đạo.
19. Bãi đàn :  đánh 3 tiếng chuông, xá đàn, lui ra, dứt lễ.
            Sau đó, tất cả tập họp trở lại để tụng :
- Di Lạc Chơn Kinh.  - Kinh Cứu Khổ.
Trước khi tụng kinh, mọi người vào quì trước Thiên bàn, thỉnh Thánh, cầu nguyện, rồi bắt đầu tụng Di-Lạc Chơn Kinh. Tụng xong thì lạy, khỏi cầu nguyện.
Tiếp theo là tụng Kinh Cứu Khổ.
            Trong Kinh Cứu Khỗ, chỗ : cứu hộ đệ tử. . . . , nên tụng cầu nguyện cho chủ nhà và gia quyến, như sau :
            cứu hộ đệ tử . . . . (tên họ chủ nhà) và gia quyến  thoát ly khổ nạn, tự ngôn Quan Thế Âm anh lạc  . . . 
            Sau cùng, đồng nhi và chư vị hầu đàn vào cầu nguyện và lạy Đức Chí Tôn. Xong, đánh 3 tiếng chuông bãi đàn, mọi người xá đàn 1 xá. Buổi lễ Thượng tượng đã xong.

Ở các hương đạo địa phương, thông thường thì BTS còn đến cúng thời cùng gia chủ trong hai ngày nữa, tới ngày thứ ba huờn kinh, mới chấm dứt.
Ngày hôm sau, tức là ngày thứ nhì, BTS cử Chức việc đến cùng với chủ nhà cúng thời Ngọ (hoặc thời Dậu), không có dâng sớ, chỉ thài bài Dâng Rượu (nếu thời Dậu thì thài bài Dâng Trà). Cúng thời xong thì tụng Di Lạc Chơn Kinh và Kinh Cứu Khổ  y như ngày hôm qua.
Ngày hôm sau nữa, tức ngày thứ ba, Chức việc cũng đến cúng thời với chủ nhà. Cúng xong thì tụng Kinh Di Lạc và Cứu Khổ y như hai lần trước, nhưng bữa thứ ba nầy, tụng thêm Kinh Sám Hối.
Như vậy, sau lễ Thượng tượng, Bàn Trị Sự tiếp tục đến nhà, hiệp cùng gia chủ, cúng thời và tụng kinh hai lần nữa để bắt trớn cho gia chủ tiếp tục cúng trong Tứ thời trước Thiên bàn tại tư gia của mình.
Top of Page



Chúng ta đã thấy trên Thánh tượng Thiên Nhãn - Ngũ Chi, Đạo Cao Đài trên hết là thờ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, kế dưới là thờ các Đấng Giáo chủ thời Nhị Kỳ Phổ Độ và thờ Tam Trấn Oai Nghiêm thời Tam Kỳ Phổ Độ.    
Tuy thờ như vậy nhưng khi đọc kinh cúng thì đọc kinh xưng tụng Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, Giáo chủ Phật giáo Nhứt Kỳ Phổ Độ; kinh Tiên giáo thì xưng tụng Đức Thái Thượng Đạo Quân Giáo chủ Tiên giáo Nhứt Kỳ Phổ Độ và hóa thân của Ngài là Lão Tử thời Nhị Kỳ Phổ Độ.
Như vậy, sự thờ phượng phối hợp với kinh kệ của Đạo Cao Đài có tính chất xuyên suốt từ Nhứt Kỳ, qua Nhị Kỳ rồi đến Tam Kỳ Phổ Độ. Đây là thời kỳ Vạn thù qui nhứt bổn mà hai thời kỳ trước là Nhứt bổn tán vạn thù.
Đôi khi có một số người hiểu lầm cho rằng, Đạo Cao Đài là một tôn giáo hỗn tạp, không thuần nhứt trong cách thờ phượng và trong kinh kệ. Quả thật, nếu chúng ta chỉ nhìn riêng lẻ từng tôn giáo và từng thời kỳ phổ độ, chúng ta sẽ có kết luận như thế, nhưng nếu chúng ta có cái nhìn tổng quát xuyên suốt từ đầu đến cuối, thì thấy trong cái hỗn tạp đó, có một cái trật tự  do Đấng Thượng Đế sắp đặt. Đấng Thượng Đế lâu nay không nói ra, để tự con người tìm tòi hiểu biết, nhưng con người vẫn vô minh.
Ngày nay, Đấng Thượng Đế lập Đạo Cao Đài trong thời kỳ cuối cùng trước khi đến Đại Hội Long Hoa, Đấng Thượng Đế phơi bày ra tất cả, để nhơn loại hiểu biết nguồn gốc của mình đều là con của Thượng Đế, nhìn nhau là anh em một nhà. Còn các Đấng Giáo chủ các tôn giáo chỉ là những vị lãnh lịnh Đấng Thượng Đế giáng trần mở đạo dạy dỗ nhơn sanh trong khu vực và thời hạn qui định.
Hiểu như vậy để tiến tới sự hòa đồng các tôn giáo, trước khi Đức Di-Lạc Vương Phật giáng trần gom các đạo hữu hình làm một dưới quyền chưởng quản của Ngài.
Top of Page



Sau khi lập Thiên bàn thờ Đức Chí Tôn rồi, gia chủ nên lập thêm bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại nhà  mình.
Thường thì bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thiết lập gần bên Thiên bàn cho thuận tiện việc cúng kiếng.
Nếu trong nhà đã có sẵn bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ (CHTT) hay bàn thờ Tổ Tiên rồi thì nên chỉnh đốn cho đúng theo khuôn mẫu của Đạo lập nên.
Ngoài ra, khi lập Thiên bàn rồi thì những bàn thờ nhỏ trước đây như : bàn thờ Đức Quan Thánh, bàn thờ Đức Quan Âm Bồ Tát, bàn thờ Đức Mẹ Sanh, vv . . . . thì nên dẹp hết, vì trên Thiên Bàn đã có thờ đủ các Đấng ấy rồi.
  

(Nếu cha mẹ đã mất thì có thể đặt hình của cha mẹ
dưới Cửu Huyền Thất Tổ để thờ chung)

Chúng ta thờ Đức Chí Tôn vì Đức Chí Tôn là nguồn gốc thiêng liêng của linh hồn của ta.
Chúng ta thờ Cửu Huyền Thất Tổ vì CHTT là  nguồn gốc phàm trần của xác thân ta.
Chúng ta hiện diện trong cõi đời hiện tại đây là do hai nguồn gốc đó, nên chúng ta phải phụng thờ đầy đủ.
Bàn thờ CHTT có viết chữ Cửu Huyền Thất Tổ bằng chữ Nho đại tự, 4 chữ thẳng đứng, hai bên có đôi liễn thờ.
Xin đề nghị đôi liễn sau đây, tùy nghi gia chủ sử dụng, hoặc đổi đôi liễn khác. (Đôi liễn nầy tại Bùi Phủ Từ).
   Đôi liễn :    - Sùng đức Cửu Huyền ân thượng trọng,
                  - Tôn  công  Thất  Tổ  nghĩa  cao thâm.
   Nghĩa là :   . Kính cái đức độ của Cửu Huyền, ơn cao trọng,
               . Tôn cái công nghiệp của Thất Tổ, nghĩa cao sâu.

            Cách chưng bày các món trên bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ, lấy theo mẫu bàn thờ PHƯỚC LỘC THỌ (thờ ông bà chung) nơi hậu điện Báo Ân Từ :


2 - - - - - - -1- - - - - - - - 3
- - - -4 - - - - - - -5 - - - -
6 - - - - - - 8 - - - - - - - -7
          
     1 -  Đèn vọng.                               
     2 -  Dĩa trái cây.              
     3 -  Bình bông.
     4 -  Chung nước trà.
     5 -  Ly rượu.    
     6  và 7 -  Cặp đèn nghi.
     8  Lư hương (cắm 3 cây hương).

Thờ cúng Cửu Huyền, ý nghĩa : mình là cháu 9 đời, thờ các bậc Tổ Tiên 9 đời trước mình.
Thờ CHTT là để tỏ lòng kính trọng Tổ Tiên mà trong buổi sanh tiền đã dày công giáo hóa, chỉ dẫn công việc làm ăn, dạy bảo cử chỉ hành động sao cho tốt đẹp, hợp đạo đức, để phát huy sự nghiệp làm rạng rỡ Tổ Tiên.
Sau đây là bảng giải thích Hệ thống Cửu Huyền (9 đời) và Thất Tổ (7 vị Tổ) của dòng họ :
Hệ thống Cửu Huyền :
1. Ông Sơ của ông Sơ . . (Cao Cao Tổ) . . .Thất Tổ
2. Ông Cố của ông Sơ   (Cao Tằng Tổ) . . . Lục Tổ
3. Ông Nội của ông Sơ. . . (Viễn Tổ). . . Ngũ Tổ
4. Cha của ông Sơ . . . . . . (Tiên Tổ). . . .  Tứ Tổ     Thất Tổ
5. Ông Sơ  . . . . . . . . . . . .   (Cao Tổ). . . Tam Tổ
6. Ông Cố  . . . . . . . . . . .  (Tằng Tổ). . . . Nhị Tổ
7. Ông Nội . . . . . . . . . . . .  (Nội Tổ). . . Nhứt Tổ
8. Cha (Phụ thân)
Top of Page



Các bài văn sớ trong Đạo đều viết bằng Hán văn, tương đối khó hiểu, nên cần dịch nghĩa ra tiếng Việt.
Các bài văn sớ đều có phần đầu và câu cuối giống nhau, chỉ khác nhau phần giữa gọi là lòng sớ.

BÀI DỊCH :
Nay theo,
Vận Trời  năm. . . . . . . , tháng . . . . . , ngày . . . . . . , giờ. . . . , hiện  ở nước Việt Nam, Trấn đạo. . . . . . . . . , Châu đạo . . . . . . . , Tộc đạo . . . . . . . , Hương đạo . . . . . , đang tại nơi tư gia.
Nay đệ tử  . . . . . . . . . . . . . . . . . . cùng chung các Chức sắc, hiệp với các Chức việc và Đạo hữu nam nữ các cấp, quì trước Thiên bàn, thành tâm tâu bày :
TRONG CỬA HUỲNH KIM KHUYẾT CÓ :
Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế Đại Thiên Tôn,
Đức Diêu Trì Kim Mẫu.
BA ĐẤNG GIÁO CHỦ TAM GIÁO :
             -  Đức Phật Thích Ca,  - Đức Lão Tử,  - Đức Khổng Tử.
BA  TRẤN  OAI  NGHIÊM của ĐĐTKPĐ :
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát,
Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên Trưởng, kiêm nhiệm
                     Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ,
Đức Quan Thánh.
Đức Chúa Jésus,
Đức Khương Thượng Tử Nha,
Đức Hộ Pháp,
     Mười phương chư Phật, muôn hạng chư Tiên, chư Thánh, chư Thần.(1)
(Phần lòng sớ : )
Nay vì ngày lành, giờ tốt, làm lễ thỉnh an Thánh tượng, chư Chức sắc Thiên phong nghiêm trang thiết lễ nơi đàn cúng tế, nhang, đèn, bông, trà, trái cây, rượu tinh khiết, lập nên nghi thức, thành tâm hiến lễ.
Kính thỉnh chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần chứng minh và ngự xuống.
Chúng con xin nghe theo và mong mỏi Đấng Đại Từ Phụ trong cõi Hư Vô ban xuống ơn huệ lớn lao, đổi họa làm phước, góp tốt đón lành, bảo hộ gia đình . . . . . . . . . . . . được hạnh phúc lâu dài.
Kính mong Đức Chí Tôn từ bi vận chuyển cuộc thế sớm được hòa bình, trật tự an ninh, nước thạnh dân an, gió hòa mưa thuận.
Các Chức sắc Thiên phong hiệp cùng Chức việc, Đạo hữu nam nữ các cấp, xin được thấm nhuần ơn Trời, gia tăng ơn huệ.
(Câu cuối của sớ : )
Các đệ tử đồng thành tâm cúi đầu lạy xuống, kính cẩn dâng sớ tâu lên.
Kính trình.    
* * * * * *
Ghi chú :  (1) Vạn chưởng : tức là Vạn chủng : muôn loài, muôn hạng.

         - Liên đài chi hạ : bên dưới tòa sen, là vị trí của chư Thánh chư Thần.

CÚNG TỨ THỜI





Tứ Thời là 4 giờ đặc biệt trong một ngày mà tại 4 thời điểm đó, hai nguyên khí Âm và Dương của Trời Đất, hoặc là khởi sanh hoặc là cân bằng nhau.
Theo Tây phương thì một ngày đêm có 24 giờ, nhưng theo âm lịch của Đông phương thì một ngày đêm có 12 giờ và đặt tên giờ theo Thập nhị Địa chi.
Sự tương quan như sau :

       * Giờ Tý :    từ  0 giờ đến trước   2 giờ.
Giờ Sửu :   từ  2 giờ đến trước   4 giờ.
Giờ Dần :  từ  4 giờ đến trước   6 giờ.
       * Giờ Mẹo :  từ  6 giờ đến trước   8 giờ.
Giờ Thìn : từ  8 giờ đến trước   10 giờ.
Giờ Tỵ :    từ 10 giờ đến trước  12 giờ.
       * Giờ Ngọ :  từ 12 giờ đến trước  14 giờ.
Giờ Mùi :  từ 14 giờ đến trước 16 giờ.
Giờ Thân: từ 16 giờ đến trước 18 giờ.
       * Giờ Dậu :  từ 18 giờ đến trước 20 giờ.
Giờ Tuất : từ 20 giờ đến trước 22 giờ.
Giờ Hợi :  từ 22 giờ đến trước 24 giờ (tức 0 giờ ngày kế)
- Chánh Tý là đầu giờ Tý, tức là lúc  0 giờ.
- Chánh Ngọ là đầu giờ Ngọ, tức là lúc 12 giờ trưa.
  (Chánh : nghĩa là  đứng đầu).

Tại sao có việc sụt lại 1 giờ ?
Thí dụ : *- giờ Mẹo : thay vì là 6 - 8 giờ, thì phải sụt lại 1 giờ, tức là 5 - 7 giờ;  *- giờ Ngọ : thay vì là 12 - 14 giơ,ø thì phải sụt lại 1 giờ, tức là  11 - 13 giờ; vv ….
Đó là khi xem ngày giờ tốt xấu trong việc gả cưới, động thổ cất nhà, gác đòn dông, khai trương cửa hàng, vv…
Việc coi giờ tốt xấu thì phải dùng các sách coi ngày giờ của Tàu, mà người Tàu khi làm sách thì căn cứ vào giờ của Tàu tại Bắc Kinh (BK), nên khi VN dùng các sách nầy thì phải áp dụng giờ BK, tức là phải đổi giờ VN ra giờ BK.
Giờ BK trước VN 1 giờ, ta có bảng tương ứng :
            - Giờ Bắc Kinh :          6  8  10  12  14  16  18   20
            - Giờ VN :       5  7   9   11  13  15  17  19       
Đổi giờ BK ra giờ VN :
-          Giờ Mẹo BK :  6g -  8g tương ứng VN   5g - 7g.
-          Giờ Ngọ BK : 12g - 14g   -       -   VN 11g - 13g.
Do đó, khi coi giờ tốt xấu thì phải dùng giờ BK tức là sụt giờ VN lại 1 giờ. Việc sụt lại 1 giờ chỉ đúng ở VN, nơi các nước khác không còn đúng nữa.
Như vậy, ngoài việc coi ngày giờ tốt xấu, trong tất cả trường hợp khác ở VN thì chúng ta phải dùng giờ VN.
Giờ của VN cũng là giờ tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đức Chí Tôn nhận Tây Ninh là Thánh địaTòa Thánh Tây Ninh là Đền Thờ của Ngài nên ngày giờ tại TTTN cũng là ngày và giờ của Thiên đình.
            Sự biến đổi cường độ hai khí Âm Dương trong một ngày được biểu diễn trong đồ thị sau đây :


Biểu diễn bằng đồ thị
                - Đường liền : biểu diễn sự biến đổi của khí Dương theo giờ.
                - Đường đứt đoạn : biểu diễn sự biến đổi của khí Âm theo giờ.

1.- Thời Tý, lúc 0 giờ, khí Âm cực thạnh rồi giảm dần, khí Dương khởi sanh và cường độ tăng dần.
2.- Thời Mẹo, lúc 6 gờ sáng, khí Âm và khí Dương cân bằng nhau. Sau đó khí Dương tiếp tục tăng và khí Âm tiếp tục giảm.
3.- Thời Ngọ, lúc 12 giờ trưa, khí Dương cực thạnh, khí Âm giảm đến mức triệt tiêu và khởi sanh trở lại với cường độ tăng dần. Lúc đó, sách Nho gọi là Dương cực Âm hồi, nghĩa là: Dương cực đại thì Âm khởi sanh trở lại.
4.- Thời Dậu, lúc 18 giờ tức 6 giờ chiều, khí Âm và khí Dương cân bằng nhau.
Sau đó khí Dương tiếp tục giảm và khí Âm tiếp tục tăng, để đến lúc 24 giờ thì khí Dương giảm đến mức triệt tiêu và khởi sanh trở lại, còn khí Âm lúc đó cực thạnh.
Do đó, sách Nho gọi là : Âm cực Dương hồi, nghĩa là : Âm cực đại thì Dương khởi sanh trở lại.
Vào 4 thời điểm trên, hai nguyên khí Âm Dương của Trời Đất có sự biến đổi đặc biệt như thế nên gọi là giờ linh, sự cúng kiếng và cầu nguyện trong các giờ nầy được các Đấng tiếp nhận dễ dàng hơn vào các thời điểm khác.
Top of Page



1. Các bài kinh cúng Tứ Thời tại tư gia :
Tại Thiên bàn nơi tư gia, chỉ có cúng Đức Chí Tôn, không cúng Đức Phật Mẫu, nên các bài kinh cúng Tứ Thời tại tư gia gồm có 8 bài, kể ra :
- Niệm Hương
- Khai Kinh
- Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế
- Kinh Phật giáo. - Kinh Tiên giáo. - Kinh Nho giáo.
- Bài Dâng Rượu hay Dâng Trà.
- Ngũ Nguyện.
Việc tổ chức cúng Tứ Thời tại tư gia, giống như cúng Thượng tượng, nhưng không có Dâng Sớ và không thài hết 3 bài Dâng Tam bửu, chỉ thài bài Dâng Rượu nếu cúng lúc 12 giờ trưa hay lúc 12 giờ khuya, và thài bài Dâng Trà nếu cúng lúc 6 giờ sáng hay 6 giờ chiều. (Còn việc tụng Kinh Di-Lạc, Kinh Cứu Khổ, Kinh Sám Hối thì tùy nghi).
2. Nên cúng Tứ Thời đúng giờ.
Nên cúng Tứ Thời đúng giờ, chỉ được xê xích trong vòng 15 phút. Mỗi thời cúng tại tư gia kéo dài chừng 20 phút và thời cúng tại Thánh Thất kéo dài chừng 30 phút vì có dộng chuông trước và sau khi cúng.
Nên cúng đúng giờ qui định vì ngày giờ tại TTTN (tức là giờ VN) cũng là giờ ở Thiên đình. Vào giờ Tý, khi chúng ta cúng tại Tòa Thánh, Thánh Thất hay tư gia thì lúc ấy các Đấng thiêng liêng cũng đang chầu lễ Đức Chí Tôn ở Thiên đình. Cúng đúng giờ để tất cả tín đồ Cao Đài trên khắp nước VN đồng dâng lời cầu nguyện lên Chí Tôn và Phật Mẫu thì sức cầu nguyện tổng cộng ấy rất vĩ đại, chắc chắn hai Đấng Cha Mẹ thiêng liêng ấy rất hài lòng và ban rải hồng ân cho toàn cả chúng ta rất nên tốt đẹp.
Nhớ lại khi xưa, Đức Lý Giáo Tông muốn xin Đức Chí Tôn thêm điều mật yếu vào Tân Luật, nên Ngài yêu cầu toàn cả tín đồ cố gắng cùng với Ngài cầu nguyện Đức Chí Tôn thì mới kết quả. Ngài viết trong TNHT như sau :
“ Lão tâu cùng Đại Từ Đại Bi xin thêm vào Luật những điều bí mật yếu trọng ấy. Vậy chư hiền hữu cũng phải cầu khẩn với Lão, nội hạ tuần tháng nầy thì khởi nguyện, dặn các Thánh Thất, các Đạo hữu phải để lòng thành khẩn, hiệp sức làm một với Lão mà nài xin Thánh Luật, nghe à ! )  (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 77) 

3. Nghi thức cúng Tứ Thời tại tư gia :
    Thí dụ : Cúng thời Mẹo lúc 6 giờ sáng.
Nam thì mặc quần trắng, áo dài trắng, khăn đen.
Nữ thì mặc toàn trắng giống như nam, đầu để trần.
Chăm sóc Thiên bàn cho tinh khiết, đủ bông trái.
Rót nước thiên nhiên vào chung nước trắng, đủ 8 phân; rót nước trà vào chung nước trà, 8 phân. Thời Mẹo chỉ cúng nước Âm Dương. (Nếu thời Tý hay Ngọ thì không rót nước Âm Dương, chỉ rót 3 phân Rượu vào mỗi ly). 
            Đốt 5 cây nhang, cầm hai tay, đứng ngay thẳng trước Thiên bàn, xá sâu xuống 3 xá, cắm nhang vào lư hương, hàng trong 3 cây, hàng ngoài 2 cây, nhìn vào thấy đủ 5 cây hương, không cây nào bị che khuất.

            1. Gõ 3 tiếng chuông khởi đầu thời cúng.
2. Xá 1 xá nhập đàn. Bước vào đứng trước Thiên bàn, hai tay bắt ấn Tý, xá 3 xá, quì xuống, đưa ấn Tý lên trán lấy dấu Phật Pháp Tăng, rồi đặt giữa ngực, vừa cúi đầu vừa niệm :
- Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
- Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
- Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ.
- Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
- Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
3. Tụng kinh Niệm Hương.
Khi tụng kinh, mắt nhìn lên Thiên Nhãn.
Khi tụng đến danh hiệu các Đấng thì cúi đầu.
Tụng xong, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy (gật chậm để đủ câu niệm).
4. Tụng Khai Kinh.
   Dứt bài kinh thì cúi đầu, không xá, không lạy.
5. Tụng Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế.
   Tụng xong thì lạy Đức Chí Tôn như mục 3.
6. Tụng Kinh Phật giáo.
   Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
7. Tụng Kinh Tiên giáo.
   Lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.
8. Tụng Kinh Nho giáo.
   Lạy 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.
9. Thài bài Dâng Trà.
Thài xong bài Dâng Trà thì cầu nguyện hiến dâng linh hồn của mình cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng.
Nhưng, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo cho biết trong Dâng Tam bửu có Bí pháp giải thoát, nên chúng ta dầu trong thời cúng nào cũng nên cầu nguyện dâng hết Tam bửu lên Đức Chí Tôn. (Xem phần III tiếp theo)
Chúng ta có thể nói lời cầu nguyện như sau :  

       “ Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,
Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm,
Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
Con xin dâng thể xác của con, chơn thần và linh hồn của con lên Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.
Cầu xin các Đấng thiêng liêng chứng minh.”

Cầu nguyện xong, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.
10. Tụng Ngũ Nguyện.
     Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm chú đầy đủ.
11. Đứng dậy, xá Thiên bàn 3 xá, lui ra, nam tả  nữ hữu.
12. Gõ 3 tiếng chuông, xá đàn, chấm dứt thời cúng.

Trong hai thời Mẹo và Dậu, tức 6 giờ sáng và 6 giờ chiều, sau khi cúng xong, chúng ta nên lấy một cái tách (hoặc cái ly), rồi thỉnh hai chung nước Âm Dương trên Thiên bàn, kề hai miệng chung lại rồi cùng đổ vào cái tách (hoặc cái ly), đứng trước Thiên bàn, đưa tách nước Âm Dương ấy lên trán cầu nguyện . . . (Xin cho con uống tách nước Âm Dương nầy để thân thể con được khỏe mạnh, trí não được thông minh sáng suốt  lo lập công quả  phụng sự nhơn sanh) . . . , xong rồi thì uống cạn tách nước nầy.

Ích lợi : Hai chung nước Âm Dương sau khi cúng xong, Đức Chí Tôn đã ban thanh khí vào đó nên nước ấy khác hẳn với nước thường, khi uống là đem thanh khí vào cơ thể của chúng ta, nó sẽ lần lần hóa giải trược khí trong cơ thể mỗi ngày một ít, đến lúc nào đó, trược khí tiêu mất hết, thân thể chúng ta chỉ còn thanh khí, nên dứt hết các thứ bịnh kinh niên, làm ta khỏe mạnh. Khi thực hành lâu dài, chúng ta sẽ thấy được tác dụng huyền diệu nầy.
Các nhà khoa học đã thí nghiệm như sau :
- Với một ly nước thường, họ quan sát bằng kính hiển vi điện tử, thấy các phân tử nước di chuyển lộn xộn, không có trật tự chi cả.
- Đặt ly nước ấy vào một chỗ mà chung quanh có nhiều người chú nguyện vào ly nước, sau thời gian chừng 15 phút, các nhà khoa học đem ly nước ấy quan sát thì thấy các phân tử nước trong ly nước bây giờ có vị trí trật tự, kết lại có dạng giống như hoa sen, hay như hoa mai.
Cho nên, hai tách nước Âm Dương sau khi cúng xong, chúng ta không nên đổ bỏ, rất uổng.
Top of Page



1. Cách cầu nguyện khi Dâng Tam bửu :
Về cách thức cầu nguyện khi Dâng Tam Bửu, Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo  dạy như sau :
            - Hễ đưa Bông lên là dâng cái hình thể của chúng ta, ta cúi đầu cầu nguyện Đức Chí Tôn :
            “ Con xin dâng mảnh hình hài của con cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng.
            - Khi dâng Rượu thì cầu nguyện :
            “ Con xin dâng cả trí thức tinh thần của con cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng.
          (Trí thức Tinh thần của con người là thuộc Chơn thần).
- Khi dâng Trà cầu nguyện :
            “ Con xin dâng cả linh hồn của con cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng.
            + Câu chót, chúng ta nên nguyện gồm chung lại như vầy :
            “ Cả Linh hồn, cả Trí não, cả Hình hài con, do
           Thầy đào tạo, đó là của Thầy thì do nơi quyền
           hành độc đoán của Thầy định.”

            Khi dâng Tam Bửu lên Đức Chí Tôn, hễ dâng Bửu nào thì cầu nguyện theo Bửu nấy, dâng xong một Bửu thì lạy 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy : Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

            Dâng Tam Bửu cúng Đức Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu thì cầu nguyện với Đức Phật Mẫu, dâng Bửu nào thì cầu nguyện theo Bửu nấy, lời cầu nguyện giống y như lời cầu nguyện đối với Đức Chí Tôn, nhưng thay chữ Chí Tôn bằng chữ Phật Mẫu, xong mỗi Bửu thì lạy Phật Mẫu 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

2. Bí pháp dâng Tam bửu :
            Tại sao Đức Chí Tôn buộc tín đồ dâng Tam Bửu ?
            Tại sao trong mỗi thời cúng, Đức Chí Tôn buộc các tín đồ nam nữ đều phải dâng Tam bửu lên Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu ?  Điều nầy có phải vì lợi ích cho Đức Chí Tôn hay cho Đức Phật Mẫu không ?
            Trả lời : Không, mà trái lại là hoàn toàn vì lợi ích cho tín đồ, bởi vì đây là Bí Pháp giải thoát cho mỗi tín đồ.

            Bí Pháp thì phải bí mật, nhưng thời ĐĐTKPĐ nầy, Đức Chí Tôn ban cho ơn huệ là Đại Ân Xá, nên Đức Chí Tôn không giấu giếm Bí Pháp nữa, Đức Chí Tôn bày ra trước mắt nhơn sanh, để nhơn sanh thấy rõ mà thực hành.
Đức Chí Tôn nhấn mạnh : “ Gặp Tam Kỳ Phổ Độ nầy mà không tu thì không còn trông mong siêu rỗi được.
            Bí Pháp đó là : Đức Chí Tôn biểu chúng ta dâng Tam bửu của chúng ta (thể xác, chơn thần, linh hồn) lên cho Đức Chí Tôn để Đức Chí Tôn lấy ba thứ đó làm phương tiện PHỤNG SỰ VAÏN LINH.
            Tại sao gọi đó là Bí Pháp ?
            Bởi vì chính nó là phương cách giải thoát chúng ta khỏi luân hồi để linh hồn sau khi thoát xác, trở về hiệp nhứt với Đức Chí Tôn, tức là đắc đạo vậy.
            Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải thích như sau :
            “ Ấy vậy, mỗi ngày, từ mơi tới trưa, đến chiều, từ chiều đến khuya, từ khuya đến sáng, mình vô Đền Thánh kêu Đức Chí Tôn, kêu Tam Giáo và các Đấng Thiêng liêng mà phân chứng trước :  Thân tôi không còn là của tôi nữa, tôi đã hiến cho Đức Chí Tôn, làm tôi tớ cho vạn linh, thay thế cho Đức Chí Tôn.
Giờ phút đó, chúng ta không biết tội nào chúng ta đã làm, dầu có tội mà chúng ta không làm điều gì thêm nữa thì quả kiếp ấy tiêu diệt, cơ quan giải thoát chúng ta đoạt, không thế gì định tội được.
Đức Chí Tôn biểu chúng ta không phải là chúng ta, mà chúng ta không phải là chúng ta thì quả kiếp ấy không phải là của chúng ta, tức nhiên ta đã đoạt cơ giải thoát.”

            Như vậy, mỗi ngày chúng ta cúng Đức Chí Tôn, chúng ta đều cầu nguyện dâng Tam bửu (thể xác, chơn thần, linh hồn, tượng trưng bằng Bông, Rượu, Trà) là dâng toàn thể con người chúng ta cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng, tức là chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào Chí Tôn sai khiến định liệu trong công cuộc Phụng Sự Vạn Linh. Chúng ta không còn điều gì để lo lắng ngoài sự lo lắng làm thế nào thực hiện cho hoàn tất mệnh lệnh của Đức Chí Tôn giao phó.
            Bí Pháp Giải thoát ấy, Đức Chí Tôn để hiển hiện ngay trước mắt nhơn sanh mà ít ai để  ý suy nghĩ.
            Nhưng việc thực hiện Bí Pháp nầy được trọn vẹn thì cũng khó khăn vô cùng. Nhưng càng khó khăn thì càng có giá trị xứng đáng. Đâu có dễ gì ! Nhưng không phải là quá khó khăn để chúng ta không thể thực hiện được.
            Nếu chúng ta có một Đức Tin mạnh mẽ nơi Đức Chí Tôn và có một tấm lòng hy sinh, quên mình thì mọi việc đều trở  nên  dễ dàng.
            Cái tấm thân của ta đây, cả chơn thần và linh hồn nữa, chúng ta đã giao hết cho Chí Tôn, giao thật sự với đầy đủ ý nghĩa của nó, thì ta không còn gì là của ta nữa, đừng nói chi là của cha mẹ ta hay vợ con ta.
Như vậy, cái TA tức là cái NGàkhông còn nữa, thì đâu còn gì để CHẤP NGÃ. Đây là một phương pháp PHÁ CHẤP triệt để, hiệu quả hơn tất cả phương pháp khác.
Sự dâng hiến nầy là để Phụng Sự Vạn linh, nếu chúng ta thi hành một cách chí thành thì đủ đem chúng ta trở về cùng Đức Chí Tôn, mà không cần làm thêm một điều gì khác nữa.  Trong TNHT, Đức Chí Tôn có dạy rằng :
            “  Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng, hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều rất thấp thỏi là vào một chỗ  u nhàn mà ẩn thân luyện đạo. Thầy nói cho các con biết, nếu công quả chưa đủ, nhân sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong.
            Vậy muốn đắc quả, thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy thì tìm cách khác mà làm âm chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng  có  thể  đạt địa vị tối cao.” (TNHT1-2 hợpnhứt, B108)
            Trong Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn cấm hẳn lối tu  “Độc thiện kỳ thân” một lối tu ích kỷ, chỉ biết lo riêng mình.
            Thể pháp và Bí pháp của Đạo Cao Đài đều đặt việc PHỤNG SỰ VAÏN LINH là trên hết.
            Tóm lại, Đức Chí Tôn buộc chúng ta dâng Tam bửu cho Ngài là vì Ngài muốn chúng ta thay thế Ngài mà lo “Hoằng khai Đại Đạo, Phổ độ chúng sanh”, tức là lo Phụng Sự Vạn Linh, bởi vì đó là Bí pháp đắc đạo để chúng ta trở về hội hiệp cùng Đức Chí Tôn và Phật Mẫu. (Trích trong Giải Nghĩa Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo)
Top of Page



1.- Đức Chí Tôn có dạy rằng :
“ Luôn dịp, Thầy nói cho các con biết :
Cúng Tứ Thời có ích cho các con lắm, chớ không phải ích chi cho Thầy. Nếu cúng được thường thì lòng dạ nở nang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bịnh tiêu diệt. “  (TNST. Q1 B 39)

2.- Đức Quan Âm Bồ Tát cũng giáng cơ dạy rằng :
“ Các em phải cúng kiếng thường.
1. Một là tập cho chơn thần được gần gũi các Đấng thiêng liêng cho đặng sáng lạn.
2. Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.
3. Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên.
4. Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ.
Các em nhớ à !  “  (TNHT 1-2 hợp nhứt, B 162)

3.- Thất Nương DTC cũng có nói rằng :
   “ Lễ bái thường hành tâm đạo khởi.”

 “ Sự thờ phượng hiến dâng cũng là hình thức để thể hiện lòng tôn kính, chớ không phải vì sự thờ phượng hiến dâng ấy mà được độ rỗi an bài và siêu thoát.
Nếu trong nếp sống thường nhựt, bản thân mình không được trong sạch, lương thiện, hành động mình thất đức, lời nói bất nhơn, các đối xử mình tàn ác, thì dầu chay lạt suốt đời, cúng lạy Tứ thời hiến dâng lễ vật đầy chùa thất cũng không được sự hộ trì và cứu rỗi. . . . . . .
- Sự lễ bái cúng lạy quì mọp, ngoài ý nghĩa trịnh
trọng thi lễ với Phật Trời, lại còn có ý nghĩa câu thúc thân mình trong sự khó khăn để trừ bớt nghiệp thân.
- Tịnh khẩu hoặc niệm Phật tụng kinh để trừ bớt nghiệp khẩu.
- Nhắm mắt tham thiền, hoặc ngó ngay vào Thiên Nhãn, hoặc ngọn nhang, ngọn đèn lưu ly là để trừ lần nghiệp nhãn.
- Tham thiền định ý, khép chặt tư tưởng suy nghĩ vẩn vơ phóng túng là để trừ lần nghiệp ý.
- Thiền định không chấp nhận mọi tiếng động vào tai là để trừ lần nghiệp nhĩ.
Tóm lại, tất cả những điều ấy là những phương pháp trợ giúp cho người tu hành được yên ổn trả dứt nghiệp cũ, không gây nghiệp mới và tạo thêm âm chất để làm vốn liếng sản nghiệp vô hình cho kiếp lai sanh hoặc cho bên kia thế giới.”

Chúng ta cúng lạy Đấng Thượng Đế là để nhớ tưởng và biết ơn Đấng đã sanh ra linh hồn ta và dùng khí sanh quang nuôi nấng linh hồn và chơn thần của chúng ta.
Chúng ta cúng lạy các Đấng Tiên Phật là để nhớ tưởng tấm gương cao cả của các Đấng ấy đã hy sinh trọn đời lo cứu độ chúng sanh.
Chúng ta không nên cúng lạy với tinh thần vị kỷ, cầu lợi cho mình : cúng Phật để cầu Phật ban ơn cho mình, cúng Tiên để cầu Tiên ban phước cho mình, mà nên cúng lạy với tinh thần tôn kính các bậc phi thường và nguyện noi gương các Đấng ấy.
Có người ngoại đạo cho rằng : Chúng ta thờ phượng và cúng lạy một tấm giấy. Nói như thế thật là ngu muội đáng trách !  Bởi vì mỗi ngày các nhân viên của cơ quan nhà nước chào quốc kỳ, cái chào đó không phải là chào một miếng vải màu, mà là chào cái tinh thần của tổ quốc, cái hồn nước của chúng ta, mà có biết bao người qua bao nhiêu thế hệ đã hy sinh để bảo vệ cái tinh thần ấy, cái linh hồn của tổ quốc, của dân tộc.
Khi cúng Đức Chí Tôn, chúng ta nhìn Thiên Nhãn
vẽ trên tờ giấy, chúng ta không còn thấy tờ giấy nữa, mà chúng ta chỉ thấy một Đấng vô cùng cao cả, Đấng Cha lành thiêng liêng đầy tình thương yêu nhơn sanh và lúc nào cũng muốn cứu vớt nhơn sanh ra khỏi biển khổ trầm luân để trở về ở trong lòng Ngài.

Khi cúng Tứ Thời, chúng ta tụng kinh thì cần phải học hỏi để hiểu ý nghĩa lời kinh. Với tấm lòng kính thành, hợp với sự hiểu biết ý nghĩa lời kinh, làm cho tâm hồn ta yên lặng, bớt vọng động, bớt phóng tâm nghĩ quấy, để lần lần chúng ta kềm giữ cái tâm, cái ý, để sau cùng đạt được trạng thái định ý định tâm. Tụng kinh cũng là để cho lời kinh dạy cái tâm của ta, vì các kinh tụng đều là tâm kinh.
Mặt khác, khi chúng ta tụng kinh thì những vong linh vô hình ở chung quanh chúng ta cũng được nghe kinh, nhờ đó họ có thể sớm giác ngộ mà hưởng được ân huệ của các Đấng thiêng liêng, sớm cho đi tái kiếp.
Top of Page



 Tam bửu : Tinh Khí Thần :
Có hai trường hợp : Tam bửu dâng lên Đức Chí Tôn và Tam bửu trong phép luyện đạo.
- Tam bửu dâng lên Đức Chí Tôn :
Tinh là thể xác, tượng trưng bằng cái Hoa.
Khí là chơn thần, tượng trưng bằng Rượu.
Thần là linh hồn, tượng trưng bằng Trà.
- Tam bửu trong phép luyện đạo : luyện Tinh hoá Khí, luyện Khí hiệp Thần, luyện Thần hoàn Hư.
Tinh là chất tinh túy nhứt trong thân thể để di truyền nói giống. Đối với người nam, Tinh là chất tinh trùng; đối với người nữ, Tinh là noãn châu.
Khí là chất bổ dưỡng cao cấp, theo máu đi nuôi dưỡng các cơ quan trong thân thể cho được cường tráng, nhứt là nuôi bộ não cho được minh mẫn sáng suốt.
Thần là chơn thần của mỗi người. Thể xác cường tráng tinh anh thì chơn thần thanh nhẹ và mạnh mẽ.
Tinh của con người là do máu thanh lọc và tích tụ chất tinh túy tạo thành. Theo lẽ tự nhiên thì chất Tinh nầy tiết ra khỏi cơ thể theo đường tình dục để kết hợp với noãn châu của người nữ, tạo thành thai nhi, lưu truyền nòi giống. Đó là thuận chuyển. Bây giờ nghịch chuyển, luyện cho chất Tinh nầy đi ngược lại, biến hóa trở lại thành chất bổ dưỡng cao cấp, gọi là Khí. Luyện được như vậy gọi là Luyện Tinh hóa Khí.
Luyện cho chất Khí ấy theo máu nuôi dưỡng cơ thể cho được cường tráng, nhứt là đem lên bồi bổ não bộ cho sung mãn, làm cho não bộ trở nên sáng suốt tinh anh. Não bộ là trung tâm hoạt động của chơn thần, nên chơn thần người luyện đạo nhờ vậy mà được trong sáng, mạnh mẽ, ấy là do được nuôi dưỡng bởi cái Tinh của người ăn chay trường rất thanh, nên Khí cũng rất thanh. Luyện đặng như vậy gọi là Luyện Khí hiệp Thần. Dùng chữ “hiệp” là vì mỗi người đều có sẵn một chơn thần (xác thân thiêng liêng), chớ không phải do luyện đạo mới có chơn thần.
Cái chơn thần của người chưa luyện đạo thì tầm thường yếu ớt mờ tối. Nhờ luyện đạo mà chơn thần của hành giả được trong sáng, nhẹ nhàng, mạnh mẽ, hào quang ẩn ẩn muốn lòa, nhưng chưa huyền diệu vì chưa thể xuất ra khỏi thể xác mà vân du thiên ngoại.
Phải luyện cho cái chơn thần ấy được huyền diệu, có thể xuất ra hoặc nhập vào thể xác theo cái cửa là Nê hoàn cung, tùy theo ý muốn của hành giả. Luyện được như vậy gọi là  Luyện Thần hoàn Hư, đắc đạo tại thế.

Nghi tiết cúng đàn
tại THÁNH THẤT





Đại Đàn tại Thánh Thất thường cúng lúc 12 giờ trưa.
        Thí dụ : Đại Đàn cúng Vía Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ ngày 18-8 âl hằng năm, tại Thánh Thất của Châu Đạo, có Chức sắc Pháp Chánh HTĐ và Chức sắc Phước Thiện tham dự.
Gần tới 12 giờ trưa, bổn đạo tụ tập trước Thánh Thất. Đầu Tộc Đạo sắp đặt các Chức việc Bàn Trị Sự và Đạo hữu đứng có hàng ngũ chỉnh tề, nam tả nữ hữu.
6 Lễ sĩ mặc áo rộng màu xanh da trời, đội mão trắng, chia làm 3 cặp đi vào chánh điện. Cặp Lễ xướng đứng 2 bên ngoại nghi giữ phận sự xướng lễ.
Đúng 12 giờ, cặp Lễ Xướng khởi xướng :
1. Tịnh túc thị lập. (Đều nghiêm trang đứng hầu)
2. Chấp sự giả các tư kỳ sự.
(Người được phân công phần việc nào thì đến giữ việc ấy).
Các Ban : Nhạc, lễ sĩ, đồng nhi, lễ vụ, kiểm đàn sẵn sàng thi hành phận sự trong đàn cúng.
3. Lôi Âm Cổ khởi.  (Bắt đầu đánh trống Lôi Âm)
Vị Chức việc hầu trống nơi Lôi Âm Cổ Đài khởi đánh trống. Trước tiên đánh 3 tiếng trống, rồi kệ 4 câu, dứt mỗi câu kệ thì đánh 1 tiếng trống lớn.  Bài kệ chép ra sau đây :
Lôi Âm Thánh cổ triệt hư không,
Truyền tấu càn khôn thế giới thông.
Đạo pháp đương kim dương chánh giáo.
Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.  
            Kế đó, Chức việc hầu trống nhịp lên mặt trống 12 tiếng trống nhỏ liên tiếp gọi là “lôi 12 điểm”, rồi đánh tiếp 3 hồi, mỗi hồi 12 chập, mỗi chập 12 dùi, lúc đầu đánh chậm, sau đánh liên dùi thúc cho mau, sau cùngđánh chậm rãi 3 dùi (2 nhặt 1 thưa) rồi dứt.
Cặp Lễ Xướng tiếp :
         4. Bạch Ngọc Chung minh. (dộng chuông BạchNgọc)
Vị Chức việc hầu chuông nơi Bạch Ngọc Chung Đài, khởi dộng 3 tiếng chuông, rồi kệ 4 câu kệ chuông. Dứt mỗi câu kệ thì dộng 1 tiếng chuông lớn. Bài kệ chuông chép ra sau đây :
Thần chung thinh hướng phóng Phong Đô, i
Địa Tạng khai môn phóng xá cô. i
Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện, i
Sám  hối  âm  hồn  xuất  u  đồ. i
Kế đó, Chức việc hầu chuông nhịp 12 tiếng chuông nhỏ liên tiếp, rồi dộng tiếp 3 hồi, mỗi hồi 12 chập, mỗi chập 12 tiếng, lúc đầu đánh chậm, sau đánh thúc cho mau, cuối cùng đánh chậm rãi 3 tiếng (2 nhặt 1 thưa) rồi dứt.
5. Cung thành thứ tự Chức sắc nhập đàn.
(Các Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu nam nữ đi hàng một vào chánh điện, nam bên tả, nữ bên hữu, đi vào trật tự và im lặng).
Chức sắc Pháp Chánh đi vào trước vì thuộc HTĐ.
Sau đó là Giáo Hữu Khâm Châu Đạo, Chí Thiện Quản Châu Đạo PT, Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo, Giáo Thiện Quản Tộc Đạo PT, các vị Chánh Trị Sự, Hành Thiện PT, Đầu Phòng Văn, Phó Trị
Sự, Thông Sự, Thính Thiện, các Đạo hữu từ từ đi vào chánh điện.
Nữ phái Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu cũng sắp đặt trật tự y như bên nam phái đi vào chánh điện, đứng bên phía nữ phái.
Hai bên nam nữ tạo thành hai ban đứng hầu nơi chánh điện, đứng đối diện nhau, tay bắt ấn Tý.
6. Nội Nghi, Ngoại Nghi tựu vị.
CSCĐ xá đàn 1 xá, bước vào đứng trước Nội nghi, CVNN cũng xá đàn, bước vào đứng trước Ngoại nghi, nhìn lên bửu điện.
7. Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị. 
(Chức sắc Thiên phong sắp xuống, vị trí của ai nấy đứng).
Vị hầu chuông khắc 3 tiếng chuông lớn làm hiệu, các Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ đồng xá đàn một xá, bước vô, xoay người đứng hướng mặt lên bửu điện.
Chức sắc Pháp Chánh thì đứng trước bàn thờ Đức Hộ Pháp, tay bắt ấn Tý, nhìn vào chánh điện và đứng như vậy suốt thời cúng.
8. Nhạc tấu Quân Thiên.
Đầu tiên, nhạc và trống trổi khúc nhạc Tiếp Giá, Đức Chí Tôn và các Đấng giáng đàn. Dứt trống, nhạc đờn 5 bài hiến lễ vì là vía Đức Lý Nhứt Trấn Oai Nghiêm. [Nếu Ban Nhạc của Thánh Thất thiếu Nhạc sĩ thì đờn 3 bài, hoặc  là đờn 3 hiệp Ngũ đối hạ] 
9. Nghệ hương án tiền. (Bước tới đứng trước bàn hương)
LSĐĐ bước vào đứng trước vị CVNN. Hai Lễ sĩ  đài, một bên đặt bó hương 5 cây bó lại, chưa đốt; một bên đặt một cái lư trầm cũng chưa đốt. [Nếu không có trầm thì  dùng  nhang thơm cắt khúc bó lại tạo thành bó lớn đặt vào lư].
10. Giai quì. (đều quì xuống)
Chuông khắc 3 tiếng, mọi người xá 3 xá, đồng quì xuống,
Những người không có chỗ quì thì đứng hầu đàn.
__________________________________________________________________________________________________________________
Viết tắt :    CSCĐ  : Chức sắc chứng đàn (quì tại Nội nghi).
                    CVNN : Chức việc quì Ngoại nghi.           
        LSĐĐ  : Hai cặp Lễ Sĩ  Đăng Đài (2 Lễ sĩ  cầm đèn, 2 Lễ sĩ  cầm đài)
11. Phần hương. (đốt nhang)
CVNN lấy bó hương 5 cây, đưa vô hai ngọn đèn của cặp Lễ sĩ đăng đang dụm lại, đốt cháy, xá 3 xá, trao cho Lễ sĩ cầm đài, rồi đốt lư trầm, cũng xá 3 xá, trao cho Lễ sĩ  cầm đài kia.
LSĐĐ đứng dậy, lui ra, xoay người hướng vào bửu điện, chuẩn bị điện vào nội nghi để đem bó hương cho CSCĐ cầu nguyện dâng hương lên Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng.
12. Điện hương.
(Lễ sĩ điện lễ dâng hương, bước đi theo hình chữ Tâm).
LSĐĐ cung tay lên ngang mày, nghe theo điệu trống, bước đi theo hình chữ Tâm (. . .) (cách đi lễ đặc biệt của Đạo Cao Đài), điện từ ngoại nghi vào tới nội nghi.
13. Quì.  Trống đổ 3 hồi cho các Lễ sĩ  quì.
Bốn Lễ sĩ  đăng đài đồng quì xuống, đối diện nhau, trước vị Chức sắc chứng đàn, rồi trao bó hương cho CSCĐ, trao lư trầm cho vị Chức sắc nữ phái quì kế CSCĐ.
Khắc chuông, CSCĐ hai tay cầm bó hương đưa lên trán thỉnh Thánh và niệm :
- Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,
- Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,
- Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát,
- Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,
- Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân,
- Nam mô chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần.
Các vị khác trong đàn cũng đưa ấn Tý lên trán lấy dấu Phật Pháp Tăng và niệm y như vị CSCĐ.
14. Thành kính tụng Niệm Hương chú.
(Thành kính tụng kinh Niệm Hương). Các Giáo nhi và đồng nhi tụng kinh Niệm Hương giọng Nam ai. (Ban Nhạc và các đồng nhi đều đứng trên lầu HTĐ). CSCĐ hai tay cung kính nâng bó hương lên ngang trán trong suốt thời gian đồng nhi tụng kinh. Khi tụng danh hiệu các Đấng thì  khắc 1 tiếng chuông để mọi người cúi đầu.
15. Thượng hương. (Đem hương lên cắm vào lư hương)
Hai vị tiếp lễ, một cầm bó hương đem lên cắm vào giữa 5 cây hương sẵn có trong lư hương, một bưng lư trầm đặt kế lư hương. Nhạc đánh thét, LSĐĐ đứng lên, lui ra, trở bộ quay về ngoại nghi.
16. Cúc cung bái.  (Cúi mình lạy xuống)
Người hầu chung lần lượt khắc 3 tiếng chuông, toàn thể lạy
Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.
17. Thành kính tụng Khai Kinh chú. 
       (Thành kính tụng bài Khai Kinh).
       Nhạc gài đờn Nam ai, đồng nhi tụng Khai kinh.
       Khi dứt bài thì tất cả cúi đầu, không xá, không lạy.
18. Thành kính tụng Ngọc Hoàng Kinh. 
       (Thành kính tụng kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế). Đồng
     nhi tụng kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế, giọng Nam xuân.
19. Cúc cung bái. 
   Nhạc đánh lập ban. Lễ vụ khắc chuông. Toàn thể lạy Đức
   Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.
20. Thành kính tụng Phật giáo Tâm kinh.  
(Thành kính tụng kinh Phật giáo). (Tâm kinh là kinh dạy về
Tâm pháp). Đồng nhi tụng kinh Phật giáo, giọng Nam xuân.
21. Cúc cung bái.
Toàn thể lạy Đức Phật Nhiên Đăng 3 lạy 9 gật, mỗi gật
niệm : Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
22. Thành kính tụng Tiên giáo Tâm kinh. 
       Thành kính tụng kinh Tiên giáo, giọng Nam xuân.
23. Cúc cung bái. 
   Lạy Đức Thái Thượng 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô
  Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.
24. Thành kính tụng Thánh giáo Tâm kinh. 
       Thành kính tụng kinh Thánh giáo, giọng Nam xuân.
25. Cúc cung bái.        
  Lạy Đức Khổng Thánh 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô
  Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.
26. Cung hiến Tiên hoa. (Kính cẩn dâng hoa quí)
       Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một bình hoa nhỏ đủ 5
       sắc hoa tươi, một bên có 1 trái cây, rồi LSĐĐ đồng đến
       đứng trước CVNN, day mặt vào nhau.
27. Quì.    (4 Lễ sĩ  đăng đài quì xuống)
28. Chỉnh Tiên hoa.  (Sửa sang hoa quí)
       CVNN chỉnh sửa hoa và quả cho ngay ngắn, cầm bình
      hoa và dĩa quả xá xuống 3 xá, rồi trao cho hai Lễ sĩ  đài.
      Nhạc đổ 3 hồi, LSĐĐ đứng dậy, lui ra hai bên, quay mặt
      hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện dâng hoa và quả.
29. Điện Tiên hoa.   (Lễ sĩ  điện dâng hoa quí)
Lễ sĩ  điện dâng hoa giống y như lúc Điện Hương. Lúc Lễ sĩ điện thì đồng nhi thài bài Dâng Hoa theo giọng Đảo Ngũ Cung. Khi dứt thài thì Lễ điện cũng vừa tới nội nghi, day mặt vào giữa.
30. Quì.  Nhạc đổ 3 hồi, LSĐĐ quì xuống.
Vị Chức sắc chứng đàn  tiếp lấy bình hoa, xá 3 xá, đưa bình hoa lên trán cầu nguyện, đồng thời tất cả mọi người trong đàn cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Hoa : “ Con xin dâng hình hài của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.”
Vị Chức sắc nữ phái quì bên cạnh CSCĐ, hai tay  bưng dĩa  trái cây, cũng xá 3 xá rồi  đưa lên trán cầu nguyện, cử chỉ giống như CSCĐ nam phái.
31. Thượng Tiên hoa.  (Đem Hoa đặt lên bàn thờ)
Cầu nguyện xong đưa bình hoa và dĩa trái cây cho 2 vị tiếp lễ đem lên đặt trên bàn thờ. Trong lúc đó, trống đổ, LSĐĐ đứng lên, trở bộ quay lại đi về  ngoại nghi.
32. Cúc cung bái.  
       Nhạc đánh lập ban, toàn thể lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4
       gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.
33. Cung hiến Tiên tửu.  (Cung kính dâng rượu quí)
Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một ly nhỏ để đựng rượu, một bên có một cái nhạo rượu trắng tinh khiết, rồi 4 Lễ sĩ  đăng đài đồng đến đứng trước CVNN, day mặt vào nhau.
34. Quì.   LSĐĐ đều quì xuống trước CVNN.
35. Chước tửu.  (Rót rượu)
       Vị CVNN cầm nhạo rót rượu vào ly, hai tay cầm ly
        rượu nâng lên xá 3 xá rồi trao lại cho  Lễ sĩ đài.
36. Điện Tiên tửu.  (Lễ sĩ  đi điện dâng rượu lên)
       Công việc giống y như  Điện Tiên hoa.
       Đồng nhi thài bài Dâng Rượu, Lễ sĩ  điện lên nội nghi.
37. Quì.  LSĐĐ quì xuống trước CSCĐ.
CSCĐ tiếp ly rượu, vị Chức sắc nữ phái quì kế bên tiếp nhạo rượu, xá 3 xá, đồng đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Rượu : “ Con xin dâng chơn thần của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.”
38. Thượng Tiên tửu. (Đem rượu lên đặt trên bàn thờ)
Cầu nguyện xong, trao ly rượu và bình rượu cho tiếp lễ đem lên bàn thờ. Trống đổ, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ quay về ngoại nghi.
39. Cúc cung bái.   
       Lạy Chí Tôn 1 lạy 4 gật, mỗi gật niệm chú của Thầy.
40. Cung hiến Tiên trà.  (Cung kính dâng trà quí) 
       Hai Lễ sĩ đài sắp đặt, một bên đặt 1 bình trà, một bên đặt 1 cái tách để dựng nước trà. LSĐĐ cùng vào đứng trước CVNN.
41. Quì.  LSĐĐ quì xuống trước CVNN.
42. Điểm trà.  (Rót nước trà)
       CVNN cầm bình trà, rót nước trà vào tách, hai tay nâng
       tách trà đưa lên trán xá 3 xá, trao lại cho hai Lễ sĩ  đài.
43. Điện Tiên trà. (Lễ sĩ điện trà dâng lên)
       Công việc giống y như  Điện Tiên hoa.
       Đồng nhi thài bài Dâng Trà, Lễ sĩ  điện lên nội nghi.
44. Quì.  LSĐĐ quì xuống trước CSCĐ.
       CSCĐ tiếp tách trà, vị Chức sắc nữ phái quì kế bên tiếp
bình trà, xá 3 xá, đồng đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Trà tức là dâng linh hồn, nhưng lần cầu nguyện chót nầy nên dâng cả Tam bửu lên Đức Chí Tôn, vì đây là Bí pháp giải thoát : “ Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.”
45. Thượng Tiên trà. (Đem trà lên đặt trên bàn thờ)
Cầu nguyện xong, trao tách trà và bình trà cho tiếp lễ đem lên bàn thờ. Trống  đổ, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ quay về ngoại nghi.
46. Cúc cung bái. (lạy 1 lạy 4 gật giống như mục 39)
47. Sớ văn thượng tấu.  (Sớ văn tâu lên)
      Hai Lễ sĩ đăng đi lên nội nghi, bước thường, không điện.
48. Quì. 
     Hai vị tiếp lễ, 1 vị cầm dĩa đựng sớ văn, 1 vị cầm cái thố (hay cái bình) để đựng tro lúc đốt sớ, quì phía trên cặp Lễ sĩ  đăng. Một vị có phận sự đọc sớ lên quì gần CSCĐ.
 CSCĐ cầm sớ xá 3 xá, cầu nguyện, rồi rút tờ sớ ra trao cho người đọc sớ, còn vị CSCĐ hai tay cầm bao sớ cung kính nâng lên ngang trán và giữ tư thế nầy trong suốt thời gian đọc sớ.
49. Thành độc sớ văn.  (Thành kính đọc bài văn sớ)
Vị đọc sớ, cao giọng đọc to lên, đến danh hiệu của các Đấng thì dừng lại một chút để khắc chuông cúi đầu kỉnh lễ.
Bài văn sớ cúng Vía Đức Lý Đại Tiên  chép ra như sau :

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Thất thập . . . niên)
Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy, Thiên vận . . . . . . niên, bát ngoạt, thập bát nhựt, ngọ thời, hiện  tại Việt Nam quốc, . . . . . Trấn, . . . . . Châu, . . . . . Tộc, . . . . . Hương,  cư trụ Thánh Thất chi trung.
Kim đệ tử . . . (phẩm tước và Thánh danh của vị Chức sắc chứng đàn). . . công đồng chư Chức sắc hiệp dữ  Chức việc, Đạo hữu nam  nữ đẳng  quì tại điện tiền, thành tâm trình tấu.
HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI :
Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.
Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
TAM TÔNG CHƠN GIÁO :
Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,
Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,
Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.
   TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM :
        Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,
        Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,
        Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
           Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,
           Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,
           Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,
           Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.

Kim vì, tiết chí Trung Thu kiết nhựt lương thần, chánh thị   Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm Thánh đán, chư Thiên phong nghiêm thiết đàn tràng, hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm hiến lễ.
Ngưỡng nguyện Lý Đại Tiên Trưởng, Nhứt Trấn Oai Nghiêm đạt đắc trí dõng thiên tài, thảo hích man thơ, thanh danh quán thế, phụng thừa Thiên mạng, bảo thủ Đại Đạo chơn truyền, phò trì chư đệ tử đào luyện trí thức tinh thần, thật hành chánh giáo, phổ hóa nhơn sanh hiệp hòa chủng tộc, giải cứu chiến tranh khổ nạn, vãn hồi trật tự  an ninh, cộng hưởng thạnh trị thái bình, thanh nhàn hạnh phước.
Chư đệ tử  đồng thành tâm khấu bái cẩn sớ thượng tấu
                                                                        Dĩ  văn.
                    Đệ tử  : (phẩm tước và Thánh danh của Chức sắc chứng đàn)
50. Cung phần Sớ văn.  (Cung kính đốt sớ)
                   Vị CSCĐ  đặt lá sớ vào bao sớ,  cầm bao sớ xá 3 xá, hai Lễ sĩ đăng dụm hai ngọn đèn lại cho Chức sắc đốt sớ, thấy cháy được phân nửa thì bỏ vào thố, vị tiếp lễ đem thố đặt lên bàn thờ, hai Lễ sĩ  quay trở về ngoại nghi, vị đọc sớ trở về chỗ cũ.
51. Cúc cung bái. 
Mục nầy là lạy và niệm danh hiệu của Đấng ghi trong lòng sớ, chỗ Ngưỡng vọng hay Ngưỡng nguyện :
- Trong đàn nầy, Vía Đức Lý Thái Bạch : Ngưỡng nguyện Lý Đại Tiên Trưởng, nên chúng ta lạy Đức Lý 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : “Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ”.
- Nếu lòng sớ ghi là : Ngưỡng vọng Vô Trung Từ Phụ, chúng ta lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú Thầy.
- Nếu lòng sớ ghi là : Ngưỡng nguyện Đức Thích Ca Mâu Ni, chúng ta lạy Đức Phật Thích Ca 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.        vv...
52. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện. 
       Đồng nhi tụng Ngũ Nguyện, giọng Nam xuân.
53. Cúc cung bái. (Lạy Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)
54. Hưng bình thân.  (Cất mình đứng lên)
      Khắc chuông. Mọi người đứng dậy, xá sâu xuống 3 xá,
      quay trở ra xá chữ  KHÍ sau bàn thờ Đức Hộ Pháp 1 xá.
55. Cung thành thứ tự phân lập lưỡng ban.
       (Cung kính, thứ tự, phân ra đứng thành hai ban)
                    Tất cả Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu trong đàn, lui ra 2
                    bên, nam tả nữ hữu, đứng trật tự thành hai ban nam nữ
                    như lúc nhập đàn.
56. Hiệp Thiên Đài Chức sắc nhập nội nghi.
    Chức sắc HTĐ đi vào nội nghi, xá 3 xá, quì, thỉnh Thánh, cầu nguyện, lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy, quay trở ra xá chữ KHÍ 1 xá, xong đi trở về vị trí  cũ.
Các Ban : Đồng nhi, Lễ sĩ, lễ vụ, kiểm đàn, lần lượt vào chánh điện lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, niệm câu chú Thầy.
Những người hầu đàn tiếp tục vào lạy Đức Chí Tôn.
Ban Nhạc quì ngay trên lầu HTĐ lạy Đức Chí Tôn sau chót.
Đến đây, xem chừng có Chức sắc thuyết đạo không ?
Nếu có thì giữ im lặng nghe thuyết đạo.
Xong thì  dộng chuông bãi đàn : Người hầu chuông nơi Bạch Ngọc Chung Đài dộng trước 3 tiếng chuông, rồi kệ bài Kệ chuông bãi đàn, kệ xong 1 câu thì dộng 1 tiếng chuông lớn. 
Bài kệ chuông bãi đàn có 3 câu :
  Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên,
         vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận.
  Thiên phong hải chúng, quốc thái dân an,
        hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.
  Án  dà  ra  đế  dạ  ta  bà  ha.
Tiếng chuông kệ bãi đàn vừa dứt, cặp lễ sĩ  xướng :
57. Lễ thành.  (cuộc lễ cúng tế đã xong)
       Nhạc đánh thét rồi dứt. Mọi người xá đàn 1 xá.
       Chức sắc từ bên trong đi ra trước, đi hàng một, đi ra
       cũng trật tự như khi đi vào nhập đàn.
       Khi ra khỏi chánh điện thì mới được xả ấn Tý. 
            Đại Đàn tại Thánh Thất có tất cả 57 Nghi tiết.
Top of Page



        Tiểu Đàn tại Thánh Thất thường cúng lúc 12 giờ trưa.
       Các nghi tiết Tiểu đàn đơn giản hơn nhiều so với Đại Đàn, vì không lập ngoại nghi, không Chức việc quì ngoại nghi, Lễ sĩ không điện, Nhạc Tấu Quân Thiên đờn 3 bài.
Do đó, trong Nghi tiết Tiểu đàn, bãi bỏ các mục :
- Điện hương,     - Chỉnh Tiên hoa,
- Chước tửu,       - Điểm trà.
Tiểu đàn, bỏ bớt 8 mục, còn lại : 49 mục.
Nghi tiết Tiểu đàn tại Thánh Thất :

1.    Tịnh túc thị lập.
2.    Chấp sự giả các tư kỳ sự.
3.    Lôi Âm Cổ khởi.
4.    Bạch Ngọc Chung minh.
5.    Cung thành thứ tự Chức sắc nhập đàn.
6.    Nội nghi tựu vị.
7.    Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị.
8.    Nhạc Tấu Quân Thiên. (Nhạc tiếp giá rồi đờn 3 bài)
9.    Nghệ hương án tiền.  
    (4 Lễ sĩ  đăng đài, một bên có bó hương 5 cây, một bên có
      lư trầm, bưng đi vào nội nghi, đi thường, không điện,
      đứng hai bên CSCĐ,  quay mặt vào giữa).  
10.  Giai quì. (Tất cả mọi người trong đàn đều quì xuống, trống đổ cho 4 lễ sĩ đăng đài  quì, lễ sĩ trao bó hương cho CSCĐ và trao lư trầm cho vị Chức sắc nữ phái quì kế bên).
11.  Phần hương.
12.  Thành kính tụng Niệm Hương chú.
13.  Thượng hương.
(Trong lúc 2 tiếp lễ đem bó hương và lư trầm lên bàn thờ thì trống đổ cho 4 lễ sĩ đứng lên, trở bộ đi trở xuống).
14.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn)
15.  Thành kính tụng Khai Kinh chú.
16.  Thành kính tụng Ngọc Hoàng Kinh.
17.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)
18.  Thành kính tụng Phật giáo Tâm kinh.
19.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Nhiên Đăng Cổ Phật)
20.  Thành kính tụng Tiên giáo Tâm kinh.
21.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Thái Thượng Đạo Tổ)
22.  Thành kính tụng Thánh giáo Tâm kinh.
23.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Khổng Thánh).
24.  Cung hiến Tiên hoa.
(4 lễ sĩ đăng đài bưng bình hoa và dĩa quả đi lên nội nghi, đi thường, không điện, vào đứng 2 bên CSCĐ, day vào giữa)
25.  Quì.  (4 lễ sĩ đăng đài quì xuống, trao bình hoa cho CSCĐ, và trao dĩa quả cho vị Chức sắc nữ quì kế bên).
26.  Điện Tiên hoa.
(CSCĐ hai tay cầm bình hoa xá 3 xá, đưa lên trán cầu nguyện Dâng Hoa, mọi người trong đàn cùng cầu nguyện Dâng Hoa, rồi CSCĐ cung kính nângbình hoa lên ngang trán trong lúc đồng nhi thài bài Dâng Hoa)
27.  Thượng Tiên hoa. (CSCĐ cầm bình hoa xá 3 xá, rồi trao cho 2 tiếp lễ đem hoa và quả lên đặt trên bàn thờ, trống đổ, 4 lễ sĩ đứng dậy, trở bộ  quay lại, đi xuống).
28.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)
29.  Cung hiến Tiên tửu.
     (Giống như mục 24, nhưng dâng ly rượu và nhạo rượu)
30.  Quì.
31.  Điện Tiên tửu. (Giống mục 26)
32.  Thượng Tiên tửu.
33.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)
34.  Cung hiến Tiên trà.
     (Giống như mục 24, nhưng dâng tách trà và bình trà)
35.  Quì.
36.  Điện Tiên trà.
37.  Thượng Tiên trà.
38.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 1 lạy 4 gật, niệm chú)
39.  Sớ văn thượng tấu.
40.  Quì.
41.  Thành độc Sớ văn.
42.  Cung phần Sớ văn.
43.  Cúc cung bái.
.
(Sau khi đốt sớ thì lạy và niệm danh Đấng ghi trong lòng sớ, chỗ Ngưỡng nguyện, hay Ngưỡng vọng : Thí dụ như :
-          Ngưỡng vọng Vô Trung Từ Phụ : chúng ta lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật, mỗi gật niệm câu chú của Thầy.
-          Ngưỡng nguyện Đức Hộ Pháp : chúng ta lạy Đức Hộ Pháp 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.             vv….
44.  Thành tâm tụng Ngũ Nguyện.
45.  Cúc cung bái. (Lạy Đức Chí Tôn 3 lạy 12 gật niệm chú)
46.  Hưng bình thân.
47.  Cung thành thứ tự phân lập lưỡng ban.
48.  Hiệp Thiên Đài Chức sắc nhập nội nghi.
49.  Lễ thành.
Tiểu đàn cúng tại Thánh Thất có tất cả 49 Nghi tiết.
Top of Page



        Tại Thánh Thất, cúng Tứ Thời vào 4 thời điểm : Tý (0 giờ), Ngọ (12 giờ), Mẹo (6 giờ) và Dậu (18 giờ).
Cúng Tứ thời tại Thánh Thất có nghi tiết giống y  như cúng Tứ thời tại tư gia, chỉ khác là lúc khởi đầu thời cúng có dộng chuông và kệ chuông I - II, và lúc sau cùng có kệ chuông và dộng chuông bãi đàn.

Diễn tiến : Đúng giờ cúng, trên Bạch Ngọc Chung Đài, vị Chức việc khởi dộng chuông nhứt.
Trước hết dộng 3 tiếng chuông, kệ 3 câu, mỗi câu dộng 1 tiếng chuông.  Bài kệ chuông nhứt :
    Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn.
    Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.
    Án  dà  ra  đế  dạ  ta  bà  ha.
Khi hết chuông nhứt, các Chức sắc, Chức việc và Đạo hữu nam nữ tham dự cúng Tứ thời đi vào chánh điện, sắp hàng hai bên, nam nữ đứng đối diện nhau, tay bắt ấn Tý, chờ nghe chuông nhì.
Kệ chuông nhì, dứt mỗi câu thì dộng 1 tiếng :
     Nhứt vi  u  ám tất giai văn.
     Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.
     Án dà  ra  đế  dạ  ta  bà  ha.
Người hầu chuông nơi chánh điện gõ 3 tiếng chuông, hai bên xá đàn 1 xá, bước vào trong, nhìn lên Thiên bàn, gõ chuông 3 lần, xá 3 xá, quì xuống.
Gõ chuông lấy dấu Phật Pháp Tăng, thỉnh Thánh ...
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
             (giống y  như khi cúng Tứ thời tại tư gia)
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Khi đến phần Dâng Tam bửu, tùy theo thời mà thài.
- Cúng khuya và trưa  : thài bài Dâng Rượu.
- Cúng sáng  và chiều : thài bài Dâng Trà.
- Khi cúng có Dâng sớ (sớ tân cố, sớ tuần cửu, sớ tiểu tường, đại tường, vv . . .) : thài đủ 3 bài : Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà.
Dù thài dâng 1 bửu hay thài dâng đủ 3 bửu, chúng ta cũng cứ cầu nguyện dâng đủ Tam bửu lên Đức Chí Tôn vì đây là Bí pháp giải thoát chúng ta khỏi luân hồi :

         “Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát,
            Nam mô Tam Tông Chơn Giáo,
          Nam mô Tam Trấn Oai Nghiêm,
          Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Chí Tôn tùy phương sử dụng.
Cầu xin các Đấng thiêng liêng chứng minh. “

Tụng Ngũ Nguyện, lạy xong đứng dậy, xá 3 xá, quay ra xá chữ Khí 1 xá, lui ra hai bên, chờ kệ chuông bãi đàn.
“ Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên . . . . .”
Dứt kệ chuông bãi đàn, hai bên xá đàn 1 xá, bắt đầu đi ra, trong đi ra trước, lần lần tới ngoài. Hết.
Top of Page



1. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại Thánh Thất :
Đây là bàn thờ Ông Bà Chung cho các tín đồ cư ngụ trong một Tộc Đạo.
Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ được thiết lập nơi nhà hậu của Thánh Thất hoặc hậu điện Điện Thờ Phật Mẫu.
Cách sắp đặt trên bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ tại hậu điện Thánh Thất hay Điện Thờ nên theo mẫu thống nhứt là bàn thờ Phước Lộc Thọ nơi hậu điện Báo Ân Từ.
Mẫu nầy đã được trình bày nơi Chương 4 mục VII.
2. Nghi tiết cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ :
Vào ba ngày rằm lớn, tại Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu đều có tổ chức cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ, có một cặp lễ xướng, hai người tiếp lễ, ban nhạc và đồng nhi.
Các nghi tiết cúng tế giống y như nghi tiết CÁO TỪ TỔ trong Tang lễ.

Nghi châm chước cúng tế Cửu Huyền Thất Tổ :
Cặp lễ bắt đầu xướng :
1. Tử tôn tựu vị. (con cháu tới đứng tại vị trí của mình)
     Người chủ tế đứng hàng đầu, tay bắt ấn Tý.
     Tất cả những người quì tế phải mặc áo dài trắng quần
     trắng, nam đội khăn đóng đen, nữ để đầu trần.
2. Giai quì. (đều quì xuống).  Tất cả xá 3 xá, quì xuống.
3. Phần hương. (đốt nhang)
    Tiếp lễ đốt 3 cây hương, trao cho người chủ tế.
4. Nguyện hương. (cầm nhang cầu nguyện)
   Chủ tế cầm 3 cây hương đưa lên trán cầu nguyện.
5. Thượng hương. (dâng hương cắm vào lư nơi bàn thờ)
     Người tiếp lễ tiếp 3 cây hương đem cắm vào lư hương.
6. Cúc cung bái. (cúi mình lạy xuống)
    Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.
7. Chước tửu. (rót rượu)
    Người tiếp lễ lấy nhạo rót rượu vào ly rượu trên bàn thờ.
8. Cúc cung bái.
    Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.
9. Ai chúc. (đọc kinh tế lễ với giọng Nam ai)
    Đồng nhi tụng Kinh Cầu Tổ Phụ Đã Qui Liễu, rồi tụng
    tiếp ba biến Kinh Cứu Khổ. Chỗ cứu hộ đệ tử thì tụng là :
     cứu hộ  Cửu Huyền Thất Tổ thoát ly  khổ nạn . . . . . .
10. Cúc cung bái.
    Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.
11. Điểm trà.  (rót nước trà)
     Người phụ lễ rót nước trà vào tách nước trà trên bàn thờ.
12. Cúc cung bái.
      Tất cả những người quì tế lạy xuống 3 lạy trơn.
13. Hưng bình thân. (cất mình đứng thẳng lên)
       Tất cả những người quì tế đứng dậy, xá 3 xá.
14. Tử tôn dĩ hạ giai xuất. (Tất cả con cháu từ đó
       sắp xuống đều bước ra ngoài).
15. Lễ thành. (Cuộc tế lễ đã xong).
Top of Page



    1*. Nhạc tấu Quân Thiên : (. . . . )
Quân là cái bàn xoay của người thợ nặn đồ gốm. Quân Thiên là chỉ Đấng Tạo Hóa, là Thượng Đế.
Nhạc tấu Quân Thiên là những khúc nhạc tấu lên để hiến lễ Đức Chí Tôn.
Điển tích : Quân Thiên Nhạc.
Theo Sử Ký, Triệu Giản Tư mắc bệnh, năm ngày liền không nhận ra người thân. Biển Thước đến thăm bịnh, coi mạch xong, Đổng An Vu hỏi, Biển Thước trả lời :
- Không có gì lạ cả, trước kia Tần Mục Công cũng bị bệnh như thế, 7 ngày sau mới tỉnh.
Trong lúc bị bệnh như thế, Triệu Giản Tư thấy mình đi lên chơi chốn Thiên đình, nghe tấu một điệu nhạc rất hay, xúc động cả tâm can, gọi là Quân Thiên Nhạc.
Hai ngày rưỡi sau, Triệu Giản Tư tỉnh lại, nói với một quan Đại Phu rằng :  - Dữ bách Thần du ư Quân Thiên, quảng nhạc cửu tấu vạn vũ, bất loại tam đại chi nhạc, kỳ thanh động nhân tâm. Nghĩa là : Cùng trăm Thần ruổi chơi nơi Quân Thiên, quảng nhạc tấu 9 khúc, vạn điệu múa, không khúc nào giống khúc nào thời tam đại, tiếng nhạc làm  xúc động lòng người.
Lâu nay, chúng ta thường viết “NHẠC TẤU HUÂN THIÊN”, nên sửa lại viết là “Quân Thiên” mới đúng chánh tả.
Có 3 trường hợp Nhạc tấu Quân Thiên (NTQT) :
1.- Cúng Tiểu đàn : NTQT chỉ đờn 3 bài :
            - Ngũ đối hạ. - Long đăng.      - Tiểu khúc.
2.- Cúng Đại Đàn 3 Đấng Giáo chủ Tam giáo, Tam
Trấn Oai Nghiêm và Đức Chúa Jésus : NTQT đờn 5 bài :
            -  Xàng xê.      -  Ngũ đối thượng.
            -  Ngũ đối hạ. -   Long đăng. -  Tiểu khúc.
3.- Cúng Đại Đàn Vía Đức Chí Tôn (mùng 9 tháng giêng), và 3 ngày rằm lớn của Tam nguơn :
Nhạc tấu Quân Thiên đờn 7 bài, ý nghĩa như sau :
1. Xàng xê : nghĩa là đưa qua trộn lại, không ở một chỗ, ấy là Hỗn độn sơ khai (khi nổ ra một tiếng).
2. Ngũ đối thượng : nghĩa là 5 từng trên, trên trời có Ngũ Khí, ấy là khí thanh nổi lên làm trời.
3. Ngũ đối hạ : nghĩa là 5 từng dưới, đó là Ngũ Hành, ấy là trược khí hạ xuống làm đất.
4. Long đăng :  nghĩa là rồng lên, ấy là Dương.
5. Long ngâm : nghĩa là rồng xuống, ấy là Âm.
6. Vạn giá : nghĩa là muôn việc đã định rồi, ấy là muôn loài vật đều có tên.
7. Tiểu khúc : nghĩa là sự nhỏ, ngắn, ấy là sự nhỏ ngắn đều có định luật và có tên.
Khi Nhạc tấu Quân Thiên thì Bát hồn vận chuyển dâng sự sống lên Đức Chí Tôn, nên chúng ta phải xem trọng giờ phút ấy, giữ mình cẩn thận, phải đứng im lặng, nghiêm trang, không được nói chuyện hay đi tới lui, hoặc cử động như đập muỗi, gãi chỗ ngứa, . . . giữ tư tưởng trong sạch  tưởng niệm Đức Chí Tôn.
Tại các Thánh Thất địa phương thường thiếu nhạc sĩ, nên không có khả năng đờn đủ 5 bài hay 7 bài theo như nghi lễ qui định, lúc đó chỉ đờn 3 bài (Ngũ đối hạ, Long đăng, Tiểu khúc); nếu như không đờn được 3 bài nầy thì chỉ đờn 1 bài Ngũ đối hạ, mà đờn 3 hiệp.

2*. Giải nghĩa các bài Kệ trống và chuông:
- Lôi Âm Cổ Đài : cái đài có đặt trống Lôi Âm, thường gọi là Lầu trống. Lôi là sấm, âm là tiếng, cổ là cái trống. Lôi âm cổ là cái trống phát ra tiếng lớn như tiếng sấm.
- Bạch Ngọc Chung Đài : cái đài có đặt chuông Bạch Ngọc, thường gọi là Lầu chuông.

1.- Kệ trống :
C.1 : Lôi Âm thánh cổ triệt hư không.
          Tiếng trống Lôi Âm thiêng liêng thấu suốt tới cõi Hư không.
C.2 : Truyền tấu càn khôn thế giới thông.
          Tiếng trống truyền đi để tỏ bày cho cả càn khôn thế giới rõ.
C.3 : Đạo pháp đương kim dương chánh giáo.
          Giáo lý của Đạo Cao Đài hiện nay nêu cao cho mọi người
          biết, đây là một nền tôn giáo chơn chánh.
C.4 : Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung.
         Ánh sáng thiêng liêng chiếu sáng rực rỡ tòa Bạch Ngọc Kinh.
            2.- Kệ chuông Đại đàn và Tiểu đàn :
C.1 : Thần chung thinh hướng phóng Phong đô.
          Tiếng chuông thiêng liêng phát ra hướng đến cõi Phong đô.
C.2 : Địa Tạng khai môn phóng xá cô.
          Đức Địa Tạng Bồ Tát mở cửa phóng thích, tha các tội hồn.
C.3 : Tam kỳ vận chuyển kim quang hiện.
          ĐĐTKPĐ vận chuyển làm hiện ra một dải ánh sáng vàng.
C.4 : Sám hối âm hồn xuất  u  đồ.
          Các chơn hồn nơi cõi Phong đô sám hối tội tình thì đi ra khỏi
          nơi tối tăm ấy bằng con đường là dải kim quang nói trên.
3.- Kệ chuông bãi đàn :
C.1 : Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên,
        vĩnh mộc từ ân, phong điều võ thuận.
          Đàn cúng tế đã đầy đủ và trọn vẹn, Chức sắc trở lại chỗ cũ,
          lâu dài gội nhuần ơn huệ của Chí Tôn, gió hòa mưa thuận.
C.2 : Thiên phong hải chúng, quốc thới dân an,
        hồi hướng đàn trường, tận thâu pháp giới.
          Trời ban cho dân chúng, nước thạnh dân yên,
           hồi hướng công đức nơi đàn cúng tế, thâu hết pháp giới.
C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha.  Câu mật chú bằng tiếng Phạn,
          có ý nghĩa : Cầu nguyện chúng sanh được tiêu tai tăng phước,
          đắc thành Phật đạo, chư Phật chứng minh.
            4.- Kệ chuông nhứt :
C.1 : Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn.
          Nghe tiếng chuông, cúi mình xuống hướng đến cái trí huệ lớn
          của Trời Đất.
C.2 : Pháp giới chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.
          Nhơn sanh nơi các cõi trần cùng lên bờ giải thoát.
C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha. (như trên)

            5.- Kệ chuông nhì :
C.1 : Nhứt  vi  u  ám tất giai văn.
          Tất cả trong phạm vi cõi Phong đô ắt hẳn đều nghe biết.
C.2 : Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.
          Tất cả chúng sanh đều thành bậc chánh giác (Phật).
C.3 : Án dà ra đế dạ ta bà ha. (như trên)

            3*. Giải nghĩa lòng sớ (Vía Đức Lý Thái Bạch).
“ Nay vì đến tiết Trung Thu, ngày lành giờ tốt, chính là ngày Thánh đản (ngày sanh) của Đức Lý Thái Bạch Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm của ĐĐTKPĐ.
Các Chức sắc Thiên phong nghiêm chỉnh thiết lập đại đàn cúng tế gồm nhang, đèn, bông, trà, trái cây, rượu tinh khiết làm thành nghi thức thành tâm dâng lễ.
Ngưỡng nguyện Đức Lý Đại Tiên Trưởng Nhứt Trấn Oai Nghiêm, đạt được trí dũng thiên tài, viết bài văn hồi đáp vua Phiên*, tiếng tăm tốt đứng trên cả một đời, vâng theo mạng lịnh của Đức Chí Tôn, bảo thủ chơn truyền Đại Đạo, phò hộ gìn giữ các đệ tử, đào tạo và rèn luyện trí thức tinh thần cho tài giỏi, thực hành chánh giáo, phổ độ và giáo hóa nhơn sanh hiệp hòa chủng tộc, cởi bỏ và cứu giúp các khổ nạn của chiến tranh, vãn hồi an ninh trật tự, cho dân chung hưởng cảnh thái bình thạnh trị, an  nhàn hạnh phúc. “

 (* Thảo : viết ra. Hích : hịch, bài văn để lên án hay để kêu gọi. Man : mọi rợ, chỉ nước Bắc phiên. Thơ : thư, văn thư.) 

Nghi tiết cúng đàn tại
ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU





Theo vũ trụ quan của Đạo Cao Đài, thuở đầu tiên của càn khôn vũ trụ, trong khoảng không gian bao la, chỉ có một chất khí hỗn độn gọi là Khí Hư Vô (Hư Vô chi Khí), chuyển động quay cuồng, phát nổ ra một tiếng lớn (big bang), sanh ra một Đấng gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế, trọn lành trọn tốt, ngôi của Ngài là Thái cực.
Đấng Thượng Đế phân Thái cực ra Lưỡng nghi : Âm quang và Dương quang. Đấng Thượng Đế chưởng quản Dương quang, còn Âm quang chưa có người chưởng quản. Thượng Đế tự hóa thân ra Đức Phật Mẫu để chưởng quản khí Âm quang. Từ đây mới bắt đầu có Ngôi Âm.
Đức Phật Mẫu cho hai Khí Âm quang và Dương quang phối hợp với nhau để tạo ra càn khôn vũ trụ và vạn vật. Trong vạn vật có chúng sanh. Trong chúng sanh, loài người khôn ngoan và linh thiêng liêng hơn hết vì Thượng Đế ban cho mỗi người một điểm linh hồn.
Nói riêng về con người, mỗi người chúng ta có Tam thể xác thân :
Xác thân phàm : do cha mẹ phàm trần sanh ra và được nuôi dưỡng bằng thực phẩm vật chất phàm trần.
Xác thân thiêng liêng, thường gọi là chơn thần, do Đức Phật Mẫu dùng hai nguyên khí nơi Diêu Trì Cung tạo ra, được Đức Phật Mẫu nuôi dưỡng bằng khí Sanh quang do Thái cực phát ra.
Linh hồn hay chơn linh là một điểm linh quang của Thượng Đế lấy ra từ khối Đại linh quang của Ngài để ban cho mỗi người, tạo ra sự sống và sự suy nghĩ hiểu biết.
Do đó, Thượng Đế là Cha của chơn linh, Đức Phật Mẫu là Mẹ của chơn thần, còn thể xác thì có cha mẹ phàm trần. Chúng ta phải thờ, trước hết là cha mẹ thể xác, kế đó là phải thờ hai Đấng Cha Mẹ thiêng liêng : Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.
Thờ Đức Chí Tôn, thờ Đức Phật Mẫu, thờ cha mẹ phàm trần là để chúng ta luôn luôn nhớ tưởng đến công ơn sanh thành và dưỡng dục của các Đấng ấy.
Top of Page



Tại địa phương, ngôi nhà thờ Đức Chí Tôn được gọi là Thánh Thất, ngôi nhà thờ Đức Phật Mẫu gọi là Điện Thờ Phật Mẫu (ĐTPM). Tại Thánh địa Tây Ninh, Hội Thánh chưa xây cất Đền Thờ Phật Mẫu Trung Ương, nên tạm thời thờ Đức Phật Mẫu tại Báo Ân Từ.
1. Kiểu thứ nhứt (thờ giống như ở Báo Ân Từ) :
ĐTPM thường cất có 3 gian :
- Gian chính giữa thờ : Diêu Trì Kim Mẫu (Đức Phật Mẫu), Cửu Vị Tiên Nương và Bạch Vân Động Chư Thánh.
- Gian bên tả thờ :   Chư Chơn Linh Nam Phái.
- Gian bên hữu thờ : Chư Chơn Linh Nữ Phái.
Các long vị đều được viết bằng chữ Nho đại tự.


2. Kiểu thứ nhì (thờ giống ĐTPM Trí Giác Cung) :
  ĐTPM nơi Trí Giác Cung (Trường Qui Thiện cũ) không thờ Chư Chơn Linh Nam Phái và Nữ Phái, chỉ thờ Đức Phật Mẫu, Cửu vị Nữ Phật, Bạch Vân Động Chư Thánh.
- Gian giữa thờ : Diêu Trì Kim Mẫu (Đức Phật Mẫu)
- Gian hữu thờ :  Cửu Vị Nữ Phật (Cửu Vị Tiên Nương).
- Gian tả thờ :    Bạch Vân Động Chư Thánh.

Khi nào Hội Thánh xây dựng được Đền Thờ Phật Mẫu Trung Ương thì mới có thể thống nhứt nghi lễ thờ Đức Phật Mẫu.

Top of Page



    Đại Đàn cúng Đức Chí Tôn tại Thánh Thất thường cúng lúc 12 giờ trưa. Do đó, đàn cúng Đức Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu địa phương phải dời lại cúng lúc 6 giờ chiều, tức là 18 giờ, nhằm giờ Dậu.
Cúng Đức Phật Mẫu tại ĐTPM chỉ có một nghi tiết, không phân ra Đại đàn hay Tiểu đàn, nhưng vì Lễ sĩ đều điện lễ khi Dâng hương hay Dâng Tam bửu, từ Ngoại nghi đến Nội nghi, nên nghi tiết cúng đàn Đức Phật Mẫu có phần giống Đại đàn cúng Đức Chí Tôn tại Thánh Thất.
Nhưng khi cúng đàn Đức Phật Mẫu, về Nhạc Tấu Quân Thiên (NTQT), phân ra hai trường hợp : đờn 3 bài và đờn 5 bài.
NTQT đờn 5 bài : Vía Đức Phật Mẫu ngày 15 tháng 8, ba ngày rằm lớn của ba nguơn : 15 tháng giêng, 15 tháng 7 và 15 tháng 10.
*  NTQT đờn 3 bài : các ngày sóc vọng thường lệ.
Trường hợp NTQT đờn đủ 5 bài chỉ có nơi Báo Ân Từ, còn các ĐTPM địa phương vì Ban nhạc thiếu nhạc sĩ nên chỉ đờn 3 bài.
Khi cúng đàn Đức Phật Mẫu, tất cả Chức sắc đều không mặc áo mão Chức sắc, chỉ mặc áo dài chẹt trắng y như các Đạo hữu mà thôi, bởi vì tất cả đều là con của Đức Phật Mẫu, không phân biệt phẩm tước.
Trong đàn cúng Đức Phật Mẫu, mọi người đều mặc đạo phục như nhau, thể hiện một sự bình đẳng rõ rệt giữa con cái của Phật Mẫu. Nơi đây chỉ có tình MẸ CON, và tình anh chị em với nhau mà thôi.
            Đặc biệt chỉ có 6 Lễ sĩ mặc áo rộng màu vàng, đội mão trắng, mang giày bố trắng, phân ra 3 cặp : 1 cặp lễ xướng đứng hai bên Ngoại nghi, 1 cặp đăng và 1 cặp đài.

Gần tới 6 giờ chiều, các ban bộ có phận sự trong đàn cúng đi vào trước để chuẩn bị các việc, còn các nam nữ tín đồ thì sắp hàng đứng phía trước Điện Thờ.
Đúng 6 giờ chiều, nơi lầu chuông, vị chấp sự khởi kệ chuông nhứt : đầu tiên dộng 3 tiếng chuông, kệ 3 câu, dứt mỗi câu kệ thì dộng 1 tiếng chuông.
Bài kệ chuông nhứt giống y như kệ chuông cúng Tứ Thời : “ Văn chung khấu hướng . . . . . . “
Xong kệ chuông nhứt, Lễ sĩ khởi xướng :
1. Tịnh túc thị lập.  (Đều nghiêm trang đứng hầu)
2Chấp sự giả các tư kỳ sự. (Người được phân công
     phần việc nào thì đến giữ phần việc ấy)
    Kế tiếp kệ chuông nhì.
Người chấp sự trên lầu chuông dộng 3 tiếng trước khi kệ, rồi kệ xong một câu thì dộng 1 tiếng chuông.
Bài kệ chuông nhì : “ Nhứt  vi  u  ám . . . . . . “
Cặp Lễ Xướng tiếp :
3. Cung thành thứ tự nam nữ nhập đàn.
Tất cả các tín đồ nam nữ đi vào đàn cúng, tay bắt ấn Tý, đứng day ngang. Người hầu chuông nơi nội nghi gõ 1 tiếng chuông, mọi người xá đàn 1 xá, bước vào chánh điện, quay người hướng lên bàn thờ, đứng im lặng nghiêm trang.
4. Nhạc tấu Quân Thiên.
Nhạc khởi đánh trống Tiếp Giá, rồi bắt qua đờn 3 bài như đã nói ở trên.
5. Nghệ hương án tiền.
     (Bước tới đứng trước bàn hương)
Hai cặp Lễ sĩ đăng đài (LSĐĐ) đến đứng trước và hai bên Chức việc quì ngoại nghi (CVNN). Hai Lễ sĩ  đài, một bên có một bó nhang 3 cây cột lại chưa đốt, một bên có lư trầm. Nếu không có trầm thì dùng nhang thơm cắt ra bó lại thành bó lớn đăït vào lư.
6. Giai quì. (Tất cả đều quì xuống)
Vị hầu chuông lần lượt khắc 3 tiếng, tất cả nam nữ đồng xá 3 xá rồi quì xuống.
7. Phần hương.  (đốt nhang)
Vị quì  ngoại nghi cầm bó nhang 3 cây, đốt nhang và đốt lư trầm xá 3 xá rồi trao cho cặp Lễ sĩ  đài. Nhạc đánh thét cho 4 Lễ sĩ  đứng dậy, lui ra, quay mặt vào chánh điện, chuẩn bị điện hương.
8. Điện hương. 
LSĐĐ theo tiếng trống nhạc, điện dâng hương và dâng lư trầm từ ngoại nghi vào nội nghi.
9. Quì.   LSĐĐ quì phía trước vị CSCĐ.
Lễ sĩ trao bó hương cho vị chứng đàn và lư trầm cho vị quì kế bên. Hầu chuông lần lượt khắc 3 tiếng, CSCĐ hai tay cầm bó hương cùng với  mọi người xá 3 xá, vừa xá vừa niệm 3 lần :
    - Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
    - Nam mô Cửu Vị Tiên Nương.
    - Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh.
10. Thành kính tụng Niệm hương chú.
       Đồng nhi tụng kinh Niệm Hương, giọng Nam ai. CSCĐ hai tay cầm bó hương kính cẩn nâng lên ngang trán và giữ như thế trong suốt thời gian đồng nhi tụng kinh Niệm Hương. Vị quì kế bên CSCĐ cũng nâng lư trầm lên ngang trán giống như CSCĐ.
11. Thượng hương. (Đem hương lên cắm vào lư hương)
       CSCĐ cầm bó hương và vị quì kế bên cầm lư trầm, đồng  xá 3 xá rồi trao cho hai vị tiếp lễ, một đem bó hương lên cắm vào lư hương trên bàn thờ, một cầm lư trầm lên đặt trên bàn thờ. Bốn Lễ sĩ đăng đài lui ra, trở bộ quay trở về ngoại nghi.
12. Cúc cung bái.  (Cúi mình lạy xuống)
Nhạc đánh trống lập ban, toàn thể lạy Đức Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
13. Thành kính tụng Khai Kinh chú.
       Đồng nhi tụng bài Khai Kinh, giọng Nam ai.
       Dứt bài kinh thì cúi đầu, không xá, không lạy.
14. Thành kính tụng Phật Mẫu Chơn Kinh. 
       Nhạc gài trống đờn Nam xuân, đồng nhi tụng bài Phật
       Mẫu Chơn Kinh, giọng Nam xuân.
15. Cúc cung bái.    (giống như mục số 12)
16. Cung hiến Tiên hoa.  (Kính cẩn dâng hoa quí)
Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một bình hoa nhỏ  đủ 5 sắc hoa tươi, một bên có 1 trái cây, rồi 4 Lễ sĩ  đăng đài đồng đến đứng trước vị quì  ngoại nghi, day mặt vào nhau.
17. Quì.    Bốn Lễ sĩ  đăng đài quì xuống.
18. Chỉnh Tiên hoa.  (Sửa sang hoa quí)
Vị quì ngoại nghi chỉnh sửa hoa và quả cho ngay ngắn, cầm bình hoa và dĩa quả xá xuống 3 xá, rồi trao cho hai Lễ sĩ  đài.
Nhạc đổ 3 hồi, 4 Lễ sĩ đứng dậy, lui ra hai bên, quay mặt hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện dâng hoa và quả.
19. Điện Tiên hoa.   (Lễ sĩ  điện dâng Hoa quí)
Lễ sĩ  điện dâng hoa giống y như lúc Điện Hương. Trong lúc Lễ sĩ  điện thì đồng nhi thài bài Dâng Hoa theo giọng Đảo Ngũ Cung. Khi thài tới chữ  “Thượng Đế” thì đổi lại là : “Phật Mẫu”.
            Cúi mong Phật Mẫu rưới ân Thiên.
Khi dứt thài, Lễ điện vừa tới nội nghi, day mặt vào giữa.
20. Quì.  LSĐĐ và 2 tiếp lễ đều quì  xuống trước CSCĐ.
CSCĐ tiếp lấy bình hoa, vị quì kế bên tiếp lấy dĩa trái cây, đồng xá 3 xá, rồi đưa lên trán cầu nguyện, có điểm chuông, đồng thời tất cả mọi người trong đàn cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Hoa : “ Con xin dâng hình hài của con lên cho Đức Phật Mẫu tùy phương sử dụng.”
21. Thượng Tiên hoa.  (Đem hoa quí đặt lên bàn thờ)
Cầu nguyện Dâng Hoa xong thì đưa bình hoa và dĩa trái cây cho hai vị tiếp lễ đem đặt lên bàn thờ. Nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ quay về ngoại nghi.
22. Cúc cung bái.  
Tất cả trong đàn cúng đều lạy Phật Mẫu giống như mục 12.  Lưu ý : Dâng mỗi bửu đều lạy Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm danh hiệu Phật Mẫu : Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
23. Cung hiến Tiên tửu.  (Cung kính dâng rượu quí)
Hai Lễ sĩ đài sắp đặt một bên có một ly nhỏ để đựng rượu, một bên có một cái nhạo rượu trắng tinh khiết, rồi 4 Lễ sĩ  đăng đài đồng đến đứng trước vị quì ngoại nghi, day mặt vào nhau.
24. Quì.  LSĐĐ quì xuống trước vị CVNN.
25. Chước tửu.  (Rót rượu)
Vị CVNN cầm nhạo lên rót rượu vào ly, rồi hai tay cầm ly rượu xá 3 xá, trao lại cho Lễ sĩ đài. LSĐĐ đồng đứng dậy, lui ra, quay người hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện dâng rượu.
26. Điện Tiên tửu.  (Lễ sĩ  điện dâng rượu quí )
       Công việc giống y như  Điện Tiên Hoa.
       Đồng nhi thài bài Dâng Rượu, Lễ sĩ  điện lên nội nghi.
27. Quì.  LSĐĐ và 2 tiếp lễ đồng quì xuống trước CSCĐ.
Vị chứng đàn tiếp ly rượu, vị quì kế bên tiếp nhạo rượu, cầm lên xá 3 xá, đồng đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất
cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Rượu : “ Con xin dâng chơn thần của con lên cho Đức Phật Mẫu tùy phương sử dụng.”
28. Thượng Tiên tửu. (Đem rượu lên đặt trên bàn thờ)
      Cầu nguyện xong, xá 3 xá, rồi trao ly rượu và bình rượu 
      cho hai vị tiếp lễ đem đặt lên bàn thờ.
      Nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ đi về ngoại nghi.
29. Cúc cung bái.  (giống như mục số 22)
30. Cung hiến Tiên trà.  (Cung kính dâng trà quí) 
Hai Lễ sĩ  đài sắp đặt, một bên đặt 1 bình trà, một bên đặt 1 cái tách để dựng nước trà. LSĐĐ cùng đến đứng trước vị CVNN.
31. Quì.   LSĐĐ quì  xuống trước vị  CVNN.
32. Điểm trà.  (Rót nước trà)
CVNN cầm lấy bình trà, rót nước trà vào tách, cầm tách trà đưa lên trán xá 3 xá, rồi trao lại cho Lễ sĩ đài. LSĐĐ  đứng dậy, lui ra, quay người hướng vào nội nghi, chuẩn bị điện trà.
33. Điện Tiên trà.  (Lễ sĩ điện dâng trà quí)
       Công việc giống y như  Điện Tiên Hoa.
       Đồng nhi thài bài Dâng Trà, Lễ sĩ  điện vào nội nghi.
34. Quì.  LSĐĐ và 2 tiếp lễ đồng quì xuống.
Vị chứng đàn tiếp tách trà, vị quì kế bên tiếp bình trà, đồng xá 3 xá rồi đưa lên trán cầu nguyện, có khắc chuông, tất cả mọi người trong đàn cúng cũng đưa ấn Tý lên trán cầu nguyện Dâng Trà tức là dâng linh hồn, nhưng lần cầu nguyện chót nầy nên dâng cả Tam bửu lên Đức Phật Mẫu, vì đây là Bí pháp giải thoát :
“ Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Phật Mẫu tùy phương sử dụng.”
35. Thượng Tiên trà. (Đem trà lên đặt trên bàn thờ)
       Cầu nguyện xong, xá 3 xá, trao tách trà và bình trà cho
       hai vị tiếp lễ đem đặt lên bàn thờ.
       Nhạc đổ 3 hồi, Lễ sĩ đứng lên, trở bộ đi về ngoại nghi.
36. Cúc cung bái.  (giống như mục số 22)
37. Sớ văn thượng tấu.  (Sớ văn tâu lên)
Hai Lễ sĩ  đăng đi lên nội nghi, bước đi thường, không điện,
38. Quì.
Hai vị tiếp lễ, 1 vị cầm dĩa đựng sớ văn, 1 vị cầm cái thố (hay cái bình) để đựng tro lúc đốt sớ, quì phía dưới cặp Lễ sĩ  đăng. Một vị có phận sự đọc sớ lên quì gần CSCĐ.
 CSCĐ cầm sớ xá 3 xá, cầu nguyện, rồi rút tờ sớ ra trao cho người đọc sớ, còn vị CSCĐ hai tay cầm bao sớ cung kính nâng lên ngang  trán trong suốt thời gian đọc sớ.
39. Thành độc sớ văn.  (Thành kính đọc bài văn sớ)
Vị đọc sớ, cao giọng đọc lên, đến danh hiệu của các Đấng thì dừng lại một chút để khắc chuông cúi đầu kỉnh lễ.
Bài văn sớ cúng Đức Phật Mẫu ngày mùng 1 thường lệ (Sóc lệ) chép ra như sau :

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Thất thập . . . niên)
Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt.

Thời duy, Thiên vận . . . . . . niên, . . . ngoạt, sơ nhứt nhựt, Dậu thời, hiện tại Việt Nam quốc, . . . . . Trấn, . . . . . Châu, . . . . . Tộc, . . . . . Hương,  cư trụ Điện Thờ Phật Mẫu chi trung.
Kim đệ tử . . . (tên họ của vị chứng đàn). . . công đồng chư thiện nam tín nữ đẳng quì tại điện tiền, thành tâm trình tấu.
   HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI :
Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.
Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
TAM TÔNG CHƠN GIÁO :
Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,
Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,
Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.
             TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM :
      Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai,
      Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ,
      Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.
       Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn,
    Thái Công Tướng Phụ Quảng Pháp Thiên Tôn,
           Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn,
           Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, liên đài chi hạ.
           Kim vì, sóc nhựt lương thần, chư thiện nam tín nữ đẳng nghiêm thiết đàn tràng, hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi, thành tâm hiến lễ.
Ngưỡng vọng Đức Kim Bàn Phật Mẫu, dĩ đức từ bi, chuyển họa vi phước, thoát ách tiêu tai, thế giới an ninh, cộng hòa nhơn loại, Tổ quốc Việt Nam đạt vinh quang, sanh chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi Đường Ngu chi phong hóa.
Ngưỡng vọng Đức Kim Bàn Phật Mẫu, phát hạ hồng ân, hoằng khai Đại Đạo, độ tận chúng sanh, hiệp trí hòa tâm, tinh thần qui nhứt, vĩnh sùng chánh giáo, giải thoát tiền khiên, triêm ngưỡng Mẫu ân tứ phước.
Ngưỡng vọng Đức Kim Bàn Phật Mẫu, cứu độ các đẳng chơn linh quá vãng tảo đắc siêu thăng, an nhàn Cực Lạc.
Chư đệ tử  đồng thành tâm khẩn nguyện cúc cung khấu bái thượng tấu
                                                                        Dĩ  văn.
                                               Đệ tử  : . . . (tên họ của vị chứng đàn) . . .

40. Cung phần Sớ văn.  (Cung kính đốt sớ)
Vị chứng đàn đặt lá sớ vào bao sớ, cầm sớ xá 3 xá, hai Lễ sĩ  đăng dụm hai ngọn đèn lại cho vị chứng đàn đốt sớ, thấy cháy được phân nửa thì bỏ vào thố, vị tiếp lễ đem thố đặt lên bàn thờ, hai Lễ sĩ  trở về ngoại nghi, vị đọc sớ trở về chỗ cũ.
41. Cúc cung bái. (giống như mục số 12)
42. Thành tâm tụng Ngũ Nguyện.   
        Đồng nhi tụng Ngũ Nguyện.
43. Cúc cung bái. (giống như mục số 12)
44. Hưng bình thân.  (Cất mình đứng thẳng lên)
Mọi người trong đàn cúng đứng thẳng dậy tại vị trí của mình. Khắc chuông, mọi người đứng xá sâu xuống 3 xá, quay trở ra sau xá 1 xá để kỉnh khí Sanh quang.
45. Cung thành thứ tự phân lập lưỡng ban.
(Cung kính, thứ tự, phân ra đứng thành hai ban : nam và nữ)
Tất cả tín đồ trong đàn cúng, lui ra hai bên, đứng trật tự như lúc mới nhập đàn.
Các Ban : Đồng nhi, lễ sĩ, lễ vụ, kiểm đàn, những người hầu đàn lần lượt vào chánh điện lạy Đức Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô Diêu  Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
Riêng Ban Nhạc thì quì ngay trên lầu lạy Đức Phật Mẫu, vì còn phận sự đánh nhạc.
Người chấp sự trên lầu chuông dộng chuông bãi đàn.
Dộng trước 3 tiếng chuông, rồi kệ bài Kệ chuông bãi đàn, kệ xong 1 câu thì dộng 1 tiếng chuông lớn.  Bài kệ chuông bãi đàn :
“Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên, . . . . . “
Tiếng chuông kệ bãi đàn vừa dứt, Lễ xướng :
46. Lễ thành.  (Cuộc lễ cúng tế đã xong)
Nhạc đánh thét rồi dứt. Mọi người xá đàn 1 xá rồi bắt đầu đi ra. Các vị bên trong đi ra trước, đi hàng một, đi ra cũng trật tự như khi đi vào nhập đàn. Khi ra khỏi chánh điện mới xả ấn Tý.
Tất cả có 46 Nghi tiết trong lễ cúng đàn Đức Phật Mẫu tại Điện Thờ Phật Mẫu địa phương.
Top of Page



Cúng Tứ Thời tại ĐTPM vào 4 thời điểm : Tý (0 giờ tức 12 giờ khuya), Mẹo (6 giờ sáng), Ngọ (12 giờ trưa), Dậu (18 giờ tức 6 giờ chiều).
1* Đúng giờ cúng, trên lầu chuông, vị chấp sự khởi dộng Chuông Nhứt.
Trước hết dộng 3 tiếng chuông, kệ 3 câu, mỗi câu dộng 1 tiếng chuông. Bài kệ chuông nhứt :
    “ Văn chung khấu hướng . . . . . . . . . . . “.
Khi hết chuông nhứt, các tín đồ tham dự cúng Tứ thời đi vào chánh điện, sắp hàng hai bên, nam nữ đứng đối diện nhau, tay bắt ấn Tý, chờ nghe chuông nhì.
2* Kệ chuông nhì, dứt mỗi câu thì dộng 1 tiếng :
    “ Nhứt vi  u  ám . . . . . . . . . . . . “
3* Người hầu chuông nơi nội nghi gõ 1 tiếng chuông, hai bên xá đàn 1 xá, bước vào trong, nhìn lên bàn thờ, gõ chuông 3 lần, xá 3 xá, quì xuống.
4* Người hầu chuông lần lượt khắc 3 tiếng, mọi người đưa ấn Tý lên trán vừa xá vừa niệm 3 lần :
    - Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
    - Nam mô Cửu Vị Tiên Nương.
    - Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh.
5* Đồng nhi tụng kinh Niệm Hương, giọng nam ai.
      Lạy Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : Nam mô 
      Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.”
6* Đồng nhi tụng Khai Kinh, giọng nam ai.
      Dứt bài Khai Kinh thì cúi đầu, không xá, không lạy.
7* Đồng nhi tụng Phật Mẫu Chơn Kinh.
      Lạy Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm : “ Nam mô
      Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.”.
8* Đồng nhi tụng bài Tán Tụng Công Đức Diêu Trì
    Kim Mẫu : “ Kể từ Hỗn độn sơ khai, . . . . . . “
     (Bài Tán Tụng Công Đức DTKM chỉ tụng khi cúng Tứ
     Thời, còn khi cúng đàn thì không tụng).
     Lạy Phật Mẫu 3 lạy 9 gật, niệm danh hiệu Phật Mẫu.
9*  Đến phần Dâng Tam bửu, tùy theo thời mà thài.
   - Cúng khuya và trưa : thài bài Dâng Rượu.
   - Cúng sáng  và chiều : thài bài Dâng Trà.
Dù thài dâng Rượu hay dâng Trà, chúng ta cũng cứ cầu nguyện dâng đủ Tam bửu lên Đức Phật Mẫu, giống y như cầu nguyện dâng Tam bửu lên Đức Chí Tôn, vì đây là Bí pháp giải thoát chúng ta khỏi luân hồi :

         “Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn,
            Nam mô Cửu Vị Tiên Nương,
          Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.
Con xin dâng cả thể xác, chơn thần và linh hồn của con lên cho Đức Phật Mẫu tùy phương sử dụng.
Cầu xin các Đấng thiêng liêng chứng minh. “

         Lạy Đức Phật Mẫu 3 lạy 9 gật và niệm như trên.
10*  Tụng Ngũ Nguyện.
         Lạy Đức Phật Mẫu như trên.
         Đứng dậy, xá 3 xá, quay ra sau xá 1 xá, lui ra đứng hai bên chánh điện như lúc mới nhập đàn. Chờ kệ chuông bãi đàn.
11* Kệ chuông bãi đàn :
“ Đàn tràng viên mãn, Chức sắc qui nguyên . . . . .”
Dứt kệ chuông bãi đàn, vị hầu chuông nơi nội nghi khắc 1 tiếng chuông, hai bên xá đàn 1 xá, rồi bắt đầu đi ra, trong đi ra trước, lần lần tới ngoài. Hết.

Đức Phật Mẫu, Cửu vị Tiên Nương và 4 Tiên đồng nữ nhạc
cỡi chim Thanh loan bay xuống cõi trần.
(Tượng thờ Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương nơi Báo Ân Từ)


Top of Page



1. Cửu vị Tiên Nương - Cửu vị Nữ Phật :
Cửu vị Tiên Nương là  9 vị Nữ Tiên hầu Đức Phật  Mẫu và giúp việc cho Đức Phật Mẫu.
Trong thời khai Đạo, Cửu vị Tiên Nương lập được  nhiều công quả nên đắc thành Phật vị, gọi là Cửu vị Nữ Phật.
Nhưng, 9 Đấng ấy, khi thi hành nhiệm vụ giáo hóa và phổ độ nhơn sanh thì xưng là Cửu vị Tiên Nương; khi an ngự trên ngôi vị thì xưng là Cửu vị Nữ Phật.
Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương ngự tại DTC nơi từng trời thứ 9 : Tạo Hóa Thiên của Cửu Trùng Thiên.
Trong Cửu vị Tiên Nương, các Đấng thường giáng cơ dạy đạo là : Bát Nương, Thất Nương, Lục Nương, Ngũ Nương. Kể từ khi Thất Nương đảm nhận nhiệm vụ giáo hóa các nữ tội hồn tại cõi Âm Quang thì Thất Nương ít có thời giờ rảnh để giáng cơ dạy Đạo.

          2. Bạch Vân Động chư Thánh :
Bạch Vân Động là một cái động trên Mặt Trăng, làm nơi cư ngụ cho các vị Thánh, mà Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ tức là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là Động chủ.
Các vị Thánh nơi Bạch Vân Động có nhiệm vụ bảo vệ Đức Phật Mẫu mỗi khi Đức Phật Mẫu du hành hay đi xuống cõi trần. Cho nên khi thờ Đức Phật Mẫu, chúng ta cũng thờ luôn Bạch Vân Động chư Thánh.
Trước khi Chí Tôn mở ĐĐTKPĐ, các vị Thánh Bạch Vân Động được lịnh giáng sanh xuống cõi trần để Đức Chí Tôn lập thành Hội Thánh trong buổi đầu khai đạo.
Đối với nhơn loại thì con người không thể ở trên Mặt Trăng vì nơi ấy không có nước và không khí, nhưng đối với các Đấng thiêng liêng, Mặt Trăng là nơi để dừng chân trước khi các Đấng ấy giáng xuống cõi trần (tức là đi xuống địa cầu của nhơn loại).

3. Giải thích lòng sớ cúng Đức Phật Mẫu :

“ Nay vì ngày mùng 1 giờ tốt, các vị thiện nam tín nữ nghiêm trang thiết lập đàn cúng tế với nhang đèn, bông trà trái cây, rượu tinh khiết làm nghi thức, thành tâm hiến lễ.
Ngưỡng vọng Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, lấy đức từ bi chuyển họa làm phước, thoát khỏi khổ ách, tiêu tan tai nạn, thế giới được an ninh, nhơn loại cộng hòa, Tổ quốc Việt Nam đạt đượcvinh quang, dân chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi nền phong hóa như thuở vua Nghiêu vua Thuấn.
Ngưỡng vọng Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, ban xuống hồng ân, hoằng khai Đại Đạo, độ tận chúng sanh, hiệp trí hòa tâm, tinh thần qui nhứt, vĩnh sùng chánh giáo, giải thoát khỏi các tiền khiên nghiệp chướng, chiêm ngưỡng ơn phước của MẸ ban cho.
Ngưỡng vọng Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn, cứu độ các cấp chơn linh đã quá vãng, sớm được siêu thăng, an nhàn nơi cõi Cực Lạc.
Các đệ tử đồng thành tâm cầu khẩn mong ước, cúi mình lạy xuống, tâu lên.

Kính trình.

HÀNH CHÁNH ĐẠO
địa phương





“ Hành Chánh Đạo là cơ quan để thi hành các luật lịnh của Hội Thánh hoặc của chúng sanh dâng lên mà đã có Quyền Chí Tôn phê chuẩn, nghĩa là buộc chúng sanh phải tuân y luật pháp mà đi trên con đường đạo đức cho đặng thong dong, hòa bình, trật tự, hạnh phúc, an nhàn, tức là thật hành cả khuôn viên luật pháp cho ra thiệt tướng.” (Đạo luật năm Mậu Dần 1938)
“ Hành Chánh Đạo là thi hành cho đúng những qui điều trong chơn pháp để dìu độ chúng sanh lánh khỏi tội tình, hiệp về cội Đạo.
Cầm quyền Hành Chánh Đạo là phận sự của Chức sắc Cửu Trùng Đài thay mặt cho Trời mà thực thi nhơn nghĩa đạo đức để phục vụ nhơn sanh về phần vật chất tức
là phần đời. Bảo thủ chơn truyền chẳng để cho Chánh giáo
trở nên Phàm giáo là nhiệm vụ của Chức sắc Hiệp Thiên Đài can hệ về phần tinh thần tức là phần Đạo.
Thiết nghĩ, Chức sắc Cửu Trùng Đài được quyền sử dụng những luật lệ do nhơn sanh lập thành, nên phải gìn giữ nhắc nhở nhơn sanh tuân hành nghiêm chỉnh giáo điều Tân luật, để khỏi bị phạm luật phạm pháp mà thất thệ và lỗi đạo.
Vả lại, Chức sắc Hội Thánh Cửu Trùng Đài cũng không nên quên rằng, chính mình cũng phải chịu dưới luật lệ ấy vì nó đã thành Thiên điều tại thế rồi.
Vì thế, để xứng đáng là người hướng đạo tinh thần cho nhơn sanh, chư Chức sắc Thiên phong cần ý thức rõ vai tuồng Hành Chánh Đạo của mình, đừng vì một sự sơ suất hiểu lầm do phàm tâm lấn áp mà biến sự phục vụ thành quyền cai trị, gây thống khổ cho nhơn sanh mà đắc tội với Đại Từ Phụ, sanh điều phản khắc với tôn chỉ và chủ nghĩa của nền Đại Đạo.
Để nhắc nhở chư Chức sắc Thiên phong, Hội Thánh Cửu Trùng Đài hiểu rõ vai trò Hành Chánh Đạo của mình, Hội Thánh xin giải rõ ý nghĩa, mục đích và cứu cánh của ba chữ : Hành Chánh Đạo.
1.  Thích nghĩa ba chữ Hành Chánh Đạo :
Hành là làm, chánh là ngay thẳng, không xiên vẹo, nghĩa là làm cho ra thiệt tướng nền chơn đạo của Đức Chí Tôn trong sứ mạng tận độ.
Hành Chánh Đạo (viết tắt HCĐ) thật là bao la và tổng quát vô cùng.
Tại sao nơi cửa Đạo Cao Đài lại có HCĐ, mà không như các tôn giáo hằng hữu ngồi yên để tịnh luyện ?
Xin thưa : Đối với Đạo Cao Đài, HCĐ là một cơ cấu bỉnh cán các đẳng chơn linh hạ trần nương theo đó mà hồi cựu vị. HCĐ có nghĩa rộng là làm sáng tỏ những điều chánh đáng của một nền tôn giáo mà Đấng đề xướng là Đức Chí Tôn, Chúa tể cả vạn loại.
2.  Mục đích của Hành Chánh Đạo :
Mục đích của HCĐ là phục vụ nhơn sanh trong tinh thần giáo hóa để giác ngộ, hầu hướng dẫn nhơn sanh lập công bồi đức, chuộc lỗi tiền khiên, qui hồi cựu vị.
Hành Chánh Đạo là một danh từ rất kêu đối với đời, nhưng nó là một danh từ trống rỗng ở cửa Đạo về mặt uy quyền cũng như lợi lộc. Đạo Cao Đài sở dĩ có Hành Chánh Đạo là vì muốn cho có đẳng cấp trật tự đi trong lẽ phải, thực hành chơn lý, để mỗi chơn linh dù lớn dù nhỏ, có phương tiện nương theo đó mà lập vị mình, hầu trở lại quê xưa hay là tiến hóa.
Chức sắc Hội Thánh Cửu Trùng Đài có phận sự phải thực thi Hành Chánh Đạo một cách công minh, nghĩa là chúng ta là kẻ tay sai cho tất cả sanh chúng, nhờ ta kêu gọi dìu dẫn mà họ sớm giác ngộ, cải tà qui chánh, thoát khỏi tục trần, lánh vòng phiền não sa đọa.
Chúng ta nên hiểu rằng, mục tiêu chánh của Hành Chánh Đạo là giáo hóa, chớ không phải như Hành Chánh của đời là cai trị.
Các bậc Giáo chủ của các nền tôn giáo xưa kia đâu cần phải có hình thức quan lại trong khuôn khổ trị dân, để giáo Đạo đâu ? Các Đấng ấy đi ta bà để khuyến dân dạy đời và thức tỉnh nhơn loại, rồi các đạo giáo ấy cũng thành hình trong sự dạy dỗ.
Vậy, chúng ta cả thảy nên nhìn vào sự giáo hóa mà tiến lên, đừng để hình thức cai trị bắt buộc phải theo đạo thì hình thức ấy chỉ là lầu đài trên bãi cát.
3.  Cứu cánh của Hành Chánh Đạo :
Cứu cánh của Hành Chánh Đạo là đoạt vị tại thế trong chiều hướng tận độ chúng sanh đưa về cựu phẩm.
Chúng ta biết rằng, nhơn hồn có nhiều bực cấp của chơn hồn, từ nguyên nhơn đến hóa nhơn và quỉ nhơn. Hành Chánh Đạo chẳng phải kêu gọi hàng nguyên nhơn mà còn độ rỗi hóa nhơn và trừ khử quỉ nhơn nữa. (Quỉ nhơn là tà tâm dục vọng).
Bởi cớ nên Đại Từ Phụ lập ra Cửu Trùng Đài để  sắp xếp các đẳng linh hồn đã xuống thế, tùy theo căn nguyên biết mộ đạo tu tỉnh mà trở lại nguyên căn ở cõi vô hình hay là thượng giới.
Ngoài ra, bên quỉ vị, vì lẽ công bình của tạo đoan nên cũng có thành lập Tam thập lục động đối chiếu với Tam thập lục Thiên để khảo duợt các chơn linh trước khi trở về đến Ngọc Hư Cung.
Do dó, Hành Chánh Đạo là làm thế nào cho sáng tỏ chơn lý, rạng rỡ nét công, không còn lẽ tà vạy trong hàng Chức sắc Thánh thể của Đức Chí Tôn, cũng như trong bổn đạo là con chung của Đại Từ Phụ.
Nếu mỗi mỗi trong Thánh thể của Đức Chí Tôn biết nêu cao lẽ chánh thì con đường tận độ sẽ thênh thang, cả nguyên nhơn lẫn hóa nhơn có thể trở lại ngôi xưa hay hóa kiếp để đoạt vị một cách dễ dàng, bằng ngược lại thì sẽ bị rơi vào cái bẫy khảo duợt của chúa quỉ, tức nhiên là lọt vào tay của Kim Quang Sứ vậy.”  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
“ Hành Chánh Đạo được tổ chức một cách chặt chẽ. Bất cứ nơi nào có ánh sáng mặt trời cũng có vết chân của các môn đồ của Thầy đến để cứu rỗi nhơn loại. Nhơn loại cũng nương theo đường lối Hành Chánh Đạo mà tạo vị, lập công để chuộc tội tiền khiên, tiêu trừ nghiệt chướng.
Đức Chí Tôn dạy rằng : Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.
Ân huệ và hạnh phúc thay cho chúng sanh !  Thầy đã lập một trường thi công quả hy hữu trước mắt, chúng sanh muốn tu hay chẳng muốn, sau nầy không còn chối cãi vì mê muội mà lạc bước sa vòng tà mị. (Trích bài giảng Hạnh Đường của Ngài Đầu Sư Ngọc Nhượn Thanh).

Hành Chánh Đạo có một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương ở Tòa Thánh đến các địa phương, phân cấp phân nhiệm rất rõ ràng để sự làm việc điều hòa tốt đẹp.

Trong hệ thống tổ chức Hành Chánh Đạo CTĐ, từ Cửu Viện đổ lên thuộc về HCĐ Trung Ương, từ Cửu Viện trở xuống thuộc HCĐ Địa phương.
HCĐ địa phương tổ chức trong nước Việt Nam gồm : Trấn Đạo, Châu Đạo, Tộc Đạo và Hương Đạo.
Trấn đạo là cấp cao nhứt của HCĐ địa phương. Trong nước VN có nhiều Trấn đạo.
- Một Trấn Đạo có nhiều Châu Đạo. Đứng đầu Trấn Đạo là một vị Khâm Trấn Đạo, phẩm Giáo Sư, do Hội Thánh bổ nhiệm.
- Một Châu Đạo có nhiều Tộc Đạo. Đứng đầu Châu Đạo là một vị Khâm Châu Đạo, phẩm Giáo Hữu, do Hội Thánh bổ nhiệm.
- Một Tộc Đạo có nhiều Hương Đạo. Đứng đầu Tộc Đạo là một vị Đầu Tộc Đạo, phẩm Lễ Sanh, do Hội Thánh bổ nhiệm.
- Một Hương Đạo có nhiều Ấp Đạo, đứng đầu Hương Đạo là một vị Đầu Hương Đạo, phẩm Chánh Trị Sự, do các Chức việc Bàn Trị Sự của Hương Đạo bầu lên.
- Một Ấp Đạo có 2 vị : Phó Trị Sự và Thông Sự trông coi đạo sự trong Ấp Đạo của mình. Phó Trị Sự và Thông Sự do các Đạo hữu trong Ấp Đạo bầu lên.
Như vậy, một Hương đạo chỉ có một Chánh Trị Sự Đầu Hương Đạo, nhưng lại có nhiều Phó Trị Sự và Thông Sự phụ trách trong các Ấp Đạo.

Đặc biệt trong Đạo Cao Đài, Hành Chánh Đạo nói riêng và các tổ chức khác của Đạo nói chung, đều phân ra hai phái NAM và NỮ.
Hai phái nầy có tổ chức Đạo hoàn toàn giống nhau, các cấp bực đều tương ứng nhau, nhưng điều hành việc Đạo riêng theo mỗi phái, phái nầy không xen qua phái kia, quyền hành nam nữ riêng biệt.

HCĐ  NAM PHÁI

HCĐ  NỮ PHÁI

KHÂM TRẤN ĐẠO
Giáo Sư

NỮ KHÂM TRẤN ĐẠO
Nữ Giáo Sư
KHÂM CHÂU ĐẠO
Giáo Hữu
NỮ KHÂM CHÂU ĐẠO
Nữ Giáo Hữu
ĐẦU TỘC ĐẠO
Lễ Sanh
NỮ ĐẦU TỘC ĐẠO
Nữ Lễ Sanh
ĐẦU HƯƠNG ĐẠO
Chánh Trị Sự
Phó Trị Sự
Thông Sự
NỮ ĐẦU HƯƠNG ĐẠO
Nữ Chánh Trị Sự
Nữ Phó Trị Sự
Nữ Thông Sự
NAM ĐẠO HỮU
NỮ ĐẠO HỮU
.
 Phẩm tước hay chức vụ của Chức sắc nữ phái giống y  như bên nam phái, nhưng thêm chữ NỮ phía trước.


Top of Page



Mỗi Tộc Đạo cần phải xây dựng một Thánh Thất để làm nơi thờ cúng Đức Chí Tôn, các Đấng thiêng liêng và để qui tụ các tín đồ tổ chức các sinh hoạt của tôn giáo.
Vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo cai quản đạo sự trong Tộc Đạo thì cũng cai quản luôn cả Thánh Thất của Tộc Đạo.
Giúp việc văn phòng cho Đầu Tộc Đạo thì có một vị Đầu Phòng Văn khoa mục do Hội Thánh bổ nhiệm.
Nếu không có Đầu Phòng Văn thì các Chức việc Bàn Trị Sự (BTS) của Tộc Đạo phải cử ra một Thơ Ký để giúp việc văn phòng cho Tộc Đạo.
Phần cai quản Thánh Thất thì có một Ban Tứ Vụ giúp việc cho Đầu Tộc Đạo.
Sơ đồ tổ chức như sau :


Viết tắt :  - BTS : Bàn Trị Sự.   - CTS : Chánh Trị Sự.    - HT  : Hội Thánh.    - ĐTĐ : Đầu Tộc Đạo.      
* Đầu Phòng Văn của Văn phòng Tộc Đạo phải lập đầy đủ hồ sơ, sổ sách và giấy tờ cần thiết sau đây:
1.      Hồ sơ Sắc lịnh, Thánh lịnh, Huấn lịnh của HT.
2.      Hồ sơ Thánh huấn, Huấn thị, Châu tri của HT.
3.      Hồ sơ văn thư của Hội Thánh gởi xuống.
4.      Hồ sơ văn thư của Khâm Châu Đạo gởi xuống.
5.      Hồ sơ văn thư của Đầu Tộc Đạo gởi đi.
6.      Hồ sơ văn thư của Chức việc BTS gởi lên.
7.      Hồ sơ Vi bằng nhóm lệ BTS hằng tháng.
8.      Hồ sơ lưu chiếu các vụ kiện thưa, hòa giải.
9.      Sổ nhựt ký Tắm Thánh, Giải oan, Nhập môn.
10.  Sổ nhựt ký Cầu siêu các bổn đạo qui liễu.
11.  Sổ nhựt ký Khai sanh, Khai tử, Hôn phối.
12.  Sổ nhựt ký giấy tờ gởi đi.
13.  Sổ nhựt ký giấy tờ nhận được.
14.  Bộ Chức việc và Đạo hữu.
Ngoài ra còn nhiều hồ sơ linh tinh khác tùy theo Tộc đạo có nhiều hay ít công việc đạo.
* BAN TỨ VỤ của Thánh Thất :
Ban Tứ Vụ là một ban gồm có 4 vụ : Hộ vụ, Lễ vụ, Lương vụ và Công vụ. Mỗi vụ có phần hành riêng biệt.
Hộ vụ : lo việc thâu giữ tiền bạc của Thánh Thất do các tín đồ đóng góp để hành hương hay làm việc công ích trong Thánh Thất, giữ sổ thâu xuất hằng ngày.
Lễ vụ : lo việc nghi lễ, cúng Tứ thời, đàn lệ, sớ văn, quả phẩm, nhang đèn và sắp xếp các ban trực thuộc : lễ, nhạc, đồng nhi, thực hiện tang sự cho bổn đạo. 
Lương vụ : lo lương thực nuôi ăn Chức sắc và các nhân viên công quả. Lương vụ quản lý phòng trù (nhà bếp)
- Công vụ : lo việc tu bổ, bảo trì Thánh Thất và các nhà cửa làm cơ quan của Tộc đạo.
Ban Tứ vụ là một bộ phận rất quan trọng trong công việc điều hành một Thánh Thất, cho nên Đầu Tộc Đạo phải chọn cử người có uy tín và kinh nghiệm trong bổn đạo, thông thường thì chọn các cựu Chức việc mà vì hoàn cảnh gia đình chưa đi cầu phong được.
Sự chọn cử phải được toàn cả Chức việc BTS trong Tộc Đạo bỏ thăm tín nhiệm, để vị ấy có đủ uy tín làm việc.
Các ban chuyên môn :
Phần Lễ vụ có các ban chuyên môn trực thuộc : Ban nhạc, Ban lễ sĩ , Ban đồng nhi, Ban kiểm đàn.
. Ban nhạc có một Nhạc sĩ cầm đầu. Nhạc sĩ nầy phải thi đậu cấp bằng Nhạc sĩ của Bộ Nhạc Lễ và được Hội Thánh bổ nhiệm. (Xem Phần phụ : Thánh Lịnh thành lập Bộ Nhạc)
. Ban lễ sĩ có một Lễ sĩ cầm đầu. Lễ sĩ nầy phải thi đậu cấp bằng Lễ sĩ của Bộ Nhạc Lễ và cũng được Hội Thánh bổ nhiệm. (Xem Phần phụ : Sắc lệnh về Lễ sĩ và Giáo nhi) 
- Ban đồng nhi có một cô Giáo nhi cầm đầu.
Giáo nhi là cô giáo dạy các đồng nhi tụng kinh, đã thi đậu bằng cấp Giáo nhi và được Hội Thánh bổ nhiệm.
- Ban kiểm đàn để sắp đặt và gìn giữ trật tự trong đàn cúng. Nhơn viên trong Ban kiểm đàn phải lựa chọn trong hàng Chức việc hay Đạo hữu gương mẫu.
Các con em trong nhà đạo, tuổi từ 6 đến 15, tuyển vào Ban đồng nhi. Có thể tổ chức hai ban đồng nhi : nữ và nam. Khi các em nầy lớn lên thì có thể đưa vào học tập trong Ban lễ sĩ hay Ban nhạc.
Top of Page



Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo rất nặng nề, vì đây là cấp Hành Chánh Đạo cơ sở, làm việc trực tiếp với nhơn sanh, chịu hệ thống nhiều cấp chỉ huy, cho nên ngoài khả năng điều hành công việc, Pháp Chánh Truyền còn buộc Lễ Sanh ĐTĐ phải là người có đầy đủ đức hạnh mới có thể nhẫn nại vượt qua những nỗi khó khăn gặp phải.
Nhiệm vụ của Đầu Tộc Đạo có hai phần : đối ngoại và đối nội.
A.  ĐỐI NGOẠI :
Đối với chánh quyền địa phương cấp quận, huyện hay cấp xã; đối với các tôn giáo bạn và các chi phái.
1. Đối với chánh quyền địa phương :
Đầu Tộc Đạo dùng sự chơn thật và hiền hòa của người tu hành tạo sự giao thiệp tốt đẹp với các quan chức của chánh quyền đời, tham gia tích cực vào các hoạt động từ thiện và các hoạt động văn hóa nâng cao dân trí, luôn luôn bày tỏ chủ trương thuần túy đạo đức tu hành của tôn giáo Cao Đài, dứt khoát không dung túng các phần tử xấu  ẩn núp trong tôn giáo để gây chia rẽ hay mượn danh đạo làm chánh trị để tạo danh đời.
2. Đối với các tôn giáo bạn :
Đầu Tộc Đạo không nên chỉ trích hay bài bác các tôn giáo khác, cho rằng hiện nay chỉ có Đạo Cao Đài là chánh pháp, còn các tôn giáo khác là mạt pháp. Đây là điều tối kỵ mà nếu đụng vào thì hư hết các mối giao hảo.
Tôn chỉ “Tam giáo qui nguyên, Ngũ chi phục nhứt” của Đạo Cao Đài chỉ có Đức Phật Di-Lạc mới thực hiện được và cũng không biết đến bao giờ, còn đối với người đạo chúng ta trong kiếp sanh nầy thật là quá lý tưởng, cho nên điều nầy không làm cho các tôn giáo bạn hài lòng.
Đầu Tộc Đạo lấy tinh thần hòa đồng trong sự bình đẳng giữa các tôn giáo với mục đích chung là giáo dân vi thiện, cứu khổ ban vui, làm phương châm giao tiếp gây cảm tình với các tôn giáo bạn.
3. Đối với các chi phái của Đạo Cao Đài :
Hiện nay, những tín đồ trong các Chi phái của Đạo Cao Đài chỉ là những nạn nhân của một số ít Chức sắc tiền bối mà trước đây vì bất đồng quan điểm với Tòa Thánh Tây Ninh, quí vị nầy tách ra để lập Chi phái.
Đáng thương hơn nữa là họ có mặc cảm tự ti bởi Đạo Nghị Định số 8 ngày 15-7-Giáp Tuất (1934) của Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp, cho rằng “Chi phái là bàng môn tả đạo”.
Tình thế hiện nay có nhiều đổi khác, vì từ năm 1934 đến nay trải qua gần 70 năm, việc đời việc Đạo biết bao thương hải tang điền, nền văn minh tiến hóa vượt bực, thì tư duy của người đạo cũng cần phải thay đổi theo cho phù hợp với tình thế mới.
Chính Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp cũng đã nói từ năm 1957 và năm 1964 rằng :

“ Về Đạo Nghị Định của Lão đối với Chi phái là phương pháp lúc trước để phổ độ nhơn sanh mà thôi, hiện giờ cửa Đạo đã mở rộng thì cơ qui nhứt thế nào cũng thực hiện được.”  (TNST. Q4  B 11)
 “ Vậy ngày giờ đã gần đến nên Bần đạo để lời khuyên cả Chức sắc và toàn đạo ráng thế nào thống nhứt Đạo cho được mới có đủ sức mạnh để làm gương cho vạn quốc.”  (TNST. Q4  B 33)
Việc phân chia Chi phái là một vết thương âm ỉ trong lòng của mỗi tín đồ Cao Đài có nhiệt tâm vì Thầy vì Đạo, khi nhắc đến thì đau buốt cả tâm can, vì bao nhiêu lời dạy bảo thương yêu của Đức Chí Tôn đều bị phàm tâm bỏ chảy theo dòng sông ô nhiễm.
Người tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh mà không thương yêu được tín đồ Cao Đài của các Chi phái thì làm sao dám nói đến sự thương yêu đối với tín đồ các tôn giáo khác trong tôn chỉ qui nguyên phục nhứt. Cho nên, ưu tiên hàng đầu của Đạo Cao Đài là thực hiện cơ qui nhứt, như lời dạy của Đức Hộ Pháp, một là để có đủ sức mạnh phổ độ nhơn sanh, hai là làm gương tốt cho thế giới.
Cần mở rộng vòng tay đón mời các huynh đệ trong các Chi phái với một tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Còn nếu chúng ta vẫn giữ theo nếp suy nghĩ cũ, xem những người Chi phái như những kẻ hồi chánh, lầm đường lạc lối trở về, lại tự cho mình là kẻ bề trên, thì cơ qui hiệp biết đến bao giờ mới thực hiện được ! 
Cũng có nhiều vị tự cho mình là người đạo kỳ cựu nhưng họ tu lè phè, phất phơ theo cuộc thủy triều, không siêng năng cúng kiếng và làm công quả, thì bước đường tiến hóa của họ đi được bao nhiêu mà khoe là kỳ cựu ?
Tuy rủi ở trong Chi phái nhưng có nhiều người có trí thức cao, đạo hạnh tốt, trình độ tiến hoá tâm linh đáng trọng. Dù ở vị trí nào, ở hoàn cảnh nào, cũng có thể tu hành chơn chánh được, miễn là biết giữ tâm cho chơn chánh, xa lánh điều tà vạy; nhưng nếu ở trong nghịch cảnh hoài thì sự tiến hóa ắt phải khó khăn chậm trễ, chi bằng chuyển đổi hoàn cảnh cho thuận chiều Thiên lý thì sự tiến hóa tâm linh ắt dễ dàng nhanh chóng.
Chúng ta cũng cần kêu gọi những tín đồ Chi phái nên đặt lợi ích chung, danh dự chung của Đạo Cao Đài, hy sinh phần nào quyền lợi cá nhân, xem phẩm tước phàm trần là giả tạm, mà qui tụ đoàn kết với nhau trong một Hội Thánh duy nhứt, một Tòa Thánh duy nhứt, làm vui lòng hai Đấng Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu, hầu tạo được phẩm vị chơn thật nơi cõi thiêng liêng.
Con đường tiến hóa tất yếu của Đạo Cao Đài là phải qui hiệp, những chướng ngại trên con đường tiến hóa nầy sẽ bị dẹp bỏ, ai giữ mãi tinh thần chia rẽ sẽ bị đào thải là lẽ tất nhiên không thể nào tránh khỏi.

B.  ĐỐI NỘI :
1. Cấp trên trực tiếp của Đầu Tộc Đạo là Khâm Châu Đạo, nên tất cả Đạo sự trong Tộc đạo, Đầu Tộc Đạo phải báo cáo đầy đủ chi tiết lên Khâm Châu Đạo, gặp những việc khó khăn thì phải xin ý kiến của Khâm Châu Đạo giải quyết. Ngoài ra, Đầu Tộc Đạo còn phải làm đủ tất cả các phúc trình Đạo sự gởi lên Châu đạo, Trấn đạo và Hội Thánh ở Trung ương.
2. Đầu Tộc Đạo phải ban hành các các giấy tờ của Đạo do cấp trên gởi xuống như : Đạo lịnh, Thánh lịnh, Huấn lịnh, Thông tri, Châu tri, vv. . .
3. Thiết lập các đàn cúng Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng vào những ngày Vía hay Sóc Vọng.
Sau thời cúng thì đọc Thánh Ngôn hay thuyết đạo, nhưng cần ngắn ngọn vì các tín đồ đã mỏi mệt nhiều.
4. Đầu Tộc Đạo lo nhập môn cho Tân tín đồ, khai đàn, thượng tượng và dẫn giải lễ nghi thờ cúng của Đạo.
5. Đầu Tộc Đạo chủ tọa các phiên họp của các Chức việc Bàn Trị Sự và Ban Tứ Vụ của Thánh Thất, Đầu Phòng Văn làm Từ hàn lập biên bản các phiên họp.
6. Đầu Tộc Đạo cùng Chức việc BTS, Ban Tứ Vụ lo tang tế sự cho các bổn đạo trong địa phận của mình, hoặc đi thăm viếng và giúp đỡ các gia đình đạo gặp khó khăn.
7. Đầu Tộc Đạo chủ tọa việc công cử các chức vụ Bàn Trị Sự khi bị khuyết, có mời vị Pháp Chánh của Tộc đạo đến giám thị. (Xem chi tiết nơi phần sau).
8. Về quyền sửa trị và giáo hóa của Đầu Tộc Đạo :
“ Lễ Sanh khi đã nhậm chức Đầu Tộc Đạo (ĐTĐ) thì có quyền giáo hóa chư Chức việc và tín đồ trong Tộc đạo mình cai quản và có quyền hòa giải những sự xích mích giữa người bổn đạo.
 1- Khuyên giải : Khi có người phạm lỗi nhẹ về Thế luật hoặc thiếu hạnh kiểm làm mất tư cách người đạo, làm tổn thương đến danh thể chung của người đồng đạo thì Lễ Sanh ĐTĐ phải có bổn phận dạy khuyên cho người biết ăn năn chừa lỗi.
 2- Răn phạt : Nếu vị nào chẳng biết sửa mình chừa lỗi, lại còn tái phạm thì Đầu Tộc Đạo có quyền răn phạt bằng cách quì hương tụng kinh Sám Hối.
 3- Hòa giải : Những việc xích mích tranh tụng thường sự giữa người đồng đạo, dầu thuộc về việc đời hay việc đạo, Đầu Tộc Đạo chẳng nên dễ dãi bỏ qua để mất hòa khí, sanh những mầm hờn giận ghét ganh, mất tình tương thân tương ái cùng nhau.
Trong trường hợp nầy, Đầu Tộc Đạo cần mời tất cả đôi bên đến, dùng lời lẽ đạo đức giải thích phép đời luật đạo, lời thuận lẽ êm, cân phân phải quấy, cho đôi bên hiểu rõ, rồi hòa giải cho được thuận hòa cùng nhau.
 4- Răn trị : Người giữ đạo buộc phải tuân y luật pháp của Đạo :   - Luật có Tân Luật,
     - Pháp có Pháp Chánh Truyền.
Thoảng như có vị nào phạm luật, phạm pháp về mấy khoản nặng mà Lễ Sanh ĐTĐ đặng hiểu biết hay do Chức việc BTS phúc tờ lên thì ĐTĐ chẳng nên im ẩn mà chính mình phải đích thân đến tận nơi mở cuộc minh tra cho minh bạch, hoặc mời đến văn phòng hạch vấn cho ra lẽ, rồi phúc sự lên Giáo Hữu Khâm Châu Đạo để cho người liệu phương giáo hóa, hay Khâm Châu Đạo tư tờ về Hội Thánh định đoạt.
 5 - Kiện tụng : Thoảng như có việc kiện tụng rắc rối đại sự, ĐTĐ đã hết lời hòa giải mà chẳng đặng, đôi đàng vẫn cố tình tranh đua hơn thiệt, hoặc vì quyền lợi, hoặc vì danh thể cá nhân, có ảnh hưởng đến quyền dân sự, chừng đó mới buộc lòng để hai đàng kiện đến tòa án quốc gia.
Còn những vụ tranh tụng về đạo mà Đầu Tộc Đạo hòa giải không đặng thì nên dùng quyền điều tra riêng, với tư cách vô tư, rồi phúc sự nội vụ lên cho Giáo Hữu Khâm Châu Đạo phân xử.
Chú ý : Lễ Sanh ĐTĐ cần phải am hiểu bộ Luật lệ xử đoán đã ban hành ngày 29-5-Đinh Dậu (1957) của Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh.
“ Để có thực lực hữu hiệu điểm tô nghiệp đạo tại địa phương được tốt đẹp, ĐTĐ phải đặt tình thương lên trên hết, thật hành bác ái, vị tha, hướng dẫn điều hành thuộc cấp. Về tâm lý, phải sửa sai những lầm lẫn trong trách vụ, vui nhận mọi ý kiến của đàn em xây dựng mới đáng bậc đàn anh, có như vậy mới đẩy mạnh guồng máy Hành Chánh Đạo được nhịp nhàng và đắc nhơn tâm, thực hành đúng câu “thể Thiên hành hóa” mà Hội Thánh tin giao cho mỗi vị ĐTĐ đó vậy.”  (Trích tài liệu Hạnh Đường Lễ Sanh)
Top of Page



Chức việc Bàn Trị Sự (BTS) gồm 3 phẩm cấp : Chánh Trị Sư (CTS)ï, Phó Trị Sự (PTS), Thông Sự (TS), chịu dưới quyền trực tiếp của ĐTĐ, nên phải sát cánh cùng ĐTĐ trong các đạo sự tại Hương đạo. Mọi đạo sự trong Hương đạo đều phải báo cáo với Đầu Tộc Đạo.
1. Bổn phận Chức việc BTS đối với Hội Thánh.  
Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy : “ Thầy dùng lương sanh mà cứu vớt quần sanh. Cả lương sanh ấy, Thầy dụng quyền thiêng liêng dạy dỗ, trước un đúc nơi lòng một khiếu từ bi cho tâm địa có tính ái vật ưu sanh theo tánh đức háo sanh của Thầy, dùng lợi khí phàm tục để độ rỗi người phàm tục. Những lương sanh ấy hiệp lại làm một, lập thành Hội Thánh, là xác thân phàm, tức hình thể hữu vi của Thầy tại thế để thể Thiên hành hóa, làm gương mẫu giáo hóa  dìu dắt con cái của Thầy trên đường Đạo và đường Đời trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ, để Thầy tránh khỏi phải hạ trần như lúc Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ.
Bổn phận của Chức việc BTS là phải tuân mạng lịnh của Hội Thánh truyền dạy, không được phép trái với sở định của bề trên, chẳng lấy ý riêng của mình mà canh cải, bất tùng giáo hóa. Phải giữ lễ nghĩa khiêm cung đối với Chức sắc Hội Thánh cho vẹn toàn bổn phận làm em, dầu có người kém tài trí đi nữa, đàn em cũng chẳng nên khinh khi, vi lịnh. Khinh khi vi lịnh người tức là buộc vào mình tội bất tuân luật pháp.
Thảng như Chức sắc bề trên cầm quyền Hành Chánh Đạo rủi có việc chi ngộ bất cập lượng, sai suyễn một đôi điều không phù hạp luật thương yêu và quyền công chánh, thì bổn phận của đàn em được phép gián can với lễ độ của tình huynh đệ nhất gia, chỉ rõ những việc khuyết điểm để cho đàn anh suy độ mà cải cách hành vi cho phù hạp nhơn tâm, thuận tùng Thiên lý. Một điều nên ghi nhớ trong Tứ Đại Điều Qui là : Dưới gián trên đừng thất khiêm cung mà lỗi đạo làm em và bị phạm luật đạo.
Tóm lại, bổn phận Chức việc BTS, đã mang danh là Hội Thánh Em, mà đối với Hội Thánh cùng Chức sắc đàn anh bề trên được như vậy thì bao giờ Hội Thánh cũng tín nhiệm đàn em có tâm vì Đạo và cũng là làm tròn sứ mạng thiêng liêng của một Chức việc đối với Hội Thánh.

2. Bổn phận Chức việc BTS đối với bổn đạo.
Chúng ta công nhận Đức Chí Tôn là Ông Cha chung của nhơn loại về phần thiêng liêng, tức nhiên nhơn loại là anh em với nhau, mặc dù khác màu da sắc tóc, cái tình huynh đệ nầy giữa người đồng Đạo càng thêm thâm thúy và mật thiết hơn.
Đức Chí Tôn có giảng dạy :
            Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
            Cùng  nhau  một  Đạo  tức  một Cha.
            Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
            Dạy  lẫn  cho  nhau  đặng  chữ  hòa.
Vậy Chức việc BTS đối với bổn đạo đàn em phải hết dạ thương yêu, thành thật giúp đỡ và dìu dắt đàn em trên đường Đạo cũng như trên đường đời. Phải giữ hạnh khiêm cung từ nhượng, dùng lời dịu ngọt mà dạy dỗ, nhứt là phải đối xử cho công bình, giữ mình trong sạch để nêu gương tốt cho đàn em bắt chước.
Chức việc BTS được quyền sai khiến đàn em trong phạm vi quyền hạn của mình. Phải chỗ khiến thì ôn tồn mà khiến, chẳng phải chỗ sai chớ cưỡng bách mà sai, đừng làm điều chi quá quyền mà mất niềm hòa khí cùng nhau trong tình huynh đệ của đại gia đình tôn giáo.
Chức việc BTS là người thay Hội Thánh, thân cận với nhơn sanh trong Hương đạo, thì bổn phận của mỗi vị cần phải thực thi đúng trách nhiệm của mình y theo Pháp Chánh Truyền, tóm lược sau đây :
 1- Chánh Trị Sự :  Mỗi Hương đạo có một Chánh Trị Sự, thay mặt Hội Thánh làm đầu  tín đồ, gọi là Đầu Hương Đạo, làm anh cả trong địa phận ấy, chịu trách nhiệm về phần Đời và phần Đạo đối với Hội Thánh.
Vì vậy, Chánh Trị Sự phải là người đầy đủ đạo hạnh, hiểu biết về Luật pháp Chơn truyền của Đại Đạo, có đủ năng lực dìu dẫn bổn đạo được trong ấm ngoài êm, chăm nom giúp đỡ sanh hoạt của môn đệ Thầy, giúp khó trợ nghèo, coi cả tín đồ như  em ruột.
Chánh Trị Sự cầm quyền Luật pháp và Hành Chánh Đạo. Tại sao người cầm hết hai quyền ? Bởi vì CTS là Đầu Sư Em, nên phải kiêm cả hai quyền và làm đầu trong một Hương đạo. Trong Luật pháp, cấm CTS không được xâm phạm ranh giới của CTS khác. Ngoài ra, luật pháp còn nghiêm cấm không cho công cử CTS Nội dung, CTS Đầu văn phòng, hoặc CTS Phổ tế.
 2- Phó Trị Sự :  là người thay mặt Chánh Trị Sự trong một Ấp, gọi là Tri Lý Đạo để lo về phần hành chánh đạo, đặng phép sửa đương giúp đỡ, dìu dắt, dạy dỗ chư tín đồ trong địa phận trấn nhậm.
Về mặt xã hội, giúp đỡ bổn đạo trong xóm ấp được tương thân tương trợ, gặp người hoạn nạn thì Phó Trị Sự  phải sốt sắng kêu gọi bổn đạo chung tâm trợ giúp. Phó Trị Sự có quyền giáo hóa chớ không có quyền sửa trị.
Phó Trị Sự cầm quyền hành chánh tức là Chánh Trị Đạo, ở Pháp Chánh Truyền gọi là Giáo Tông Em. Hễ quyền trên lớn lao bao nhiêu thì quyền dưới cũng thế, nhưng Phó Trị Sự  chỉ cầm quyền một Ấp đạo.
Hai vị Phó Trị Sự và Thông Sự đều đồng thể, không ai lớn ai nhỏ, cũng như Giáo Tông và Hộ Pháp, song quyền hành riêng biệt : Phó Trị Sự có quyền về Hành Chánh Đạo, còn Thông Sự có quyền về Luật lệ. Phó Trị Sự  và Thông Sự  đều có quyền ứng cử  chức Chánh Trị  Sự.
 3- Thông Sự :  là người thay mặt Chánh Trị Sự trong một Ấp,  gọi là Thông Lý Đạo, để lo về phần luật lệ.
Thông Sự có quyền răn dạy người đạo phạm luật pháp của đạo bằng cách giải thích khuyên lơn, nếu đôi ba lần mà người phạm lỗi không biết ăn năn chừa cải thì Thông Sự có quyền phúc sự lên CTS khuyên giải hoặc định hình phạt sám hối. Thông Sự là người cầm luật pháp, nên trong Pháp Chánh Truyền gọi là Hộ Pháp Em, nghĩa là đồng quyền đồng thể, không hơn không kém, nhưng Hộ Pháp cầm quyền toàn Đạo khắp thế giới, còn Thông Sự chỉ cầm quyền trong địa phận một Ấp đạo mà thôi, vì thế mới gọi là Hộ Pháp Em. (Trích Hạnh Đường Huấn Luyện BTS)
Top of Page



Người tín đồ, tuy đã nhập môn vào Đạo Cao Đài, nhưng vẫn là một công dân của quốc gia, một thành viên của xã hội và của gia đình, nên người tín đồ Cao Đài phải có bổn phận trước hết là đối với quốc gia, đối với xã hội và sau đó là đối với gia đình. Đó là phần Nhơn đạo.
Nhơn đạo có lo tròn thì mới có thể tu hành cầu phần Thiên đạo giải thoát.
Phần Nhơn đạo của người tín đồ thì rất rõ ràng và có nhiều sách khai triển chi tiết, nhứt là các sách thuộc Nho giáo.  Ở đây, trong phần nầy,  xin nêu ra một số bổn phận của người Đạo hữu Cao Đài trong phạm vi tôn giáo.
Trong tôn giáo Cao Đài, một Đạo hữu cần có các bổn phận căn bản sau đây :
1. Phải tuân theo và gìn giữ luật pháp chơn truyền của Đại Đạo.
2. Luôn luôn ghi nhớ lời Minh Thệ lúc nhập môn cầu Đạo và giữ mình không được thất thệ.
3. Phải tuân lời dạy của Hội Thánh và của Chức sắc bề trên, nhưng cũng phải có sự nhận định sáng suốt đúng theo lẽ đạo.
4. Phải ăn chay tối thiểu 10 ngày trong một tháng, gìn giữ Ngũ giới cấm và Tứ đại điều qui theo Tân Luật.
5. Phải năng hầu đàn tại Thánh Thất và cúng Tứ thời tại tư gia.
“ Vào đạo rồi chớ nên lầm tưởng rằng, nhà mình có lập Thiên bàn thờ Thượng Đế, mỗi bữa cúng Tứ thời là đủ, cần chi phải đến Thánh Thất hầu đàn, vì ở đâu cũng Thầy vậy. Nghĩ như thế rất sai. Thánh Thất là nhà thờ chung lập ra cho chư Đạo hữu tới ngày sóc vọng (mùng 1 và 15) tựu đến, trước là dâng đại lễ cúng Thầy, cùng nghe thuyết pháp, sau nữa là có dịp cho mình hội hiệp nhau để luận bàn đạo đức, cùng xe chặt mối tương thân.
“ Thánh Thất lại là nơi biểu hiệu nền chơn đạo của Đấng Chí Tôn, do đó mà nhơn sanh mới biết cách hành đạo cùng cách sắp đặt đạo nghi niêm thức của mình ra thể nào, do đó mà đạo dễ phổ thông. Cho nên ngày sóc vọng, chư Đạo hữu nơi nào cần đến Thánh Thất nơi đó hầu đàn cho đông đảo thì đạo mới ra vẻ thạnh hành.
“ Nếu mỗi người cứ nói ở nhà cũng có Thầy, rồi nhà ai nấy cúng mãi, thì Thánh Thất tất phải bỏ không, ấy có phải là điều đại quan hệ cho nền đạo lắm chăng ?
“ Điều lệ hầu đàn : Cúng tế Trời Phật quí tại lòng thành kỉnh. Chư Đạo hữu nam nữ đến hầu đàn phải cho tinh khiết nghiêm trang.
“ Vậy, trước khi đến hầu đàn, phải dọn mình cho sạch sẽ, hết lòng thành kính khẩn nguyện cùng Trời Phật. Đến đàn rồi, phải giữ lễ nghi cho nghiêm trang. Trước khi chỉnh đàn, không đặng ở trước Thiên bàn mà giỡn cợt hay
là nói điều chi hoại sự hay là khạc nhổ trong đàn.  
“ Dầu chỉnh đàn rồi, dầu chưa chỉnh đàn cũng vậy, nam nữ phải cho phân biệt thứ tự hẳn hòi, cứ trong ngó ra thì nam tả nữ hữu, không được lộn xộn, không phép nói cười lả lơi, không đặng lời to tiếng nhỏ, không đặng phép đem chuyện người ngoài mà thuật lại, không đặng luận bàn quốc sự, không đặng đồn đãi điều chi huyễn hoặc, không đặng nhắc chuyện bất bình buổi trước mà cãi lẫy nhau, không đặng hơn thua rầy rà, không đặng nói chuyện của Đạo hữu vắng mặt, không đặng dùng lời quanh co soi bói nhau, không đặng giả ý nói chơi mà kỳ trung châm chích nhau, không đặng đem đến đàn những sách vở chi khác hơn là sách vở mà Hội Thánh đã phê chuẩn.
“ Khi nhập đàn : Nhập đàn phải khăn đen áo dài trắng, môn đệ của Đấng Chí Tôn thì sắc phục cứ tuân theo Thánh ý, mỗi người ai phải lo phận nấy, giữ cho khỏi vô lễ với Đấng Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
“ Chỉnh đàn rồi, phải phân hàng đứng hầu lẳng lặng, khi cúng phải cho đại tịnh.
“Những người uống rượu lỡ thì không nên nhập đàn.
“ Hầu đàn thì thân thể phải cho tinh sạch, lòng dạ kỉnh thành. Việc tinh khiết cùng chẳng tinh khiết trong mình thì ai biết nấy, chớ người nào khác hơn mình thì không thể rõ đặng. Ai đến lỡ mà trong mình không tinh khiết thì chẳng khá nhập đàn, e mang lỗi cùng Trời Phật.”  (Trích Phương Châm Hành Đạo của Đức Quyền Giáo Tông)â
6. Học tập cho nhuần nhuyễn 4 quyển sách căn bản của Đại Đạo là :            + Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.
           + Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
                        + Pháp Chánh Truyền.
                        + Tân Luật.
Tại sao chúng ta phải học đạo ? Học đạo để biết Đấng Thượng Đế là ai ?  Ta là ai ? Tại sao chúng ta phải tu ?  Mục đích của đời sống con người là gì ?   vv. . .
Trong các việc học thì học đạo là khó khăn nhất, vì học chữ chỉ dùng trí não để lãnh hội, còn học đạo thì dùng cả trí não và tâm hồn mới lãnh hội được.
7. Đạo hữu còn phải học tập thêm các kinh sách khác của Đạo để trau giồi kiến thức và nhờ đó được :
            - củng cố và phát triển đức tin,
            - từ bỏ mê tín, chỉ còn chánh tín,
            - biệt phân thiện ác, chánh tà.
“ Sách kinh luật lệ trong Đạo chẳng khác nào ngọn đèn để soi tỏ bước đường cho người giữ đạo.
“ Người ít học cần năng đọc sách xem kinh, một là mở mang kiến thức cho mình, hai là đặng rõ thông đạo lý. Luật đạo là qui tắc dọn sẵn để mọi người do theo mà hành đạo cho có chuẩn thằng, cho khỏi phạm điều giới cấm. Có người nhập môn rồi mà không lo học hỏi theo kinh sách, giữ mình theo luật lệ, mỗi ngày chỉ cúng Tứ thời là gọi đủ, rồi than phiền rằng : Vào Đạo rồi mà không thấy ai chỉ bày tâm pháp, đạo lý chi hết. Than phiền như vậy rất sai lầm, vì số bổn đạo vẫn hằng ức hằng triệu, ai hơi đâu chỉ biểu từ người. Thiên thơ sẵn, chơn kinh sẵn, tại mình không thỉnh mà xem, để than phiền trái lẽ.
“ Đó là phần người ít học. Còn phần người trí thức, tuy mình tài cao trí rộng mặc dầu, chớ mới bước chơn vào cửa Đạo, không thế nào hiểu đạo cho rành, mà dầu có hiểu thông đạo lý đi nữa, cũng nên xem kinh sách nào thuở nay mình chưa đọc đến, vì kinh sách ấy có lẽ cũng giúp thêm kiến thức cho mình nhiều ít. Vả lại, tuy mình tài trí mặc dầu, chớ mới vào đạo, thế nào hiểu thấu tôn chỉ cùng luật pháp đạo mầu cho rành rẽ. Ví dụ như một người thông minh kia sang đến xứ lạ nọ, muốn biết đường sá nơi ấy cần phải hỏi thăm người bổn thổ, chớ có đâu tự phụ rằng, mình là người thông thái, không cần chi phải hỏi han đến kẻ thường nhơn thiểu học.
“ Việc Đạo cũng vậy, mình giỏi là giỏi về phương diện khác mà thôi, chớ mới vào cửa Đạo, tức cần phải hỏi đạo nơi người thông đạo trước mình, hoặc là học cứu nơi kinh sách. Đến khi rõ thông đạo lý rành rẽ rồi, nhờ trí thức của mình ra công nghiên cứu thêm nữa, có lẽ mình sẽ trổi hơn người đã chỉ dẫn cho mình trước đó, rồi mình có thể trước tác ra nhiều sách vở có giá trị hơn sách vở mà mình đã xem trong buổi nhập môn cầu đạo.
 “ Phải xem kinh sách thế nào ?
 “ Kinh sách vẫn do các Ngài rõ thông đạo lý soạn ra, song các bực ấy vốn cũng người phàm như mình, nên cũng có chỗ sai lầm sơ sót, vì vậy mà kinh sách tự nơi mấy vị ấy soạn ra cũng có chỗ khuyết điểm sai lầm. (Xin chớ lầm tưởng rằng, kinh điển xưa vẫn là của Thánh Tiên làm ra hết; dầu cho thiệt của Thánh Tiên đi nữa, chớ lúc soạn ra kinh điển ấy, các Ngài vẫn cũng còn phàm thì tất phải còn lầm lạc).
“ Vả lại, kinh sách làm ra phải hạp thời tùy thế. Có nhiều quyển kinh xưa, sách cũ đối với đời trước thì rất hạp thời, mà đối với đời nay lại có lắm điều không hạp (Tác giả [Đức Quyền Giáo Tông] không trưng bằng cớ ra đây là không muốn kích bác đến kinh sách nào cả).
“ Vậy nên, muốn đọc kinh sách nào cho được bổ ích, ta cần biết suy nghĩ nghiên cứu, khoản nào chánh lý thì để lòng, đoạn nào mờ hồ thì chớ nên tin vội, chỗ nào hạp theo thời thế thì nghe, khoản nào nghịch với tôn chỉ thì bỏ. Chẳng nên quá tin nơi kinh sách, chớ nên tưởng rằng, kinh sách của Thánh Hiền làm ra cả thảy, nên dạy sao phải nghe nấy. Đọc sách như vậy thì nguy lắm đó !
“ Kinh sách có chỗ đáng tin mà có chỗ cũng không nên tin. Nếu tin hết thì phải lầm lạc. Đọc kinh sách mà không biết phân biệt điều nào hữu lý, điều nào phi lý; đọc kinh sách mà tri thức không biết mở mang, tư tưởng không biết độ lượng, thành ra đã tốn công vô ích, lại còn làm nô lệ kinh sách nữa. Như vậy, thà đừng đọc là hơn.
“ Sách có câu : “ Tận tín thư bất như vô thư ”, nghĩa là : Tin hết sách chẳng bằng không đọc sách.
“ Thuở nay, nhiều người quá tin nơi kinh sách điển xưa, cứ nhắm mắt tin theo từng chữ, nghe từng câu, rồi hiểu sái tin lầm, khổ tâm luyện đạo. Than ôi !  đã không ấn chứng thì chớ, lại còn hại đến tinh thần là khác.
“ Ấy vậy, xem kinh sách để rõ thông đạo lý thì nên, chớ do theo đó mà luyện đạo thì nguy lắm, vì hễ hiểu lầm một mảy thì cũng đủ hại cho châu thân.
“ Muốn luyện đạo cho ấn chứng, trước hết ta cần phải tu âm chất và lập công bồi đức cho đầy đủ, đến khi công viên quả mãn rồi, một câu tâm pháp chơn truyền của Thầy ta là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng đủ cho ta hiểu đạo.
“ Vả lại Đức Thượng Đế có dạy rằng : “ Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh chẳng khác chi đũa ăn cơm. Chẳng có nó, kẻ ăn cơm bốc tay cũng ăn đặng.
“ Ý Đấng Chí Tôn muốn nói như vầy : Kinh điển tỉ như đũa, luyện đạo tỉ như ăn cơm. Người đủ âm chất đạo đức, rõ thông kinh điển thì luyện đạo rất giản tiện, tỉ như người ăn cơm có đũa vậy. Còn người có đủ âm chất đạo đức mà không rõ thông kinh điển đi nữa, bất quá luyện đạo khó một chút vậy thôi, thế nào luyện cũng thành đặng,
tỉ như kẻ ăn cơm, dầu không đũa, bốc ăn cũng xong vậy.
“ Tóm lại, vào cửa Đạo rồi, bất kỳ kinh xưa sách nay, thảy đều nên xem cho biết, song cần phải xét suy chiêm nghiệm, phân biệt giả chơn, thì đọc mới bổ ích.” 
(Trích trong Phương Châm Hành Đạo của Đức Quyền Giáo Tông)

         8. Bổn phận quan trọng nhứt là làm công quả.
Làm công quả là làm những công việc nơi cõi trần để hưởng cái kết quả ích lợi nơi cõi thiêng liêng.
Không phải chỉ có vô Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu làm những công việc nơi đó mới gọi là công quả. Chúng ta phải hiểu cho rộng rãi hơn, nghĩa là làm tất cả công việc giúp đời, giúp người, nói chung là cứu khổ ban vui cho chúng sanh mà không nhận tiền thù lao với tấm lòng vui vẻ tự nguyện thì gọi là công quả.
Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy, muốn đắc đạo thành Tiên, Phật thì phải làm công quả.
Trong TNHT, Đức Chí Tôn xác định rằng :
“ Người dưới thế nầy, muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của; còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc đạo phải có công quả.  Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một trường công đức cho các con nên đạo. Vậy đắc đạo cùng chăng là tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc đạo bao giờ.”  (Xem tiếp : Phương pháp tu hành trong thời Đại Ân Xá).
9. Người Đạo hữu, khi đi trên con đường đạo, gặp phải nhiều khó khăn chướng ngại thì nên xin thọ Phép Giải Oan nơi vị Giáo Hữu Khâm Châu Đạo trong những ngày mùng 1 hay 15 tại Thánh Thất. Hiệu quả của Phép Giải Oan được nói rõ trong bài Kinh Giải Oan in trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.
Ngoài ra, đối với con cháu thiếu nhi dưới 17 tuổi trong gia đình, nên đưa đến Thánh Thất thọ lễ Tắm Thánh và xin cấp cho đứa nhỏ một Giấy chứng nhận Tắm Thánh. Giấy nầy có giá trị đối với đứa nhỏ như là Sớ Cầu Đạo của người Đạo hữu vậy.
Ý nghĩa của việc Tắm Thánh được nói rõ trong bài Kinh Tắm Thánh. Sự Tắm Thánh nầy còn có ý nghĩa là tẩy rửa chơn thần của đứa bé cho trong sạch để mở mang trí thông minh của nó, học hành mau tiến bộ.
(Lưu ý : Thanh niên đủ 18 tuổi mới được nhập môn cầu đạo và được cấp giấy Sớ Cầu Đạo).
Top of Page



A.  Công cử Chánh Trị Sự :
Chánh Trị Sự (CTS) phải chịu cho toàn cả Phó Trị Sự và Thông Sự  trong Hương đạo xúm nhau công cử.
Đạo hữu được mời đến dự kiến để phê bình chỉ trích hoặc đồng ý với ứng cử viên, ký tên vào Vi bằng công cử, nhưng không có quyền bỏ thăm bầu cử CTS.
Hồ  sơ  Ứng  cử  viên  gồm có :
                        1. Đơn xin ứng cử.
                        2. Chứng chỉ Hạnh kiểm.
                        3. Tờ khai lý lịch và công nghiệp.
Chỉ có Phó Trị Sự  hoặc Thông Sự đương quyền mới được ứng cử chức Chánh Trị Sự. Đạo hữu không có quyền ứng cử chức CTS.  Hồ sơ ứng cử phải nạp cho Đầu Tộc Đạo.
Chánh Trị Sự là người có đầy đủ đạo hạnh, hiểu biết về luật pháp chơn truyền của Đại Đạo, có đầy đủ năng lực dìu dẫn bổn đạo được trong ấm ngoài êm, chăm nom giúp đỡ sanh hoạt của môn đệ Thầy, giúp khó trợ nghèo, coi cả tín đồ như anh em ruột. Do đó, việc công cử một vị Chánh Trị Sự phải cho châu đáo. Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo cần quan sát kỹ lưỡng hạnh kiểm và năng lực hành đạo của ứng cử viên trước khi đem ra công cử.
Sau khi Đầu Tộc Đạo xem xét xong hồ sơ mỗi vị rồi, phải gởi danh sách cho toàn Chức việc trong Hương đạo hiểu biết và định ngày công cử, ít nhứt là trước 10 ngày.
Chánh Trị Sự  đắc cử mỗi nhiệm kỳ là 5 năm.
Đắc cử rồi mà vô cớ phế phận, không trọn khóa đắc cử thì không được kể công nghiệp, mặc dù có viện lý do.
Chánh Trị Sự mãn khóa được quyền ra ứng cử và tái cử lại một khóa nữa (Thủ tục cũng như mới ra ứng cử).
Một khi có cuộc công cử Chức việc Bàn Trị Sự thì phải thành lập một Ủy Ban chứng sự, xem xét cuộc công cử hầu tránh điều gian lận trong khi đầu phiếu.
Ủy Ban nầy có ba nhân viên :
 - Đầu Tộc Đạo sở tại làm Chủ Tọa.
 - Luật Sự Pháp Chánh địa phương làm Giám Thị.
 - Chánh Trị Sự Đầu Hương Đạo kế cận chứng kiến.
Sau cuộc đầu phiếu công cử xong, phận sự của Ủy Ban nầy là tuyên bố liền tên họ của người đắc cử, kế lập Vi Bằng công cử và tờ cử 3 bổn y nhau, gởi về cho Khâm Châu Đạo nhờ xem xét và phê kiến, rồi giao trả cho Tộc Đạo 1 bổn để hồ sơ lưu chiếu, 1 bổn để hồ sơ văn phòng Khâm Châu Đạo, còn 1 bổn gởi về văn phòng Lại Viện.
Đến mãn hạn kỳ 6 tháng tạm vị, nếu xét đủ tinh thần phục vụ, hạnh kiểm tốt, không phạm luật đạo, Đầu Tộc Đạo lập phúc trình và hồ sơ ứng cử, Vi bằng Công cử, Tờ cử, đính theo ba ảnh bán thân (4 x 6), Hội Thánh sẽ ban Đạo Cấp chánh vị. Đó là cuộc công cử đúng phép.
Về việc bỏ thăm bầu cử : có hai cách : - hoặc bỏ thăm kín bằng cách viết tên người mà mình lựa chọn trên
lá thăm, - hoặc bỏ thăm hở bằng cách đưa tay.
Nhưng cách bỏ thăm kín hay hơn, cốt để tránh việc xu hướng và vị nể.
Lúc khui thăm, Chủ tọa mở các lá thăm đọc rõ từng tên cho Thơ ký ghi chép để xem ai nhiều ít. Vị nào đắc cử là chiếm được đa số thăm hơn hết, song ít nhất được 1 thăm trội hơn phân nửa tổng số thăm mới đặng.
Thí dụ : Số cử tri là 10 thì số thăm tối thiểu để đắc cử phải là : 5 + 1 = 6 lá thăm.
Nhược bằng cuộc bầu cử lần đầu không có người chiếm đủ đa số thăm như vậy thì Chủ tọa tuyên bố tái bầu cử, ai được nhiều thăm hơn là đắc cử, khỏi luật buộc 1 thăm hơn phân nửa tổng số.

B. Công cử Phó Trị Sự và Thông Sự :
Mỗi tín đồ, sau khi đổi Sớ Cầu Đạo Tạm, lấy Sớ Cầu Đạo Thiệt Thọ rồi, đều có quyền bầu cử và ứng cử chức Phó Trị Sự  hay Thông Sự, nhưng nam nữ riêng biệt vì hai hệ thống Hành Chánh Đạo nam và nữ riêng biệt nhau.
Ứng cử viên Phó Trị Sự và Thông Sự phải là người Đạo hữu giữ thập trai, có đạo tâm, sốt sắng và có năng lực hành sự.  Mỗi Ấp đạo chỉ có một Phó Trị Sự và một Thông Sự làm đầu.  Phó Trị Sự và Thông Sự đồng thể cùng nhau, song quyền hành riêng biệt : Phó Trị Sự có quyền về Hành Chánh Đạo, còn Thông Sự có quyền về Luật lệ.
Khi công cử thì Đầu Tộc Đạo chủ tọa, Chánh Trị Sự sở tại thị chứng, Pháp Chánh làm giám thị, các Đạo hữu trong Ấp đạo làm cử tri (người bỏ thăm).
Số Đạo hữu đến bỏ thăm không được dưới 12 người.
Các văn kiện sau khi đắc cử cũng làm y như trường hợp công cử Chánh Trị Sự.
.
Trường hợp đặc biệt Hương đạo mới thành lập : Đề cử 
Hương đạo mới phổ độ thành lập thì Đầu Tộc Đạo có quyền đề cử, nghĩa là lựa chọn trong hàng Đạo hữu, những vị nào có hạnh kiểm tốt, đạo tâm sốt sắng, để thành lập Bàn Trị Sự đầu tiên, gồm có :
- 1 Chánh Trị Sự,  - 1 Phó Trị Sự,  - 1 Thông Sự.
Sau khi đề cử xong, Đầu Tộc Đạo phải đệ tờ về Hội Thánh xin xác nhận mới có giá trị. (Trích trong tài liệu Hạnh Đường Huấn Luyện Lễ Sanh và Huấn Luyện Bàn Trị Sự)
Top of Page



Để có sự hiểu biết về các Ban chuyên môn : Nhạc, Lễ và Đồng nhi, chúng tôi xin chép ra sau đây Thánh Lịnh của Đức Phạm Hộ Pháp qui định về Lễ sĩ, Giáo nhi và Thánh Lịnh thành lập các phẩm Chức sắc của Bộ Nhạc.

1.      Về Lễ Sĩ và Giáo Nhi :

     Văn Phòng                        Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
PHẠM HỘ PHÁP                              (Thập nhị niên)
       SỐ : 51                             Tòa Thánh Tây Ninh

SẮC LỊNH

Nghĩ vì Tân Kinh là Kinh Tận độ đã ra, nên cần nhứt phải có Lễ sĩ và Giáo nhi dạy mấy em Đồng nhi cho thành thuộc, phòng độ rỗi phần hồn của toàn con cái Chí Tôn khắp cả các nơi mà phướn đạo đã đủ huyền linh che chở,
Nghĩ vì Hội Thánh mong mỏi mở rộng con đường Thánh đức cho đoàn hậu tấn bước vào Thánh Thể của Chí Tôn   đặng lập vị,
Nghĩ vì trẻ em đồng nhi từ 11 năm mở Đạo đến nay đã trưởng thành nên buộc Hội Thánh định phần phong thưởng công nghiệp,  nên :
SẮC LỊNH :
            Từ đây mở khoa mục mỗi năm cho Lễ sĩ và Giáo nhi thi cử.
Lễ sĩ thi theo mặt kinh luật của đạo về Quan, Hôn, Tang, Tế, nhứt là về Lễ Nhạc. Buộc Lễ sĩ phải cần cho hay một món đờn trong mấy thứ âm nhạc : Tam, Tiêu, Tranh, Đản, Kìm, Tỳ, Cò, Độc.
Giáo nhi thì phải thuộc lòng Tân Kinh và cũng phải thuộc  một môn âm nhạc như Lễ sĩ.
Những Đồng nhi nam nữ có đủ giấy chứng của Tòa Thánh, lớn trên 20 tuổi mới đặng thi Lễ sĩ và Giáo nhi, và phải biết viết với đọc chữ quốc ngữ.
Mỗi năm mở khoa mục ngày rằm tháng 10 tại Tòa Thánh.  Hội Thánh chia ra hai thứ  Lễ sĩ và Giáo nhi :
*  Thứ nhứt là những hạng Lễ sĩ và Giáo nhi trọn hiến thân cho Hội Thánh, nhứt là Giáo nhi đã tuyên thệ thủ trinh hành đạo thì sẽ đặng thuyên bổ hành đạo trong các Thánh Thất bất cứ nơi nào. Hễ đủ 5 năm công nghiệp thì thăng Lễ Sanh, khỏi phải cầu phong lại nữa.
Hạng Lễ sĩ và Giáo nhi nầy trên quyền Chánh Trị Sự và dưới quyền Lễ Sanh, nhưng về mặt Lễ Nhạc, Quan Hôn Tang Tế mà thôi, chớ không đặng dự vào Chánh trị đạo hay luật pháp Tòa Đạo.
*  Thứ nhì là hạng Lễ sĩ và Giáo nhi ở lại gia đình, nhứt là Giáo nhi có chồng con theo thế thì không đặng vào nơi Thánh Thất nào mà hành đạo hết, duy hành đạo nơi xóm làng của mình mà thôi, lại buộc mỗi năm phải dạy ít nữa là trên 36 đứa Đồng nhi; Lễ sĩ thì dạy Nam, Giáo nhi thì dạy Nữ, chớ không đặng dạy lộn xộn Nam Nữ chung nhau. Cấm nhặt Lễ sĩ không đặng dạy Đồng nhi Nữ.
Nếu mỗi năm có một phái Chức sắc, Chức Việc sở
tại nói rằng dạy thiếu và không đi hành đạo thì bị ngưng chức liền. Hội Thánh không cần minh tra lại nữa.
Hạng nầy tùng quyền Chánh Trị Sự và ngang quyền Phó Trị Sự, Thông Sự nhưng về mặt Lễ Nhạc, Quan Hôn Tang Tế mà thôi, chớ không đặng dự vào Chánh trị đạo hay luật pháp Tòa Đạo.  Đủ 8 năm công nghiệp đổ lên mới đặng cầu phong Lễ Sanh, nhưng do nơi tờ yêu cầu của Chức sắc và Chức Việc sở tại mới đặng.
* Lễ sĩ mặc như Lễ Sanh Nam phái, nhưng trên mão ngay trán có Tam Sắc Đạo và Cổ pháp của Giáo Tông là Thư Hùng Kiếm, Long Tu Phiến và cây Phất Chủ thêu trên. (1)
* Giáo nhi mặc Đại phục như Lễ Sanh Nữ phái nhưng không đặng giắt bông sen trên đầu tóc, còn Tiểu phục cũng vậy nhưng trước ngực có choàng một tấm choàng đen.
Kiểu y phục nầy phải do nơi tiệm Linh Đức.
Kỳ dư mấy vị Lễ sĩ và Giáo nhi đương thời hành đạo trong Hội Thánh và có tờ của Hội Thánh công nhận chánh thể rồi; Hội Thánh nhứt định cấm nhặt không ai đặng xưng danh hiệu Lễ sĩ hay Giáo nhi mà không có khoa mục và cấp bằng của Hội Thánh  ban cho đủ lẽ.
Khai Pháp, Tiếp Thế, Tiếp Đạo HTĐ, Quyền Thái, Thượng, Ngọc Chánh Phối Sư, Nữ Chánh Phối Sư và Chủ Trưởng Hội Thánh Ngoại Giáo, mỗi vị tùy phận sự thi hành Sắc lịnh nầy. 

         Lập tại Tòa Thánh Tây Ninh, ngày mồng 9 tháng 11 Bính Tý.
         (22 Décembre 1936)

                          HỘ PHÁP

             Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
                        Hiệp Thiên và Cửu Trùng   (ấn ký)

TĐ ĐPHP : “ Giáo nhi từ trước cho lên Giáo Thiện (CQPT) là thể theo lòng từ bi bác ái của Đức Chí Tôn mà ân tứ. Nhưng kể từ nay, Giáo nhi có thể lên Lễ Sanh, chớ không được lên Giáo Thiện vì thiếu luật tạo nghiệp cho 12 gia đình.”
(1)  Đạo phục của Lễ sĩ ngày nay không có Tam sắc đạo và cổ pháp Giáo Tông, nay chỉ có một bông sen trên mão giữa trán.

            2. Về các phẩm Chức sắc Bộ Nhạc :

HỘ PHÁP ĐƯỜNG                  ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
     Văn phòng                                     (Nhị thập lục niên)
        Số : 25                                   Tòa Thánh Tây Ninh      

THÁNH LỊNH
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu  y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;
Chiếu  y Đạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (15-2-1938) giao quyền Thống Nhứt Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ  đến ngày có Đầu Sư  chánh vị;
Chiếu y Sắc Lịnh số 51 ngày mồng 9 tháng 11 Bính Tý (22-12-1936) định phần phong thưởng cho Lễ Sĩ và Giáo Nhi đầy đủ 5 năm công nghiệp;
Nghĩ vì Ban Lễ đã định phận thì Bộ Nhạc cũng được hưởng đặc ân của Hội Thánh đặng tiến bước lập vị.
THÁNH LỊNH :
Điều thứ 1 : Trong Bộ Nhạc của Tòa Thánh có 9 phẩm ân phong như sau nầy :
     1. Nhạc Sĩ   2. Bếp Nhạc         3. Cai Nhạc
          4. Đội Nhạc            5. Quản Nhạc     6. Lãnh Nhạc
          7. Đề Nhạc 8. Đốc Nhạc         9. Nhạc Sư.
Điều thứ 2 : Bộ Nhạc chuyên chú về tài năng nghệ thuật thì từ hạ phẩm đến thượng phẩm, mỗi cấp đều có khoa mục đặng tuyển chọn danh nhơn điều khiển nội ban.
Trong mỗi kỳ khoa mục, vị nào đủ tài ứng thí thì được phép xin thi và mỗi khi thi đậu là mỗi lần được thăng phẩm, nhưng không được xin ứng thí vượt bậc.
Điều thứ 3 : Nếu thi rớt vì không đủ tài thì ở lại phẩm cũ, chờ đủ 5 năm công nghiệp mới được cầu ân  phong.
Phẩm Nhạc Sư đủ 5 năm công nghiệp thì thăng lên Phối Sư hay là Tiếp Lễ Nhạc Quân nếu có khuyết.
Điều thứ 4 : Chín phẩm trong Bộ Nhạc đối với 9 phẩm của HTĐ hay các phẩm khác của CTĐ và Phước Thiện như sau nầy :

BỘ NHẠC
PH. CHÁNH
CỬU TRÙNG
P. THIỆN
Nhạc Sĩ
Luật Sự
Chánh Trị Sự
Hành Thiện
Bếp Nhạc
Cai Nhạc

Sĩ Tải

Lễ Sanh

Giáo Thiện
Đội Nhạc
Quản Nhạc
Lãnh Nhạc
Truyền Trạng

Thừa Sử

Giáo Hữu

Chí Thiện
Đề Nhạc
Đốc Nhạc
Nhạc Sư
Giám Đạo

Cải Trạng

Giáo Sư
Đạo Nhơn

Chơn Nhơn

Chưởng Ấn
Tiếp Dẫn Đ.N.
Phối Sư
Chánh Phối Sư
Hiền Nhơn
Thánh Nhơn

Thập nhị T.Q.
Đầu Sư
Tiên Tử
           
Điều thứ 5 : Chư vị : Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Đạo, Khai Pháp Chưởng quản Bộ Pháp Chánh, Quyền Ngọc Chánh Phối Sư, Thượng Thống Lại Viện, Đạo Nhơn Chưởng Quản Phước Thiện, Phụ Thống Lễ Viện Hành Chánh, Phụ Thống Lễ Viện PT, Nhạc Sư Bộ Nhạc, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.
               Tòa Thánh, ngày 29 tháng 3 năm Tân Mão (4-5-1951)
                                                      HỘ PHÁP (ấn ký)

Đạo phục của các Chức sắc Bộ Nhạc :
“ Ngày 22-8-Đinh Hợi (6-10-1947), quí ông Nhạc Sư Võ Văn Chở, Đốc Nhạc Đinh Văn Biện và Đề Nhạc Hồ Văn Sai có văn bản thỉnh giáo Đức Hộ Pháp về Đạo phục của Chức sắc Bộ Nhạc, được Đức Ngài bút phê, như sau :
“ Bần đạo đã dạy trước rằng, mặc sắc phục hồng (màu đỏ), áo đỏ, quần trắng, như các vị võ sĩ cựu, có viền kim tuyến bạc nơi cổ nơi tay, ngay ngực có mang ba màu đạo, chính giữa thêu hình cây đờn tỳ bà. Dưới cây đờn thì để chức tước của vị Chức sắc ấy, áo cụt khỏi trôn mà thôi. Từ Nhạc Sĩ trở lên tới Lãnh Nhạc viền kim tuyến bạc, từ Đề Nhạc đổ lên viền kim tuyến vàng.”
Như vậy, Chức sắc Bộ Nhạc đều mặc đại phục y như nhau theo lời dạy trên, chỉ phân biệt tước phẩm ghi ở phía dưới cây đờn tỳ bà trên tam sắc đạo thêu nơi ngực và màu kim tuyến viền nơi cổ và nơi tay áo.
Đức Hộ Pháp không có dạy về mão và tiểu phục của Chức sắc Bộ Nhạc, nhưng trên thực tế thì Chức sắc Bộ Nhạc đội mão và mặc tiểu phục như sau :
a) Mão đại phục : Gọi là Hỗn Nguơn mạo có hình dáng như mão Ngưỡng Thiên của Giáo Hữu phái Ngọc nhưng thấp hơn một chút (cao khoảng 12 cm), giữa mão, ngay trước trán có Tam sắc đạo, gác xéo một  cây  đờn  tỳ bà.

.
b) Tiểu phục : Từ Nhạc Sư đổ xuống Nhạc Sĩ đều mặc áo tràng trắng, có thắt ngang lưng một sợi dây nịt trắng như tiểu phục của Chức sắc HTĐ từ phẩm Cải Trạng đổ xuống Luật Sự. Đầu đội Bán Nguyệt mạo như cái ca-lô trắng (giống mão của Đầu Phòng văn), ngay giữa trán có huy hiệu hình chữ nhựt bằng kim khí, trên có Tam sắc đạo và cây đờn tỳ bà gác xéo.”
*
Năm 1952, Đức Phạm Hộ Pháp ra Thánh Lịnh mở khóa thi tuyển Nhạc Sĩ và Bếp Nhạc đặng bổ khuyết cho đủ số ứng dụng trong Đạo.
Nguyên văn Thánh Lịnh ấy chép ra dưới đây :

HỘ PHÁP ĐƯỜNG                 ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
        Văn phòng                                         (Nhị thập thất niên)
        Số : 13                                       Tòa Thánh Tây Ninh

THÁNH LỊNH
HỘ PHÁP
Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài
Hiệp Thiên và Cửu Trùng

Chiếu  y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;
Chiếu  y Đạo Luật ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Dần (15-2-1938) giao quyền Thống Nhứt Chánh Trị Đạo cho Hộ Pháp nắm giữ đến ngày có Đầu Sư chánh vị;
Nghĩ vì cần mở Khoa thi Nhạc Sĩ và Bếp Nhạc đặng bổ khuyết cho đủ số ứng dụng trong cửa Đạo.
Do theo lời phê của Hộ Pháp ngày 6 tháng 10 Tân Mão phân định thể thức khoa mục Nhạc Sĩ và các cấp trong  Bộ Nhạc.

THÁNH  LỊNH
            Điều thứ 1 : Khoa thi Nhạc Sĩ và Bếp Nhạc sẽ mở tại Tòa Thánh ngày rằm tháng chạp Tân Mão tại Báo Ân Từ đúng 3 giờ chiều. Những đơn xin thi phải đệ lên Văn phòng HTĐ ngày 14 tháng chạp Tân Mão là ngày chót.
Điều thứ 2 : Thể thức thi Nhạc Sĩ là : Biết cầm một cây đờn và trọn hiểu nhạc khi có Tiểu đàn và Đại đàn, nhạc trống tiếp giá.
Thể thức thi Bếp Nhạc là : Biết trọn nghi lễ và nhạc nghệ về tài tử.
Điều thứ 3 : Ban Giám khảo trong cuộc thi nầy là :
Bảo Thế Tổng Thơ Ký Chánh Trị Đạo . . Chủ tọa.
Nhạc Sư Võ Văn Chở . . . . . . . . . . . .   Giám khảo.
Giáo Hữu Thái Huỡn Thanh . . . . . . . . Giám khảo.
Chí Thiện Lê Văn Phuông . . . . . . . . . .Giám khảo.
Điều thứ 4 : Vị Bảo Thế  Tổng Thơ Ký Chánh Trị Đạo  và Chức sắc có danh sách trong Ban Giám khảo, các tư kỳ phận, lãnh thi hành Thánh Lịnh nầy.

              Lập tại Tòa Thánh, ngày 9 tháng 12 Tân Mão (5-1-1952)

                HỘ PHÁP (ấn ký)

PHÁP CHÁNH





Khi Đức Chí Tôn lập pháp Hiệp Thiên Đài, Đức Chí Tôn giao cho HTĐ hai nhiệm vụ :
Nhiệm vụ thiêng liêng : phò cơ cho Đức Giáo Tông thông công với các Đấng Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng.
Nhiệm vụ phàm trần : cầm quyền luật lệ của Đạo.
Lúc đó, HTĐ chỉ có 15 vị : Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, và 12 Thời Quân.
Sau đó, ngày 16-2-Ất Hợi (dl 20-3-1935) Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn vâng lịnh Đức Chí Tôn, giáng cơ lập 7 phẩm Chức sắc dưới Thập nhị Thời Quân, kể ra :
- Tiếp Dẫn Đạo Nhơn (Instructeur)
- Chưởng Ấn (Chancelier)
- Cải Trạng  (Avocat)
- Giám Đạo  (Inspecteur)
- Thừa Sử    (Commissaire de justice)
- Truyền Trạng (Greffier)
- Sĩ Tãi       (Secretaire Archviste)
Đức Hộ Pháp lập thêm một phẩm Luật Sự (Agent judiciaire) theo Sắc lịnh số 34 ngày 23-5-Bính Tý (dl 11-7-1936), và muốn vào phẩm nầy phải thi tuyển.
Chúng ta nhận thấy tên của các phẩm Chức sắc nầy đều có ý nghĩa về luật pháp.
Nhờ số Chức sắc dưới Thập nhị Thời Quân, Hội Thánh HTĐ thành lập Tòa Đạo để cầm quyền Tư Pháp của Đạo vào năm Mậu Dần (1938), lập ra các Tòa Đạo để xử trị các Chức sắc và Đạo hữu vi phạm luật pháp của Đạo.
(Tư pháp có nghĩa là quản lý luật pháp, lập ra các Tòa án để xét xử những người vi phạm luật pháp)
            Ngày 15-10-Đinh Hợi (dl 27-11-1947), Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa đang đảm nhận nhiệm vụ Chưởng Quản Tòa Đạo, lập ra cách Tổ Chức và Nội Luật của Bộ Pháp Chánh, thì danh từ Bộ Pháp Chánh mới được sử dụng, và ngày 15-10-Đinh Hợi được xem là ngày thành lập Bộ Pháp Chánh, thay thế Tòa Đạo.
Bộ Pháp Chánh là cơ quan Trung ương tại Tòa Thánh coi về Tư Pháp của Đạo, dưới quyền Chưởng quản của một vị Thời Quân chi Pháp HTĐ. (Nếu không có  Thời Quân chi Pháp thì Thời Quân chi Đạo hay chi Thế đều có thể nắm quyền chưởng quản Bộ Pháp Chánh)
Top of Page



Bộ Pháp Chánh là cơ quan để bảo thủ luật pháp chơn truyền, dìu dẫn và lập vị cho nhơn sanh trong khuôn viên đạo pháp, gìn giữ cân công bình thể Thiên hành hóa, không ai qua luật mà Hiệp Thiên Đài không biết.
Bộ Pháp Chánh lập ra các Tòa đạo cốt yếu là để binh vực những người bị uất ức, trừng phạt những người phạm luật pháp, gìn giữ quyền hành phân minh, đẳng cấp trật tự cho nền Hành Chánh Đạo.
Lập Tòa đạo là để răn trị kẻ phạm pháp luật, hầu tránh khỏi Thiên điều trừng trị, nếu bị thế trị thì mới mong giảm tội thiêng liêng, bằng không bị thế trị thì bị Thiên điều, có mong chi cứu rỗi.
Vậy, Pháp Chánh rất cần thiết để gìn giữ phẩm trật, địa vị của mỗi con cái Đức Chí Tôn và quyền hành phân minh trong các cơ quan của nền Đại Đạo.
Trách nhiệm trọng hệ hơn hết của Bộ Pháp Chánh là công bình, vô tư, vô vị.
Ngoài phận sự bảo vệ luật pháp chơn truyền giống như chư vị Thời Quân HTĐ, chư vị cầm quyền Pháp Chánh còn có phận sự chăm nom cả hành vi của toàn thể Chức sắc và Đạo hữu trong các cơ quan Hành Chánh Đạo và Phước Thiện trong phạm vi hành sự của mình, thị chứng các cuộc nhóm họp để giữ cho được hợp pháp.
Ngoài ra, Bộ Pháp Chánh còn được giao nhiệm vụ : Minh tra công nghiệp cầu phong và cầu thăng của tất cả Chức sắc Cửu Trùng Đài hay Phước Thiện nam nữ.
Nếu Bộ Pháp Chánh chứng nhận Chức sắc CTĐ hay PT có đầy đủ công nghiệp thì mới được đem tên vào sổ cầu phong hay cầu thăng phẩm cấp.
“ Trong trường hợp điều tra, khi một Chức sắc phạm tội, Bộ Pháp Chánh có quyền tạm bãi miễn, tức là tạm thâu quyền và chức của vị ấy, để đưa bị cáo nhân ra Tòa Pháp Chánh điều tra hay thẩm phán, sau khi ấy, nếu trắng án, vô tội sẽ được phục quyền chức như cũ.”
       (Trích trong quyển Chánh Trị Đạo của Ngài Trần Khai Pháp)

Do đó, Bộ Pháp Chánh có quyền hành rất rộng lớn, chi phối tất cả các Chức sắc CTĐ và CQPT.
Tóm tắt quyền hành rộng lớn của Bộ Pháp Chánh :
1. Bảo thủ Luật pháp Chơn truyền của Đạo :
   - Luật thì có Tân Luật, Đạo luật, Luật Hội Thánh.
   - Pháp thì có PCT và Đạo Nghị Định.
2. Lập các Tòa Đạo để xử trị những người vi phạm Luật pháp Đạo, từ hàng Đạo hữu đến các Chức sắc của CTĐ và Phước Thiện. (Riêng Chức sắc HTĐ vi phạm Luật Pháp thì có Ban Kỷ Luật HTĐ sửa trị).
3. Minh tra công nghiệp của Chức sắc CTĐ và Phước Thiện. Việc thăng phẩm Chức sắc hoàn toàn tùy thuộc vào sự minh tra nầy.
Top of Page



Bộ Pháp Chánh tổ chức các Tòa Đạo từ Trung ương đến địa phương.
Bộ Pháp Chánh bổ nhiệm các Chức sắc HTĐ (dưới Thập nhị Thời Quân) đi hành đạo về Pháp Chánh nơi các địa phương, từ  Tộc Đạo đến Châu Đạo và Trấn Đạo.
            * Pháp Chánh tại Tộc Đạo là một vị Luật Sự (đối phẩm Chánh Trị Sự).
(Theo Hiến pháp của Chức sắc HTĐ thì phẩm Luật Sự chưa được bổ nhiệm làm Pháp Chánh Tộc Đạo, nhưng vì  số lượng Chức sắc Pháp Chánh quá thiếu nên phải bổ nhiệm Luật Sự làm Pháp Chánh Tộc Đạo).
            * Pháp Chánh tại Châu Đạo là một vị Sĩ Tải (đối phẩm Lễ Sanh).
            * Pháp Chánh tại Trấn Đạo là một vị Truyền Trạng (đối phẩm Giáo Hữu).


Đạo Lịnh số 16 ngày 13-giêng-Kỷ Hợi (dl 20-2-1959) qui định Bộ Pháp Chánh có 3 Văn phòng như sau :
1.  Phòng Luận Án :
Vả lại phận sự xử đoán người phạm luật Đạo vốn do Hội Thánh CTĐ đảm nhận, nhưng trước khi xử đoán, hồ sơ phải gởi đến Bộ Pháp Chánh để Bộ nầy định phải giao nội vụ đến : Hội Công Đồng, hoặc Ban Kỷ Luật phân xử.
Và sau khi phân xử rồi, Hội Công Đồng hay Ban Kỷ Luật cũng phải gởi hồ sơ đến Bộ Pháp Chánh xem lại coi có đúng theo tinh thần luật pháp chăng.
Ấy là Pháp Chánh HTĐ giúp cho Hội Thánh CTĐ áp dụng luật pháp để giữ trật tự của Hội Thánh.
2. Phòng Kiểm soát công quả  hay
   Minh Tra Công nghiệp (MTCN) hành đạo :
Mỗi năm có một lần phong thưởng những vị dày công phụng sự chúng sanh mà chẳng vi phạm pháp luật của Đạo và quốc pháp của Đời. Pháp Chánh HTĐ có phận sự kiểm soát hồ sơ công quả của Chức sắc, Chức việc hầu làm cho sự phong thưởng được công minh.
Hai phận sự giúp cho CTĐ thưởng người có công và răn kẻ có tội đã kể ở trên, đại ý là khuyến khích người đạo đức mau thành công trên đường Đạo và cảnh tỉnh kẻ sai lầm sớm giác ngộ ăn năn.
3. Phòng Kiểm duyệt Kinh Luật (KDKL) :
Ngoài PCT và Tân Luật, Hội Thánh cũng tùy trình độ tấn hóa của nhơn sanh mà ban hành những thể lệ bổ túc, hầu nâng đỡ tinh thần đạo đức của bổn đạo. Dĩ nhiên, những thể lệ ấy tạm hữu dụng trong một thời hạn, rồi có ngày nó sẽ trở nên lỗi thời.
Pháp Chánh HTĐ có phận sự kiểm duyệt thể lệ ấy và đề nghị với Hội Thánh lập thể lệ khác thích ứng hơn.
Còn những kinh sách nào có tính cách tổn thương tinh thần đạo đức, Pháp Chánh HTĐ cũng được phép đề nghị hủy bỏ.
Ngoài các Phòng kể trên, Bộ Pháp Chánh còn tổ chức thêm 2 Phòng khác nữa là :
- Phòng Thẩm vấn.
- Phòng Nhân viên.


Trong Bộ Pháp Chánh, không có phân ra hai tổ chức : nam phái và nữ phái, như trong các cơ quan khác của Đạo. Chức sắc nam nữ của Bộ Pháp Chánh đều mặc đạo phục với áo mão đều giống hệt nhau, nhưng số lượng Chức sắc nữ phái rất ít so với nam phái.
Khi Bộ Pháp Chánh có nhu cầu tuyển dụng phẩm Luật Sự, Bộ Pháp Chánh dâng tờ lên Đức Hộ Pháp chưởng quản HTĐ để Đức Ngài ra Thánh lịnh mở khóa thi tuyển Luật Sự, ấn định thời gian, các môn thi, ban Giám khảo.
Hồ sơ dự thi nạp tại Bộ Pháp Chánh. 
Những người thi đậu kỳ thi tuyển nầy được gọi là Luật Sự tập sự. Sau thời gian 1 năm huấn luyện và làm việc, các vị nầy mới được công nhận là Luật Sự chánh vị.
Top of Page



Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ dạy Pháp Chánh :
“ Pháp luật vốn vô tư, đứng trong chánh giới chơn truyền, nó là Bác ái, Công bình. Thi hành luật pháp đại khái là làm cho cả chúng sanh biết tương thân tương ái trên đường  sanh sống và tấn hóa.
Vậy phận sự của Pháp Chánh HTĐ là gieo rắc sự thương yêu trong toàn sanh chúng : không tư chẳng vị và giúp chúng sanh một cách cận kề, kẻ hung người bạo, kẻ tham người tà, rồi tìm phương nâng đỡ tinh thần họ trở về với chơn lý. Đó là áp dụng Luật Bác ái.
Còn như kẻ dữ nào còn muốn giở lối  tà  mị,  không  thể sửa cải được, chừng ấy mới đem pháp luật thi hành một cách công minh, chẳng vì thương mà trọng, không vì ghét mà khinh, chẳng vì trung trực mà binh, không vì tà vạy mà bỏ. Như thế thì cân tội phước mới chói rạng.
Ấy là phương bảo tồn trật tự trước Luật Công bình.
Vậy, thực hành cái thuyết Bác ái - Công bình là phận sự của Pháp Chánh HTĐ. Thành thử có khi dùng đức để cảm hóa, có khi dùng pháp luật để khuyên răn, cầu cho kẻ sai lầm giác ngộ chơn lý.
Nhưng chúng ta cũng chẳng khá quên rằng, ngoài pháp luật của Đạo, kẻ tu hành còn phải chịu dưới hệ  thống  thưởng  phạt  của Luật Nhơn Quả : Lành thì thăng, dữ thì đọa. Sự báo ứng chẳng hề sai chạy mảy may. Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu. Đó là một điều mà người hành đạo nên lưu tâm cho lắm.” (Hạnh Đường 1973)

Đức Cao Thượng Phẩm dạy Chức sắc CTĐ về Pháp Chánh :
“ Cũng vì lẽ ấy mà nay Đức Chí Tôn giáng trần lập Đạo, lại chia hình thể của Ngài ra hai phần để có phương kềm thúc nhau trên bước đường lập vị.
Phần CTĐ chuyên về mặt giáo hóa nhơn sanh, còn phần của HTĐ thì lo về mặt luật pháp để bảo thủ chơn truyền của Đạo. Nhờ đó nền Thánh giáo của Đức Chí Tôn khỏi phải qui thành phàm giáo.
Cũng vì lẽ quyền hành riêng biệt ấy mà khiến cho hai bên thường có phản khắc đạo quyền, bởi tánh phàm thường hay có phạm những lỗi lầm mà chẳng chịu phục thiện, đặng cải sửa cho trở nên tận thiện.
Các em đâu hiểu rằng, Chí Tôn giao quyền sửa trị Chức sắc, Chức việc và toàn đạo nam nữ cho bên HTĐ là Thánh ý của Đức Chí Tôn muốn dùng hình phàm đặng  làm cho giảm bớt tội vô hình.
Nếu ai chẳng thận trọng để cho phạm vào luật pháp mà chẳng chịu pháp sửa trị của HTĐ thì rất uổng cho một kiếp tu mà không trọn phận, và đến khi rời bỏ xác phàm rồi, làm sao có cơ hội lập công nữa !  Mà một khi không lập công quả được nữa thì tội án đã phạm làm sao chuộc được, rồi mãi bị trầm luân khổ hải đời đời kiếp kiếp.
Vậy các em khá nhớ lời Bần đạo dặn mà giữ mình cho trọn phận trong lúc Tam Kỳ Phổ Độ nầy.
Thêm nữa, các em nên nhớ : Hễ khi các em đã vô tình hay cố ý mà phạm vào luật pháp thì hãy vui vẻ để cho luật pháp sửa trị đặng khỏi vướng tội vô hình.
Còn những người được lịnh HTĐ để sửa trị các em là những người ơn của các em, chớ không phải người thù theo tánh phàm của nhơn sanh đã tưởng.” (TNST-Q2-B 50)

“ Chơn truyền là gốc, luật pháp là chuẩn thằng, từ bi bác ái là đạo pháp.
Mỗi việc các em phải khá suy nghiệm cho kỹ lưỡng, phải luôn luôn nhớ rằng : Mình là người của chúng sanh, chớ chẳng phải chúng sanh là người của mình.
Mảnh thân phàm đã làm con vật hy sinh đặng Đức Chí Tôn dùng để sửa đời lầm lạc ra thuần phong mỹ tục, thì phải biết nó ra thế nào rồi, giá trị hay chăng là được trọn cùng không đó. Lại nữa, khi đã làm con vật hy sinh thì con vật ấy phải tùng theo sự điều khiển của chủ nó, nếu chẳng tuân thì sự hình phạt không tránh khỏi.

Các em có biết hữu hình là sao ? vô hình là sao ?  Hai đàng chỉ khác nhau như hình với bóng, hình thế nào thì bóng cũng thế ấy. “ (TNST-Q2- B 64)

PHƯỚC THIỆN





Khởi đầu là Minh Thiện Đàn do Đức Lý Giáo Tông lập ra tại làng Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho vào năm 1927 để Đức Lý thu nhận các tín đồ tu chơn.
Năm 1929, Đức Lý Giáo Tông giao Minh Thiện Đàn cho Đức Hộ Pháp cai quản. Đức Hộ Pháp đến Phú Mỹ hai lần để cân thần, lựa chọn được tất cả 72 vị công quả.
Năm 1930, Đức Phạm Hộ Pháp mua một sở đất tại xã Trường Hòa, lập ra Phạm Nghiệp là cơ sở đầu tiên của Phạm Môn tại Tây Ninh. Tất cả 72 vị công quả nơi Minh Thiện Đàn được nhập về Phạm Môn.
Các tu sĩ trong Phạm Môn gọi Đức Hộ Pháp là Sư phụ và xưng mình là đệ tử. Tại Trường Hòa, Đức Hộ Pháp cân thần chọn được 72 vị công quả Phạm môn.
Năm Quí Dậu (1933), một số người ganh ghét, vu cáo Phạm Môn chống đối nhà cầm quyền Pháp, nên Pháp ra lịnh đóng cửa các cơ sở lương điền, công nghệ của Phạm Môn. Đức Hộ Pháp phải cho phân tán các vị nầy đi xuống các tỉnh Nam Kỳ khai mở các cơ sở lương điền, công nghệ và thương mãi.
Đến năm Ất Hợi (1935), Đức Hộ Pháp biến Phạm Môn thành Cơ Quan Phước Thiện với đầy đủ cơ sở lương điền công nghệ và thương mãi ở khắp các tỉnh Nam Kỳ.
Năm Mậu Dần (1938), Cơ Quan Phước Thiện (CQPT) được hợp thức hóa bằng Đạo Luật Mậu Dần, chánh thức là một cơ quan của Đạo Cao Đài.
Cũng trong năm nầy, Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp đồng ký tên lập Đạo Nghị Định số 48/PT ngày 19-10-Mậu Dần (dl 10-12-1938) xác nhận sự thành lập CQPT và Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của CQPT.
Nền Đại Đạo đang phát triển thì tình hình chánh trị của Việt Nam và thế giới biến chuyển, chánh quyền Pháp cấm đạo, đóng cửa Tòa Thánh, bắt Đức Hộ Pháp và một số Chức sắc cao cấp đày đi Madagascar vào giữa năm 1941. Sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, Nhựt Bổn đầu hàng, Pháp trở lại Việt Nam, chánh quyền Pháp trả tự do cho Đức Hộ Pháp, và đưa Đức Ngài trở về Tòa Thánh, vào ngày 4-8-Bính Tuất (dl 30-8-1946).
Đức Hộ Pháp tái thủ phận sự, củng cố trở lại nền Đạo sau nhiều năm bị đàn áp điêu tàn.
Cuối năm Bính Tuất (1946), Đức Hộ Pháp triệu tập Đại Hội Phước Thiện, thăng thưởng nhiều Chức sắc PT, rồi Đức Hộ Pháp thành lập Hội Thánh Phước Thiện có Cửu Viện giống như bên Hội Thánh Cửu Trùng Đài.
Top of Page



Đạo Nghị Định 48 của Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp thành lập Cơ Quan Phước Thiện, qui định 12 phẩm cấp Chức sắc Phước Thiện gọi là Thập nhị đẳng cấp thiêng liêng của CQPT, với Đạo phục và dây sắc lịnh, kể ra như sau đây :
.
      1. Phật Tử,        (Đạo phục do Đức Chí Tôn định sau)
      2. Tiên Tử,     áo tràng trắng, khăn đóng vàng 9 lớp chữ nhứt,
                                DSL vàng có gắn lịnh bài, chân mang giày trắng.
      3. Thánh Nhơn,                - như trên-
      4. Hiền Nhơn,                  - như trên-
      
      5. Chơn Nhơn, áo tràng trắng, khăn đóng trắng 7 lớp chữ nhơn,
                                      DSL xanh có gắn lịnh bài, không mang giày.
      6. Đạo Nhơn,                     - như trên-
      7. Chí Thiện,      như trên nhưng đội khăn đen 7 lớp chữ nhơn.

      8. Giáo Thiện,   áo tràng trắng, khăn đen, DSL đỏ có lịnh bài.
      9. Hành Thiện,                   - như trên-
      10. Thính Thiện,                - như trên-
      11. Tân Dân,       áo dài trắng, quần trắng, khăn đen.
      12. Minh Đức,                    - như trên-
                                        (Viết tắt : DSL : dây sắc lịnh).
Phẩm Hiền Nhơn trở lên không còn phận sự trong CQPT, mà qua HTĐ giúp Hội Thánh HTĐ giữ  gìn chơn pháp.
Dây sắc lịnh trong bộ Đạo phục của Chức sắc Phước Thiện luôn luôn choàng từ vai trái xuống hông mặt, ý nghĩa là thuộc về Chi Đạo của HTĐ.
Chức sắc CQPT chỉ có một bộ Đạo phục, không có đại phục và tiểu phục như Chức sắc CTĐ hay HTĐ.
Chức sắc nữ phái Phước Thiện có Đạo phục giống y như Chức sắc nam phái PT, nhưng đầu để trần, không đội khăn, phẩm nào cũng vậy.
Người muốn gia nhập vào CQPT thì trước hết phải là một Đạo hữu của Đạo Cao Đài, sau đó đến Đầu Tộc Đạo xin giấy chứng hạnh kiểm và làm giấy hiến thân trọn đời cho CQPT. Khi có đủ hồ sơ rồi thì đem nạp vào cơ sở PT mà mình muốn làm công quả tại đó, vị Chủ sở sẽ chấp hồ sơ ấy gởi lên Bàn Cai Quản và vị Quản Tộc Đạo PT.
Đạo hữu khởi đầu làm công quả nơi cơ sở PT, chưa chánh thức là người của CQPT, nên được gọi là Đạo sở. Sau thời gian 6 tháng công quả, vị Đạo sở mới được chánh thức nhập vào CQPT với phẩm khởi đầu làMinh Đức.
Top of Page



Tổ chức của CQPT có những nét giống như Hành Chánh Đạo của Cửu Trùng Đài, nghĩa là cũng phân làm 2 phái : nam phái và nữ phái. Hai phái nầy có quyền hành riêng biệt và chỉ điều hành bên phái mình mà thôi.
Đứng đầu CQPT bao gồm cảø 2 phái nam và nữ là một vị Thời Quân chi Đạo của Hiệp Thiên Đài, gọi là Thống Quản CQPT.
Dưới Thống Quản CQPT là 2 vị Chưởng Quản nam phái và nữ phái PT, phẩm Chơn Nhơn.
(Xem Sơ đồ tổ chức của CQPT)
Dưới mỗi vị Chưởng Quản là 2 vị Phó Chưởng Quản : Đệ I và Đệ II.
Dưới Phó Chưởng Quản là Cửu Viện PT : Cửu Viện PT nam phái giống y như Cửu Viện PT nữ phái, gồm 9 Viện, có tên và nhiệm vụ giống y như bên Cửu Trùng Đài : Hòa Viện, Lại Viện, Lễ Viện, Học Viện, Y Viện, Nông Viện, Hộ Viện, Lương Viện, Công Viện.
CQPT thì lo tạo tác Điện Thờ Phật Mẫu để thờ phượng Đức Phật Mẫu, còn bên Hành Chánh Đạo CTĐ thì lo xây dựng các Thánh Thất để thờ Đức Chí Tôn.
Hai tổ chức Hành Chánh và Phước Thiện song hành nhau, các chức vụ tương ứng nhau, phận sự thờ phượng tương đương nhau, do đó mà các Chức sắc CQPT đôi khi xem nhẹ mục tiêu chánh yếu của Phước Thiện là cơ quan bảo tồn, cứu khổ ban vui cho chúng sanh, làm ra thật nhiều của cải vật chất để thực hiện mục tiêu nầy.

So sánh tổ chức CQPT ở địa phương với tổ chức Hành Chánh Đạo CTĐ ở địa phương :

CQPT địa phương
Hành Chánh Đạo địa phg



TRẤN ĐẠO PT
Quản Trấn Đạo PT
(Đạo Nhơn)

TRẤN ĐẠO
Khâm Trấn Đạo
(Giáo Sư)


CHÂU ĐẠO PT
Quản Châu Đạo PT
(Chí Thiện)
CHÂU ĐẠO
Khâm Châu Đạo
(Giáo Hữu)


TỘC ĐẠO PT
Quản Tộc Đạo PT
(Giáo Thiện)
Cai quản Điện Thờ PM
TỘC ĐẠO
Đầu Tộc Đạo
(Lễ Sanh)
Cai quản Thánh Thất


Sở Lg điền Công nghệ
Chủ Sở
(Hành Thiện)
Hương Đạo
Đầu Hương Đạo
(Chánh Trị Sự)




Sơ đồ tổ chức CQPT :

















THỜI QUÂN chi ÐẠO HTÐ
Thống Quản CQPT























CHƠN NHƠN Chưởng quản NỮ PHÁI PT



CHƠN NHƠN Chưởng quản NAM PHÁI PT
























ÐỆ NHỨT
Phó Ch.quản


ÐỆ NHỊ
Phó Ch.quản

ÐỆ NHỨT
Phó Ch.quản


ÐỆ NHỊ
Phó Ch.quản
























Cửu Viện PT Nam phái



Cửu Viện PT Nam phái



Hòa | Lại | Lễ | Học | Y  | Nông | Hộ | Lương | Công



Hòa | Lại | Lễ | Học | Y  | Nông | Hộ | Lương | Công


























TRẤN ÐẠO PT
ÐẠO NHƠN
Nữ Quản Trấn





TRẤN ÐẠO PT
ÐẠO NHƠN
Quản Trấn



























CHÂU ÐẠO PT
CHÍ THIỆN
Nữ Quản Châu





CHÂU ÐẠO PT
CHÍ THIỆN
Quản Châu



























TỘC ÐẠO PT
GIÁO THIỆN
Nữ Quản Tộc





TỘC ÐẠO PT
GIÁO THIỆN
Quản Tộc



























BÀN CAI QUẢN
HÀNH THIỆN
Nữ Chủ Trưởng





BÀN CAI QUẢN
HÀNH THIỆN
Chủ Trưởng


























CHỦ SỞ và ÐẠO SỞ
HÀNH THIỆN, THÍNH THIỆN
TÂN DÂN, MINH ÐỨC



CHỦ SỞ và ÐẠO SỞ
HÀNH THIỆN, THÍNH THIỆN
TÂN DÂN, MINH ÐỨC


Top of Page



Đại Hội PT là một hội nghị mà các hội viên gồm đủ đại diện của các thành phần Chức sắc trong CQPT, kể ra :
- Các Phái viên : đại diện cho các vị trong 3 phẩm : Minh Đức, Tân Dân, Thính Thiện.
- Các Nghị Viên : đại diện cho các vị Hành Thiện.
            - Các Chức sắc PT từ Giáo Thiện đến Chơn Nhơn.
(Xem chi tiết trong Đạo Luật Mậu Dần, phần Phước Thiện)
Phận sự của Đại Hội Phước Thiện là :
1. Kiểm soát công việc hành đạo trong năm vừa qua, nhận định các ưu khuyết điểm.
2. Chương trình hành đạo trong năm tới, dự kiến mở rộng các cơ sở Phước Thiện.
3. Kiểm soát tài chánh và phỏng định số thâu xuất.
4. Ý kiến về cầu phong cầu thăng của Chức sắc PT.
Đại hội Phước Thiện mỗi năm họp một lần ngay sau ngày Ba Hội lập Quyền Vạn linh họp xong
Top of Page



“ Phước Thiện là cơ quan bảo tồn sanh chúng trên đường sanh hoạt nuôi sống thi hài, tức là cơ quan giải khổ cho chúng sanh, tầm phương bảo bọc những kẻ tật nguyền, cô độc, dốt nát ít oi, hoặc giúp tay cho bên Hành Chánh thi hành luật pháp cho đặng dễ dàng trọn vẹn.” (ĐLMD)
“ Phước Thiện là cơ quan tận độ, cốt để mở đường Thánh đức cho toàn sanh chúng có đủ phương thế nhập vào Thánh thể, người ngoại giáo có thể nhờ nơi cửa Phước Thiện mà hiệp cùng Hội Thánh.
Phước Thiện là phương bảo tồn sanh chúng, tế khổn phò nguy, vì trong đời người không có sự khổ nào bằng sanh, lão, bệnh, tử. Muốn thi hành cơ tận độ, những con cái của Đức Chí Tôn sẵn có tài tình học thức, đã đượclập công nơi cơ quan khác, còn sót lại những kẻ dốt, kém, thật thà thì do nơi đâu mà lập công đoạt vị ? Chỉ có CQPT mới có đủ phương thâu nhập toàn thể con cái Chí Tôn qui về cửa Đạo, nên gọi là cơ Bảo tồn.
Muốn thật hành chánh nghĩa Phước Thiện, con cái Chí Tôn đói phải nuôi, rách cho mặc, tật nguyền phải bảo dưỡng, cô thế phải chở che, châu cấp người già cả, săn sóc kẻ bịnh hoạn, vv. . . . nói tóm lại là phải gánh mọi sự khổ trên đời nầy.
Vả lại, đời là một trường tranh đấu vì miếng ăn chỗ ở. Muốn sống phải no, ấm, mạnh.
Phước Thiện cứu kẻ khổ, giúp kẻ nguy, dìu dắt cho có phương sanh sống, tuy không giàu mà tự toại, không sang mà thung dung, mới có thể tránh được sự tranh đấu vì lẽ sống, tức là nâng đỡ, bảo sanh cho hạng Tam dân (nông, công, thương) hưởng đủ quyền lợi mà mỗi người được quyền sống hưởng theo luật tự nhiên của Tạo hóa.
Phước Thiện là phương pháp làm cho bình đẳng giữa hai hạng người : vô sản và tư sản, hay nói cho đúng là dung hòa quyền lợi chung hưởng chánh đáng, bất phân giai cấp sang hèn, tức là huờn thuốc tự do bình đẳng bác ái.
Chơn truyền của Phước Thiện lại còn phải thay thế cho Chí Tôn và Phật Mẫu thật hành cơ cứu khổ bằng phương pháp là : làm cha những kẻ không cha, làm mẹ những kẻ không mẹ, làm anh những kẻ không anh, làm bạn những kẻ thiếu bạn, làm chồng làm vợ những kẻ không chồng không vợ, trong sự thương yêu cao quí và trong sự giúp đỡ chơn thành. Như thế mới có thể thực hành cơ quan cứu khổ để nơi mặt thế.
Nếu CQPT bảo đảm được con cái Chí Tôn dường ấy thì ân đức của Đại Đạo có thể sánh cùng Trời Đất, làm cho đời khổ trở nên đời hạnh phúc, đời loạn trở nên đời an cư lạc nghiệp thì sự hòa bình của đại đồng thế giới mới mong thành tựu đặng. “ (Trích Chánh Trị Đạo của Trần Khai Pháp)
“ Phải cho cơm những kẻ thiếu cơm, cho thuốc những kẻ thiếu thuốc, cho hàn những kẻ không hàn chôn, chở che những kẻ bị đàn áp bất công, binh vực những kẻ bị chúng hiếp, an ủi những kẻ buồn rầu, khuyến khích những kẻ toan thối bước, độ những kẻ khổ tâm, lau chùi nước mắt những kẻ cô độc đang khóc trước mặt mình.
“ Tóm lại, là phải tự hiến mảnh thân làm tế vật cho Đức Chí Tôn để làm tôi đòi cho con cái của Người sử dụng trong công việc đem hạnh phúc đến cho họ, để thực hành trọn vẹn cơ quan giải khổ của Đại Từ Phụ.”(TNST-Q2-B 67)
Top of Page





BÁT QUÁI ÐÀI
CỬU TRÙNGÐÀI
HIỆP THIÊNÐÀI
CƠ QUAN PT
BỘ NHẠC
BAN THẾ ÐẠO
CƠ QUAN KHÁC
Thiên Tiên

Giáo Tông
Hộ Pháp

Phật Tử



Nhơn Tiên
Chưởng Pháp
ThượngPhẩm
ThượngSanh




Ðịa Tiên
Ðầu Sư
Thập nhị TQ
Tiên Tử



Thiên Thánh
ChánhPhốiSư
Phối Sư
Tiếp Dẫn ÐN
Chưởng Ấn
Thánh Nhơn
Hiền Nhơn
Tiếp Lễ NQ
Phu Tử
Thập nhị BQ
Nhơn Thánh
Giáo Sư
Cải Trạng
Giám Ðạo
Chơn Nhơn
Ðạo Nhơn
Nhạc Sư
Ðốc Nhạc Ðề Nhạc
Ðại Phu
Hộ Ðàn PQ.
Hữu Phan Q.
Tả Phan Q.
Ðịa Thánh
Giáo Hữu
Thừa Sử
Truyền Trạng
Chí Thiện
Lãnh Nhạc
QuảnNhạc
Ðội Nhạc
Quốc Sĩ
Tổng Giám
Thiên Thần
Lễ Sanh
Sĩ Tải
Giáo Thiện
Cai Nhạc
Bếp Nhạc
Hiền Tài
Phó T.Giám
Nhơn Thần
Chánh Trị Sự
Phó Trị Sự
Thông Sự
Luật Sự
HànhThiện
ThínhThiện

Nhạc Sĩ
Lễ Sĩ
Giáo Nhi

Tá Lý
Ð.PhòngVăn
Ðịa Thần
Ðạo Hữu

Tân Dân
Minh Ðức


Thơ Ký

CƠ QUAN LẬP PHÁP
(Ba Hội lập Quyền Vạn Linh)





Vạn linh là toàn cả các chơn linh (linh hồn) trong càn khôn vũ trụ, gồm đủ Bát hồn.
Bát hồn là tám phẩm chơn hồn trong càn khôn vũ trụ, gồm : kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.
Quyền Vạn linh là quyền quyết nghị của các đại biểu của Vạn linh, tức là các đại biểu của Bát hồn.
Khi lập Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn lập ra 3 đài tương ứng với 3 quyền : Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp.
- Quyền Lập pháp là của Bát Quái Đài do Đức Chí Tôn nắm giữ.
- Quyền Hành pháp là của Cửu Trùng Đài do Đức  Giáo Tông nắm giữ.
- Quyền Tư pháp là của Hiệp Thiên Đài do Đức Hộ Pháp nắm giữ.
Khi lập Đạo xong thì Đức Chí Tôn giao Quyền Lập pháp lại cho Vạn linh, vì Đức Chí Tôn cho Quyền Vạn linh được ngang bằng với Quyền Chí linh. (Chí linh là Đức Chí Tôn). Vì thế, Quyền Vạn linh lập thành Cơ quan Lập pháp của Đạo Cao Đài.
Cơ quan Lập pháp của Đạo Cao Đài là một cơ quan có nhiệm vụ lập ra hay hủy bỏ các luật pháp tu hành cho các tín đồ Cao Đàiđể các luật pháp nầy lúc nào cũng thích hợp với trình độ tiến hóa của nhơn sanh.
Quyền Vạn linh lập pháp của Đạo Cao Đài thể hiện lần đầu tiên là lập thành Tân Luật, luật tu hành của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Muốn thực hiện Quyền Vạn linh thì phải quyết nghị qua 3 Hội :
-          Hội Nhơn sanh,
-          Hội Thánh,
-          Thượng hội.
- Hội Nhơn sanh là hội nghị của các đại biểu nhơn sanh gồm : đại biểu của hạng Đạo hữu (đối phẩm Địa Thần), đại biểu của hạng Bàn Trị Sự (đối phẩm Nhơn Thần), đại biểu của hạng Lễ Sanh (đối phẩm Thiên Thần).
Hội Nhơn sanh còn là đại biểu của các hạng chúng sanh : kim thạch, thảo mộc, thú cầm, nhơn loại, bởi vì trong chúng sanh thì nhơn loại tiến hóa và linh hơn tất cả, nên làm đầu chúng sanh.
Cho nên, Hội Nhơn sanh đại biểu cho 5  phẩm chơn hồn : kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú cầm hồn, Nhơn hồn và Thần hồn.
- Hội Thánh là hội nghị của các đại biểu của hàng Thánh, gồm : các Giáo Hữu (đối phẩm Địa Thánh), các Giáo Sư (đối phẩm Nhơn Thánh), các Phối Sư và Chánh Phối Sư (đối phẩm Thiên Thánh).
- Thượng Hội là hội nghị của các đại biểu hàng Tiên và Phật, gồm : các vị Đầu Sư (đối phẩm Địa Tiên), các vị Chưởng Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh (đối phẩm Nhơn Tiên), Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp (đối phẩm Thiên Tiên và Phật vị).
Ba hội nầy hiệp lại quyết nghị một điều gì thì đó là quyết nghị của Vạn linh, tạo thành Quyền Vạn linh.
Hội Nhơn sanh thể hiện ý nguyện của nhơn sanh nên có tánh cách dục tấn, cấp tiến, thường đi quá cao so với năng lực của nhơn sanh, nên cần phải có Hội Thánh để dung hòa và kềm chế bớt, còn Thượng Hội thì chỉnh đốn cho hợp với Thiên điều.
Do đó, một quyết nghị mà được thông qua 3 Hội như thế thì nhứt định là xác đáng, hợp lý và hợp Thiên điều.
Cho nên, luật nào được Ba Hội lập Quyền Vạn linh quyết nghị thông qua, thì được xem là Thiên điều tại thế, không ai có quyền sửa cải. Khi có điều luật nào áp dụng lâu ngày trở nên lỗi thời thì chỉ có Quyền Vạn linh mớiđược sửa cải mà thôi.
Top of Page



1-  Các Đại biểu của Hội Nhơn sanh gồm :
1. Các vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo.
2. Các Nghị viên.
3. Các Phái viên.
- Lễ Sanh làm đầu nhơn sanh, nên các vị Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo phải có mặt trong Hội Nhơn sanh.
- Nghị viên là đại biểu của ba hạng : Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự. Lấy đơn vị bầu cử là Tộc đạo :
Các vị Chánh Trị Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Chánh Trị Sự.
Các vị Phó Trị Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Phó Trị Sự.
.
Các vị Thông Sự đương quyền trong Tộc đạo bầu ra 1 đại biểu Thông Sự. 
Như vậy trong 1 Tộc đạo có 3 Nghị viên : 1 Chánh Trị Sự, 1 Phó Trị Sự, và 1 Thông Sự.
- Phái viên là đại biểu các Đạo hữu trong Tộc đạo.
Trong Tộc đạo, cứ 500 Đạo hữu thì bầu ra 1 Phái viên. Thí dụ như trong Tộc đạo có 800 Đạo hữu nam phái thì được bầu ra 2 Phái viên nam phái. (Nếu có 980 Đạo hữu thì cũng chỉ bầu ra 2 Phái viên mà thôi, vì vẫn chưa tới số 1000).
Đối với nữ phái, số Nghị viên và Phái viên bên nam phái thế nào thì số Nghị viên và Phái viên nữ phái cũng y như thế.
Nhiệm kỳ của Nghị viên là Phái viên là 3 năm.

2-  Tổ chức Hội Nhơn sanh :
Tất cả các Đại biểu nam nữ của Hội Nhơn sanh họp chung với nhau, chỗ ngồi phân biệt hai bên nam nữ.
1. Nghị trưởng :        Thượng Chánh Phối Sư.
2. Phó Nghị trưởng :  Nữ Chánh Phối Sư.
3. Từ hàn :         - 1 Nghị viên nam
                        - 1 Nghị viên nữ.
4. Phó Từ hàn :  - 2 Nghị viên nam
                        - 2 Nghị viên nữ.
5. Tất cả các Lễ Sanh Đầu Tộc Đạo, các Nghị viên và Phái viên đều là Hội viên của Hội Nhơn sanh, có quyền  bàn cãi và bỏ thăm biểu quyết.
6. Một Chức sắc HTĐ được cử tới dự Hội Nhơn sanh để chứng kiến và giữ cho cuộc hội nhóm của Hội không phạm đến luật đạo. Vị nầy không đặng biểu quyết.

3-  Phận sự của Hội Nhơn sanh :
Hội Nhơn sanh mỗi năm nhóm họp một lần vào ngày 15 tháng giêng, để bàn cãi các việc sau đây :
1. Giáo hóa nhơn sanh.
2. Liệu phương hay cho Đạo và Đời không phản khắc nhau và nâng cao tinh thần trí thức của nhơn sanh.
3. Phổ độ nhơn sanh vào cửa Đạo, dìu dắt tín đồ trọn tuân các luật pháp của Đạo.
4. Sửa cải, thêm bớt hay hủy bỏ những luật lệ của nhơn sanh không còn phù hạp.
5. Lo cho nền Đạo được điều hòa và đủ phương tiện đặng phổ thông chơn đạo.
6. Xem xét tài chánh, kiểm tra tài sản của Đạo, phỏng định số thâu xuất trong năm tới.
7. Xem xét sổ cầu phong và cầu thăng của Chức việc và Chức sắc.

4-  Ban Ủy viên :
Sau khi khai mạc Đại Hội Nhơn sanh, Nghị trưởng trình bày chương trình nghị sự xong thì toàn hội chọn cử ra 4 Ban Ủy viên ngánh theo phái đặng thảo luận các vấn đề cho được cặn kẽ và thấu đáo :
1)  Ban Ủy viên phái Thái.
2)  Ban Ủy viên phái Thượng.
3)  Ban Ủy viên phái Ngọc.
4)  Ban Ủy viên Nữ phái.
            Số hội viên của Hội Nhơn sanh được chia đều cho 4 Ban Ủy viên nầy.
Mỗi Ban Ủy viên cử : 1 Nghị trưởng, 1 Phúc sự viên.

5-  Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn sanh.
Mục đích của Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn Sanh tại Tòa Thánh là bàn tính các điều ngoài chương trình nghị sự của Đại hội và các việc trọng hệ xảy ra thình lình, nhứt là việc giao thiệp cùng chánh phủ. Hội Ngánh thường xuyên của Đại Hội Nhơn sanh gồm có :

o  Thượng Chánh Phối Sư :      Nghị trưởng.
o  Nữ Chánh Phối Sư :             Phó Nghị trưởng.
o  Từ hàn nam nữ của Đại hội :       Từ hàn.
o  Phó Từ hàn nam nữ của Đại hội : Phó Từ hàn.
o  Mỗi Châu đạo chọn 1 Nghị viên nam và 1 Nghị viên nữ tham dự Hội Ngánh.
o  Một Chức sắc HTĐ chứng kiến, bảo thủ luật pháp.
Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn sanh nhóm mỗi năm 3 lần :
mùng 6 tháng 4;  13 tháng 8;  13 tháng 10.
Top of Page



Đại Hội Hội Thánh gồm tất cả Chức sắc nam nữ CTĐ thuộc hàng Thánh (gồm các phẩm : Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Chánh Phối Sư) và Thập nhị Thời Quân của HTĐ với tánh cách là Hội viên, có quyền bàn cãi và bỏ phiếu, nhưng số phiếu nầy tính riêng.
Các Chức sắc hàm phong không được dự vào Hội viên của Đại hội nầy.

1-   Tổ chức của Đại hội Hội Thánh :
1. Nghị trưởng :         Thái Chánh Phối Sư.
2. Phó Nghị Trưởng :  Nữ Chánh Phối Sư.
3. Từ hàn :          - 1 Chức sắc nam
                         - 1 Chức sắc nữ.
4. Phó Từ hàn :   - 2 Chức sắc nam
                         - 2 Chức sắc nữ.
5. Nghị viên :  Tất cả Chức sắc CTĐ nam nữ 
                     từ Giáo Hữu đến Chánh Phối Sư.
6. Thập nhị Thời Quân HTĐ phải có mặt đặng bảo thủ luật đạo không cho Hội phạm đến, cũng đồng quyền như Nghị viên.
Đại Hội Hội Thánh nhóm họp vào ngày 15 tháng 7 âm lịch hằng năm.
Nơi nhóm Đại Hội Hội Thánh : giữa Tòa Thánh.

2-   Nhiệm vụ của Đại hội Hội Thánh :
1. Thảo luận các vấn đề của Hội Nhơn sanh dâng lên, hoặc của Thượng Hội đưa xuống đặng lập phương ban hành.
2. Lo về sự phổ độ nhơn sanh, việc châu cấp cho Chức sắc hành đạo tha phương, xem xét lại tài chánh của Đạo, kiểm thảo lại lịch trình hành đạo.
3. Bàn cãi và công nhận số phỏng định thâu xuất tài chánh trong năm tới.
4. Hủy bỏ, thêm bớt, sửa cải những luật lệ nào không phù hạp với sự tiến hóa của nhơn sanh.
5. Quan sát các việc có ảnh hưởng đến nền Đạo.
Top of Page



Thượng Hội là hội tối cao trong Ba Hội lập Quyền Vạn linh, gồm 11 Chức sắc cao cấp nhứt của Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài.
Thượng Hội gồm :
- Đức Giáo Tông :    Nghị trưởng.
- Đức Hộ Pháp :      Phó Nghị trưởng.
- Thượng Phẩm :     Nghị viên.
- Thượng Sanh :           -   -
- 3 Chưởng Pháp :        -   -
- 3 Nam Đầu Sư :          -   -
- 1 Nữ Đầu Sư :             -   -
Một vị Phối Sư hay Giáo Sư làm Từ hàn, không có quyền bàn cãi và bỏ thăm.
Mỗi năm, sau ngày lễ Noel, Thượng Hội nhóm thường niên trong hạn kỳ là 15 ngày.
Ngoài phiên nhóm lệ nầy, Thượng Hội còn nhóm 3 tháng 1 lần.
Thượng Hội nhóm trong Đền Thánh với nghi thức Khai hội và Bãi hội rất long trọng.
Khi Thượng Hội nhóm  thường xuyên thì nhóm tại Giáo Tông Đường.
Phận  sự của Thượng Hội :
Xem xét và phê chuẩn :
1. Các điều của Hội Nhơn sanh và Hội Thánh bàn luận về việc Đạo.
2. Các điều ước nguyện của Hội Nhơn sanh và Hội Thánh, những điều nào, hoặc của Hội Thánh, hoặc của Hội Nhơn sanh đánh đổ thì không được phép đệ lên Thượng Hội, trừ khi nào có đơn của hai ông Nghị trưởng kêu nài.
3. Thượng Hội bàn luận và định đoạt các việc cần gấp, hoặc yếu trọng phải ban hành trong Đạo.
Biểu quyết :
Khi đã bàn cãi xong, Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp bày tỏ ý kiến sau cùng, rồi Đức Giáo Tông cho bỏ thăm, vẫn lấy đa số làm qui tắc.
Quyền của Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp lại là quyền Chí Tôn nên hai vị Đại Thiên Phong nầy không bỏ thăm.
Nếu cả Ba Hội trong Quyền Vạn linh phản khắc nhau thì Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp hiệp lại chỉ định thế nào thì toàn đạo phải tuân theo thế ấy.
Thảng như Giáo Tông và Hộ Pháp phản khắc nhau, thì cả thảy ý kiến của hai hội dưới đều bị hủy bỏ. Chừng ấy, cả Ba Hội lập Quyền Vạn linh phải nhóm lại từ đầu để thảo luận lần thứ hai.

Trước giờ bế mạc Thượng Hội 15 phút, Đức Giáo Tông và Đức Hộ Pháp vào đại điện mật nghị, rồi trở ra cho Thượng Hội biết rõ quyết định chung của hai vị.











Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét