NÀNG MAI HOA TUYẾT QUỲNH  SỰ THẬT VÀ HUYỀN THOẠI

TS. ĐINH CÔNG VĨ
Mấy thế kỷ nay quần thể Hương Sơn “Nam thiên đệ nhất động” đã làm bao người khao khát say mê. Hai tiếng “Tuyết Quỳnh” trong đó đã vang dội trong thơ văn. Nhưng thực sự động Tuyết Quỳnh mới được ông Nguyễn Thanh Lâm, người thôn Yến Vĩ tìm ra gần đây. Người ra vào thăm quan cầu cúng bắt đầu đông mà chỉ lấp lánh hào quang thánh thần, chưa ai khảo cứu để hiểu rõ con người thật: Bà chúa động (công chúa Mai Hoa – Tuyết Quỳnh) là ai? Tiểu sử thật thế nào?

Thật ra, từ thuở đầu hai tiếng Tuyết Quỳnh tuyệt diệu ấy chưa gắn với nàng. Tên gốc nàng là Mai Hoa, cái tên đầy vẻ quý phái: “Tên Mai lừng lẫy họ nhà Hoàng” như một nhà thơ từng ca ngợi. Bởi vì nàng là con gái Quốc Vương Tư Tề, cháu nội Hoàng đế Lê Lợi và Quốc mẫu Trịnh Thị Ngọc Lữ. Tên húy Tư Tề là “Lang”, mà nàng là con gái lớn trong hai con gái rốt lòng của ông. Nàng thích ngao du sơn thủy như công chúa Tiên Dung thời Hùng Vương. Đôi mắt buồn mộng mơ, nước da đen giòn, khuôn mặt tròn càng tăng thêm vẻ duyên dáng trên thân hình thanh thoát như tiên của nàng. Vậy nên thần vị của nàng có dòng chữ: “Đệ nhất Lê Lang Tiên Dung công chúa Mai Hoa, hiệu Diệu Tuyết Quỳnh”.

Mai Hoa ra đời từ trong khói lửa những năm đầu chống giặc Minh gian khổ. Vào giai đoạn cuối cuộc Bình Ngô mở nước, cho tới vài năm đầu hoà bình, khi Bình Định Vương Lê Lợi mới lên ngôi Hoàng Đế, Mai Hoa vẫn theo các anh học tập dưới sự kèm cặp của Nguyễn Trãi, mài mực, phụ giúp thầy soạn thảo binh thư, từ mệnh. Cuộc đời lá ngọc cành vàng đang mở ra cho anh em nàng bao hy vọng, thì oan khuất bất thần dáng xuống: Lê Tư Tề, vị anh hùng chống Minh đầy công đức, uy tín, hoàn toàn xứng đáng được nối ngôi Lê Lợi, lại bị hạ bệ để đưa con người vợ lẽ Lê Lợi là Lê Nguyên Long, tóc còn để chỏm, không có chút công lao nào lên ngai vàng. Thái tông Nguyên Long thấy Tư Tề hơn mình về mọi mặt, sợ sẽ ảnh hưởng đến ngai vị mình nên dựng án để năm 1438 cách tuột anh xuống làm thứ dân. Gia đình Tư Tề có nguy cơ bị mưu hại, từ mùa thu năm Kỷ Mùi (1439) phải bí mật rời khỏi Thăng Long. Từ đấy là cuộc sống lẩn tránh nay đây mai đó của Mai Hoa và toàn gia đình: Đầu tiên về Nam Đàn (Nghệ An), rồi về Nam Điền (Thanh Hoá), cuối cùng về Phù Lưu Tế (nay thuộc huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây). Năm 1442, Lê Thái Tông bị mưu sát, Nguyễn Trãi và dòng họ bị tru di tam tộc, sau đó là những biến loạn cung đình… Lê Tư Tề dặn dò Mai Hoa: “Cha không màng giàu sang lộc hậu, muốn trọn đời ẩn náu trong dân gian để nhà Lê yên bình. Nhưng đến mức này thì phải cứu nhà Lê. Vậy con hãy đi tìm Lê Đàm, cùng anh ruột con thực hiện ý chỉ của cha: “Khả dĩ chiêu quân, trung thần tử quốc”. Vâng lời cha, Mai Hoa bí mật hành hương vào miền Trung tìm Lê Đàm, cùng Đàm và sư Cao Nhuệ (học trò lớn của Nguyễn Trãi, con Cao Sư Đãng, người thợ sơn nổi tiếng) chuẩn bị lực lượng lo bảo vệ cho thân quyến còn sót của Nguyễn Trãi, chọn lọc để gây cơ sở đưa minh quân (như Lê Thánh Tông) lên ngôi. Đầu tiên Mai Hoa hoạt động ở Nông Cống (Thanh Hoá) rồi ra Bắc, lên Côn Sơn.
Côn Sơn, vùng quê văn hoá nối tiếng của Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, cũng là nơi từng văng vẳng bên tai Mai Hoa những vần thơ Ức Trai, trọn đời không quên:
“Đỉnh Thâu Ngọc tiên đong tuyết nhũ
Song Mai Hoa điểm quyển Hi Kinh”
Gợi lại cái thuở đầu gặp gỡ Nguyễn Lễ, cháu Nguyễn Trãi khi nàng đến nghe giảng Kinh Dịch, cùng chàng sánh vai lên đỉnh Thâu Ngọc hứng nước suối đun trà cho ông, rồi Nguyễn Lễ say ngắm đoá mai vàng lấp lánh bên song cửa sổ, mơ màng tới đoá mai của chính trái tim mình để viết những vần thơ thầm kín. Nguyễn Trãi thấu hiểu tâm sự của hai người, tính đến chuyện đính ước để hai nhà thêm gần gũi. Song hẹn ước chưa thành thì gia đình Tư Tề gặp nạn, rồi thảm án Lệ Chi Viên làm cho đôi lứa thiếu niên hai phương trời biền biệt, biết bao giờ gặp mặt.
Vậy mà giờ đây cá nước duyên mây: Nguyễn Lễ cũng trong đội quân cận vệ của Lê Đàm. Nông Cống, quê hương Bà Triệu hào hùng là nơi tái ngộ, động Thanh Hư diệu kỳ là chốn hẹn thề. Ở Côn Sơn, những lúc rảnh việc nước, việc công, hai người lại đứng trên đỉnh Kỳ Lân nhìn sang núi Phượng Hoàng tưởng Phượng – Lân núi chồng núi vợ mãi song đôi, nhìn sang Yên Tử mãi mãi ngất trời mây phủ, Kiếp Bạc vĩnh viễn non sông sóng vỗ tung trời, tưởng mối tình của mình cũng dài như non sông đất nước. Nào ngờ kết cục bi thảm: Nguyễn Lễ bị giết ngay sau khi Nguyễn Trãi được ban chiếu minh oan, Lê Đàm cũng kết thúc trang sử bi hùng của đời mình sau khi đã lập nên chiến công hiển hách ở phương Nam, đã bảo vệ và góp phần đưa minh quân lên ngôi báu. Hận vì tình nhà, nợ nước không vẹn, Mai Hoa nhờ sư Cao Nhuệ giúp xuất gia đầu Phật ngay tại Côn Sơn. Cao Nhuệ góp ý: “Nơi này tai mắt bọn gian thần đã để ý, không thể tu lâu dài”, ông cho một tiểu tăng theo hầu, đưa nàng về Phù Lưu Tế thăm gia đình, rồi tiện đường sơn xuyên tầm lạc tìm lên Hương Sơn gần đấy…
Hương Sơn thuở đó còn rất hoang dã, hệ thống đền chùa, miếu tháp chưa được xây dựng quy mô như ngày nay nhưng non non nước nước mây mây cũng đủ thành một bức tranh gấm vóc. Dòng suối Yến với rồng vờn phượng múa, voi, rùa, bếp trời… chầu trực ở bên cạnh cũng tuyệt kỳ như nguồn Đào rót vào Thiên Thai, đủ làm Mai Hoa say mê. Suối Giải Oan trong vắt tiêu tan mọi oán hờn. Hoa mơ như mây trắng đọng thành con đường thơm dẫn tới động Hương đang mở ra như hàm rồng khổng lồ với đủ núi cô, núi cậu, cây vàng, cây bạc long lanh. Và bao nhiêu sự tích bà chúa Ba, Đức chúa Thượng Ngàn… thánh thiện, linh thiêng. Hinh Bồng, Tuyết Sơn… thâm nghiêm, cao cả, cũng đủ làm nàng thấy một vùng thắng địa Phật – Thánh đáng tu hành. Song, bằng tầm mắt sâu rộng, nàng đoán trước: chẳng mấy chốc, các nơi ấy sẽ lẫy lừng khắp trời Nam, đền chùa sẽ mọc lên nhiều người ra vào tấp nập thì còn gì kín đáo. Ta cần tìm nơi thích hợp hơn. Thì kia:
Đường kín gập ghềnh thang đá cuốn
Động tiên thăm thm dấu mình trên.
Thuở đó, đường lên động Tuyết Quỳnh chưa có dấu chân người, chỉ có thiên tạo tạc thành thang núi quanh co, ẩn dưới rừng cây rậm rạp mà thầy trò Mai Hoa là người đầu tiên dọn đường leo lên. Hai người ngây ngất trước cảnh tượng tuyệt vời như câu thơ Nguyễn Du mấy trăm năm sau không hẹn mà đã tả ở Kiều: “Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”. Bởi vì từ đỉnh động có một lỗ lớn nứt ra khung trời, ánh sáng từ đó và từ các cửa động khác phản vào đá lấp lánh y như hoa thêu gấm dệt. Một đoá hoa quỳnh trinh trắng khắc tạc trên thành đá, phản ánh đúng hoàn cảnh Mai Hoa lúc ấy.
Đời được như quỳnh tươi phút chốc
Rồi khép bông thơm, lánh sự đời.
Từ đó, Tuyết Quỳnh thành tên Động và sau thành hiệu “Diệu Tuyết Quỳnh” nhà Phật ban cho nàng. Cùng với hoa quỳnh, trong động còn tạc lên bao hình vẽ đầy ý nghĩa như hổ đá, rắn, rùa… Phải chăng nó phản ánh phần nào cuộc đời thầy trò nàng như huyền thoại dân gian là: “Lúc mới đến động, hai thầy trò phát cây thường gặp hổ vàng lớn từ lưng núi nhìn xuống, sau đó được Mai Hoa cảm hoá, thường đến nghe nàng tụng kinh và bảo vệ hai người. Sau 38 năm tu ẩn, Mai Hoa về với Phật vào tuổi 56, ngày 8 – 4 âm lịch. Tiểu tăng thương cảm, tạc đá thành hình người thầy, ôm tượng khóc đến chết, hoá kiếp làm rùa quanh quẩn ở núi, hổ cũng hóa kiếp làm rắn bảo vệ động. Nay trong động thường xuất hiện chú rắn lớn. Pho tượng Phật bà bằng đá trắng tạc đầu hổ thời Lê còn đó. Chúng tôi đến tìm hiểu đều thấy rõ. Các nhà nghiên cứu thử nghĩ xem: Sự thực ấy nói thêm gì về những huyền thoại quanh nàng?