Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

Thư pháp

Thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam[1], thư pháp là phép viết chữ của người Trung Hoa và người Ả Rập được nâng lên thành một nghệ thuật. Về gốc Hán Việtthư pháp (書法) có nghĩa là phép viết chữ. Nhưng không đơn giản chỉ với cách hiểu là phép viết chữ sao cho đẹp, thư pháp, hay thư đạo trong hàm nghĩa sâu xa còn là phương tiện để biểu hiện tâm, ý, khí, lực của người dụng bút.
Tại Việt Nam, nghệ thuật thư pháp thường theo phong cách thư pháp Trung Hoa, dùng bút lông và mực tàu.
Tại Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, như Nhật BảnHàn QuốcViệt Nam, các tác phẩm thư pháp thường được thể hiện bằng chữ Hán và sử dụng bút lôngmực tàugiấy và nghiên mài mực, còn gọi là "văn phòng tứ bảo". Người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ lên thành một môn nghệ thuật cao quý có tính chất phô diễn khí phách tiết tháo của con người. Thư pháp tại Nhật Bản gọi là thư đạo trọng ý hơn trọng hình, còn tại Hàn Quốc gọi là thư nghệ.
Thư pháp Á Đông vừa là một nghệ thuật độc lập, đồng thời là một thành phần trong bố cục của hội hoạ theo phong cách cổ Trung Hoa. Nhiều hoạ gia, như Tô Đông PhaMễ Phất đời TốngTề Bạch Thạch thời hiện đại, nổi tiếng cả về họa lẫn về thư pháp. Thư pháp hỗ trợ cho hội họa và bản thân một bức thư pháp đẹp cũng được coi như một bức họa với quan niệm "thư họa đồng nhất thể".
Ngoài văn phòng tứ bảo, cũng cần kể đến ấn chương (con dấu hay triện) làm bằng các chất liệu như đágỗkim loại mà việc khắc chạm nó và đóng dấu sử dụng mực chu sa màu đỏ ở đâu trên bức thư pháp cũng đã được nâng lên thành bộ môn nghệ thuật
Tại Triều TiênNhật Bản, thư pháp cũng được đề cao. Trong các ngôi nhà cổ, người Nhật Bản thường dành một phòng cho nghi thức "trà đạo", trên vách có một ngăn riêng (gian thờ, gọi làtokonoma) để treo một bức thư họa.
Ở Việt Nam mặc dù không có truyền thống thư pháp như Trung Hoa hay Nhật Bản, nhưng căn cứ vào một số di cảo, bút tích, mặc tích trên giấy tờ, sách vở, sắc phong hay văn bia còn lại thì nước ta cũng không ít những danh nhân được người đời xưng tụng. Ngày nay, chữ việt viết lối thư phápbằng công cụ bút lông, mực tàu, như một sự tìm tòi hình thức biểu hiện mới, cũng đang dần trở nên được nhiều người quan tâm. Thư pháp chữ Việt tuy ra đời sau nhưng có sức sáng tạo vô cùng lớn, thư pháp hiện đã được đưa vào rất nhiều chất liệu như gỗ, thư pháp trên đá [2], thư pháp trên lá đa[3]
Thư pháp phương Tây có phong cách khác hẳn thư pháp Á Đông. Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ thay cho lối chữ thảo thường gặp trong thư pháp Á Đông.
Thư pháp phương Tây có thể được thể hiện bằng nhiều phương tiện: bút sắt, cọthướccompaêke...
Thư pháp Ả Rập là một khía cạnh của nghệ thuật Hồi giáo đã được phát triển song song với đạo Hồi và ngôn ngữ Ả Rập.
Thư pháp Ả Rập/Ba Tư có quan hệ với các trang trí nghệ thuật Hồi giáo trên tường và trần của các nhà thờ Hồi giáo cũng như trên các trang kinh sách. Các nghệ sĩ đương đại của thế giới Hồi giáo đã học hỏi từ các di sản thư pháp để sử dụng trong các tác phẩm của mình.
Thay vì gợi về cái gì đó liên quan đến thực tại của lời nói, đối với các tín đồ Hồi giáo, thư pháp là một sự biểu đạt của nghệ thuật cao quý nhất - nghệ thuật của thế giới tâm linh. Thư pháp đã trở thành hình thức thiêng liêng nhất của nghệ thuật Hồi giáo vì nó mang lại một mối liên kết giữa các ngôn ngữ của người Hồi giáo với đạo Hồi. Kinh thánh của đạo Hồi, kinh Koran, đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngôn ngữ Ả Rập, mà mở rộng của nó là thư pháp Ả Rập. Các câu cách ngôn và các đoạn hoàn chỉnh trong kinh Koran vẫn là những nguồn sống động cho thư pháp Ả Rập.

Vài nét về lịch sử thư pháp Việt Nam


Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân hay đến nhà những Thầy Ðồ hay những người hay chữ để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần. Thầy đồ hay người hay chữ cho chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ trên một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường được khen là đẹp như rồng bay phượng múa. Lối viết như vậy được gọi là Thư Pháp. Thư Pháp là phương pháp viết chữ (đẹp).
Cụ Ðồ xưa:
Thư pháp là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì.
Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện : bút sắt, cọ, thước, compa, êke…Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ. Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La Tinh.
Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt… Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.
Ở Việt-Nam vào thời điểm nầy, có lẽ ngoại trừ một số người lớn tuổi thâm Nho mới đọc được chữ Hán, chữ Nôm, chớ còn hầu hết là không đọc được.
Bởi vậy tại sao ta không viết thư pháp bằng tiếng Việt ? Viết chữ Việt cũng đẹp vậy, bởi vì sao giải thích được : Sao là đẹp ? Sao là không đẹp ? (KTS Nguyễn Thanh Sơn)
Biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta, chắc gì gọi là đẹp đối với kẻ khác !… biết đâu cái gọi là đẹp đối với ta bây giờ chắc gì gọi là đẹp đối với ta sau nầy” (Trang Tử).
Thư pháp bằng tiếng Việt: 
Theo các bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn một câu văn một bài thơ để viết lên trang giấy là việc cần hết sức cẩn trọng. Vì ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa, năng khiếu viết chữ, nội dung một bức thư pháp còn cho thấy tư tưởng, kiến thức, tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, ngoài thể hiện những đường nét rồng bay phượng múa, các thư pháp gia còn phải “nhiếp tâm” với những gì mình sắp sửa viết ra.
Phong trào viết Thư pháp bằng tiếng Việt đã được khôi phục một cách mạnh mẽ từ khoãng 10 năm nay. Bên Việt Nam nhiều Câu Lạc Bộ viết Thư pháp được thành lập trong các thành phố lớn, đã có nhiều “Thư pháp gia” tổ chức những cuộc triển lãm thư pháp như những hoạ sĩ triển lãm tranh vẽ. Tôi xin giới thiệu với bạn sơ lược về bộ môn nầy.
Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn nầy khá dễ, muốn viết sao cũng được, miễn cho đẹp thì thôi ! Thật ra môn Thư pháp cũng có nhiều qui tắc, sau đây là vài nguyên tắc chính.
Chương pháp: tức là nguyên cứu phương pháp phân bố chữ với chữ, hàng với hàng, và các hàng với toàn bộ bức thư pháp. Một bức thư pháp thành công hay không là do ở chương pháp.
-Ðầu câu không thụt vô.
-Các hàng đều và dài bằng nhau
-Một chữ lẻ loi không đứng thành một hàng
-Khoảng trống ở hàng cuối không dài hơn phân nửa chiều dài của hàng
-Không dùng dấu chấm câu.
Hình dạng bức thư pháp: Có bốn hình dạng chánh
-Hình chữ nhật đứng (Trung đường)
-Hình chữ nhật ngang (Hoành phi)
-Hình vuông (Ðấu phương)
-Hình mặt quạt (Phiến diện) 
Ấn chương (hay con dấu, con triện) là một nét văn hoá rất độc đáo của người Trung Quốc.
Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp hay một bức họa. Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm gía trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỷ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo.
Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi :
-Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền đậm.
-Khắc nổi, khi in ra có nét chữ đậm trên nền lợt.
-Loại nữa chìm nữa nổi
Vị trí đặt con dấu:
Trong các thư tác của người Trung Hoa xưa có nhiều vị trí được qui ước để đóng dấu như :
-Ðóng ở bên phải, phía trên thư tác gọi là Nhân chương
-Ðóng ở thắc lưng thư tác gọi là Yêu chương
-Ðóng ở phía dưới, bên trái thư tác gọi là Danh chương
Tùy theo thư tác có khổ lớn hay nhỏ, dài hay ngắn mà có thể đóng một, hai, hoặc ba dấu triện. Vị trí các dấu triện đều có ý nghĩa riêng của nó.
thư pháp hiếu phong trần
Thư pháp Việt ngữ không hoàn toàn theo qui ước đóng dấu của người Trung Hoa mà theo cách thực hành sau đây :
Khi tác giả vừa là tác giả nội dung (Ý) vừa là tác giả hình thức (Hình) ; hoặc tác giả Hình nhưng Ý là các câu văn thơ cổ (hết bản quyền) thì con dấu ở vị trí dưới, phải. Hoặc có thể thêm một dấu ở trên, trái như dấu treo. Như vậy được gọi là Toàn triện.
Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ…) nhưng chưa có sự đồng ý của tác giả đó thì con dấu của tác giả Hình đặt bên dưới, phải, còn bên trái ghi tên tác giả Ý và người viết phải ghi thủ bút hoặc viết . Vị trí nầy tạm gọi là Bán triện
Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ…) có sự đồng ý của tác giả Ý thì được quyền đóng dấu ở dưới, bên phải nhưng phải đề tên tác giả Ý phía trên cao, bên trái ; và người viết phải ghi chữ thủ bút hoặc viết . Vị trí nầy tạm gọi là Ðồng triện.
Trường hợp ngoại lệ : vì lý do bố cục mà người viết không thể sắp xếp được vị trí nơi đóng dấu thì được đặt dấu ở vị trí khác nhưng phải ghi rõ tác giả về Ý. Vị trí nầy tạm gọi là Ngoại triện.
Các kiểu chữ trong Thư pháp
Trong thư pháp việt ngữ hiện nay xuất hiện 5 kiểu chữ chính:
Chữ Chân Phương, tạm gọi là Chân Tự, là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.
Chữ Cách Điệu, tạm gọi là Biến Tự, là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương mà ra nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo ra cái lối viết riêng của mình.

Chữ Cá Biệt, tạm gọi là Cuồng Thảo, là lối viết Thư Pháp mà người phóng bút nhiếp tâm giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết chữ nầy thể hiện cá tính của người viết, nhìn vào kiểu chữ nầy, người xem dễ biết tác giả mà không cần phải xem bút ký. Kiểu chữ nầy thường viết liền lạc trong một nét nên khó đọc.
Chữ Mô Phỏng là lối viết mô phỏng dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Có người viết chữ Việt nhìn vào ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên, v.v…

Chữ Mộc bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Nhìn vào chữ có dạng Hán-Nôm nhưng đó lại là chữ Việt viết ngược.
Ngoài ra trong một số tranh Thư Pháp còn có hình ảnh minh họa về thiên nhiên, trong đó phần tranh có thể chiếm khoãng không gian lớn hơn phần chữ. Với đặc trưng nầy Thư Pháp trở thành Thư Họa.

Trong một số người viết Thư Pháp, có nhiều người là họa sĩ, họ thường biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ.
Ta có thể hình dung ra được khuôn mặt của Ðức Phật
Sau đây là chữ "Phật" của Trần Bá Linh:

Chữ "Lệ rơi" của Tuấn Hạ :
Và cuối cùng là chữ "Mẹ" của Chính Văn:
Nếu ta nhìn kỷ thì có thể "thấy" hình dáng người mẹ tóc dài xõa lưng, đứng đưa lưng lại và dang tay ra để đở một đứa bé, đứa bé nầy nhìn ngang, nằm co lại như còn trong bụng mẹ.

Tranh thư pháp Việt Nam và nghệ thuật thư pháp

Lịch sử phát triển của tranh thư pháp Việt Nam có ảnh hưởng lớn từ nghệ thuật thư pháp Trung Quốc nhưng mang đậm phong cách riêng độc đáo của dân tộc
Nằm trong khối những nước đồng văn, Việt Nam tự hào đã xác lập một diện mạo Thư pháp kéo dài hơn 10 thế kỷ. Trước đó, Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay) từng hân hạnh được Chử Toại Lương ghé thăm ông tổ chữ Sấu Kim là Tống Huy Tông – Triệu Cật có ý định sai một phái đoàn Thư họa gia sang vẽ chân dung cho Lê Hoàn và quần thần, nhưng vì phương Bắc lâm vào nội chiến, chuyến đi bất thành nhưng dư ba của bút ý thời tống vẫn bàng bạc trên cột kinh Đinh Liễn.
Là một loại hình nghệ thuật truyền thống khởi nguồn từ Trung Quốc, đề cao những pháp tắc dùng bút lông nhọn để viết các thể chữ Hán (Triện, Lệ, Khải, Hành, Thảo). Về kỹ pháp thì chú trọng đề cao phong cách cầm bút, dùng bút, dùng mực, đường nét, kết cấu, phân bố (hàng lối, bố cục), nhất loạt yêu cầu: cầm bút thì ngón thì tay phải chắc, lòng bàn tay phải lỏng, năm ngón cùng lực; dùng bút thì phải đứng ngòi, phô diễn được nét bút; đường nét phải tròn đầy đâu đấy; kết cấu thì ngang dọc đúng độ, ý tứ tương ứng; phân bố thì biến hóa tung hoành, dầy thưa hợp lý, khí mạch một hơi, đặc biệt là phải sùng chuộng cá tính, phong cách và ý vị. Thư pháp và Hội họa vốn cùng một nguồn ở đường nét, mỗi cái đều có mỹ cảm sinh động của Khí – Vận (tính cương – nhu). Trong khi Hội họa có hình tượng và màu sắc thì Thư pháp không có sự hỗ trợ đó, chỉ dùng những đường nét trừu tượng, cho nên sự biểu đạt khí chất và vận cảm của đường nét cần phải manhjmex. Nghệ thuật Thư pháp dòi hỏi sự biến hóa vi diệu trên nhiều tầng diện, có thể đạt tới cảnh giới mà Thư pháp gia hiện đại Trung Quốc là Thẩm Doãn Mặc từng nói: gươm giáo sắc nhọn đáng sợ, hình tượng sống động ly kỳ. Vì hình thể chữ không hẳn là những hình tượng cụ thể, cho nên những người học viết hướng tới nắm vững những kỹ năng căn bản, nhất là bút pháp, bút thế và bút ý thì Thư pháp mới đi đến chỗ hoàn mỹ.
Nghệ thuật Thư pháp có hơn 3000 năm lịch sử, chữ Kim văn thời Thương Chu vốn đã rất giầu tính biểu cảm; đến chữ Triện thời Tần, Lệ thời Hán, Bia thời Ngụy, Khải thời Đường, Hành thời Tống, tiểu Khải của người Minh đều rất phong phú nhiều vẻ. Những Thư pháp gia nổi tiếng như Vương Hy Chi thời Đông Tấn luôn được nhiều đời hâm mộ; thời Đường có 4 đại gia Âu (Dương Tuân), Chử (Toại Lương), Nhan (Chân Khanh), Liễu (Công Quyền), trong khi đó chữ cuồng Thảo của Hoài Tố và Trương Húc luôn có sức cuốn hút nghệ thuật mạnh mẽ. Bốn đại gia thời Tống gồm Tô (Đông Pha), Hoàng (Đình Kiên), Mễ (Phất), Sái (Tương). Thời Nguyên có Triệu Mạnh Phủ, Minh có Đồng Kỳ Xương. Đến nhà Thanh thì Thư pháp chia làm hai phái: Thiếp và Bia, một trong Dương Châu bát quái là Trịnh Bản Kiều đã sáng tạo ra thể chữ Lục phân bán của riêng mình khi dung hợp Chân, Thảo, Lệ, Triện vào trong một lò.
Nằm trong khối những nước đồng văn, Việt Nam tự hào đã xác lập một diện mạo Thư pháp kéo dài hơn 10 thế kỷ. Trước đó, Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay) từng hân hạnh được Chử Toại Lương ghé thăm ông tổ chữ Sấu Kim là Tống Huy Tông – Triệu Cật có ý định sai một phái đoàn Thư họa gia sang vẽ chân dung cho Lê Hoàn và quần thần, nhưng vì phương Bắc lâm vào nội chiến, chuyến đi bất thành nhưng dư ba của bút ý thời tống vẫn bàng bạc trên cột kinh Đinh Liễn.
Quốc gia độc lập dĩ thư tuyển sĩ (qua chữ kén người) khiến chữ viết mang phong cách thời Đường tái hiện nét rắn rỏi trên những trang sử đá thời Lý mà không kém vẻ trữ tình qua nét chữ Phi bạch của Lý Nhân Tông ngự đề trên trán bia chùa Long Đọi. Ba chữ Thanh Hư động của Trần Nghệ Tông theo đòi được phong thái trang nghiêm khỏe khắn của chữ Lệ thời Hán khác hẳn với sự trầm mặc tưởng niệm của chữ Triện trên hệ thống bia ngạch Lam Kinh thời Lê sơ, cho dù các Hoàng đế và triều thần Lê sơ yêu thích chữ Khải của Triệu mạnh Phủ đời Nguyên, Lê Thánh Tông và con – Lê Hiến Tông là hai trong gương mặt thư pháp gia sáng giá bấy giờ. Nội chiến Nam – Bắc triều chính thức châm ngòi cho cuộc tranh dành quyền lực giữa các dòng họ, nhà Mạc biến thể con chữ thành lối viết đầu cong chân quẹo làm tiên đề để sản sinh ra chữ viết Sắc phong thời Trung hưng – một kiểu chữ độc nhất vô nhị không giống bất kỳ thể nào, nhà nào, thời nào của Trung Hoa. Kiểu sức là điểm yếu của thư pháp thời Nguyễn đồng thời là dấu son đẹp đẽ chấm dứt nghệ thuật Thư pháp cổ nước nhà khi chữ Quốc ngữ được đưa vào thay thế chữ Hán.

Đinh chuộng ý, Lý chuộng vận, Trần chuộng luật, Lê chuộng pháp, Mạc chuộng biến, Nguyễn chuộng kỹ, Hiện đại chuộng Quốc ngữ là tổng quan về thư pháp nước nhà.

Tranh thư pháp Việt và cách viết thư pháp

Độc đáo cách vẽ và viết chữ thư pháp của người Việt. Bắt đầu từ cách cầm bút cho đến những thao tác uốn lượn nhẹ nhàng và dứt khoát.
Cầm bút sao cho bút vuông góc với mặt giấy, khi viết các ngón tay và cổ tay phải thoải mái không gồng cứng. Lưng thẳng, vai giữ nằm ngang và thả lỏng. Nên tập cho mình một thói quen để giấy song song với cạnh bàn và vai, không nên để tờ giấy xéo và xoay người sang để viết. Với tác phẩm có kích thước vừa phải khi chuyển bút chỉ di chuyển các ngón tay, cổ tay, khủy tay chứ không di chuyển vai và toàn thân. Tuỳ vào loại giấy, độ đặc lỏng của mực và thể chữ mà bạn chọn cho mình tốc độ viết phù hợp. Đừng quan niệm rằng viết thư pháp phải viết thật nhanh mới hay. Công phu cầm viết nằm ở chỗ tay thật vững, không run, khi tay vững thì bạn có thể viết chữ to hay chữ nhỏ chỉ với một cây bút.
Khi viết, tay nhấc lên cao không chạm mặt giấy gọi là Không Bút. Khi viết tay chạm mặt giấy thì gọi là Tì Bút.
NGŨ CHỈ CHẤP BÚT: Đây là cách cầm bút thông dụng và phổ biến nhất.
Giữ thân bút bằng ba ngón tay, ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Đầu ngón tay cái áp sát vào thân bút, đầu ngón trỏ và ngón giữa áp sát vào thân bút theo phía đối diện với ngón cái. Phần móng tay của ngón áp út tựa nhẹ vào thân bút và ngón út không chạm vào thân bút mà tựa nhẹ vào ngón áp út.
Chú ý ngón áp út và ngón út không để cong quẹo hoặc chạm vào lòng bàn tay. Các ngón tay phải giữ bút chắc chắn, lòng bàn tay phải rỗng. Cổ tay phải thăng bằng và cánh tay luôn giữ ở tư thế treo. Các bạn nên nhớ rằng cầm bút cao hay thấp và cầm theo cách nào cho phù hợp còn tuỳ thuộc vào thể chữ và kích thước của tác phẩm.
CÁC CÁCH CẦM BÚT KHÁC
Cách cầm đơn giản nhất là giữ sao cho các ngón tay nằm một bên thân bút và ngón trỏ nằm ở phía ngược lại.
Khi viết chữ với kích thước nhỏ bạn có thể tựa nhẹ cánh tay vào cạnh bàn, chống nhẹ ngón tay út vào giấy hoặc kê cổ tay lên một thanh gỗ hay mu bàn tay trái. Khi mới tập viết, có người luyện kỹ pháp không bút trước, cách này tốn nhiều thời gian và đòi hỏi công phu tập luyện cao. Nếu bạn thành thạo kỹ pháp không bút thì bạn đã dàng điều khiển bút theo các kỹ pháp khác. Ngược lại, nếu bạn luyện kỹ pháp tì bút trước thì bạn dễ làm quen và điều khiển bút nhanh hơn. Nhưng sau này bạn muốn luyện sang kỹ pháp không bút sẽ gặp nhiều trở ngại, bạn thấy không quen tay, mất kiên nhẫn và mau chán nản. Như vậy sẽ gây hạn chế rất lớn cho công việc sáng tác của bạn sau này.
Tư thế viết thư pháp:
- Ngồi viết: Tùy theo chiều cao của mỗi người và diện tích của nơi viết chữ mà bạn có thể chọn cho mình một bộ bàn ghế thích hợp và thoải mái để viết.
- Đứng viết: Tức là bạn vẫn dùng bàn để viết nhưng không dùng ghế để viết cho thật thoải mái.
_ Ngồi xếp bằng: Lúc này bạn sử dụng bàn thấp và ngồi xếp bằng dưới đất hoặc có thể ngồi trên một chiếc gối nhỏ.Tư thế này có tầm nhìn vừa phải, không quá gần như khi sử dụng ghế mà cũng không quá xa khi đứng viết.
- Bò nghiêng: Các bạn dễ thấy hình ảnh này khi xem những tranh ảnh về những cụ đồ ngày xưa, đây là tư thế tạm thời vì các cụ chỉ viết trong mấy ngày xuân ngắn ngủi, không tiện mang theo bàn ghế. Ở tư thế này nếu viết chữ đại tự thì các cụ ngồi thẳng lưng mà viết, trong trường hợp viết các câu đối thì các cụ duỗi dài người lên phía trước.
- Quỳ gối viết: Ở tư thế này thì hai gối các bạn phải chạm đất và tay trái chống thẳng, rất tiện khi viết chữ to.
- Đứng viết lên vách: Khi các bạn phải viết tác phẩm lên một tấm vách cố định thì ta dùng tư thế này. Giữ tầm mắt vừa phải và tập trung vào nội dung đang thể hiện.
 
* Dù bạn viết ở bất kỳ tư thế nào đi nữa thì nên giữ cơ thể thăng bằng và thoải mái. Nếu ngồi ghế thì hai bàn chân phải song song nhau và chạm vào mặt đất. Vai luôn giữ ngang và cột sống phải thẳng, nếu không dễ gây tật gù lưng và nhức mỏi cho chúng ta sau này, cũng như không thể ngồi viết lâu được. Nếu trong trường hợp vận bút có gì trở ngại, bạn nên kiểm tra lại tư thế và cách cầm bút, nếu mọi thứ ổn định và đúng cách mà đường bút vẫn chưa đạt thì bạn nên nghỉ ngơi.

Thư pháp là nghệ thuật viết chữ Hán bằng bút lông trên giấy, lụa, có bố cục đẹp với những nét chữ như tranh vẽ.
 
Thư pháp chữ Phúc.
 
Trước kia, viết chữ là minh họa cho bức tranh, tuy nhiên sau này là bức họa toàn bằng chữ. Đây là một loại hình nghệ thuật nổi tiếng của Trung Quốc và nhiều nước phương Đông, được gọi là nghệ thuật thư pháp.
 
Người Trung Quốc thời xưa rất thích treo tranh thư pháp trong nhà, đặc biệt là tranh chữ "Phúc". Nó có nghĩa là đem lại may mắn, hạnh phúc cho cả gia đình. Có nhiều người tin rằng treo chữ Phúc đảo ngược có thể giúp công việc kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận.
 
Thực ra không riêng gì người Trung Quốc, người Việt Nam vẫn thường treo những bức tranh thư pháp chữ "Tâm", "Đức", "Nhẫn"... Mọi người cho rằng bức thư pháp này có thể sẽ mang lại những điều tốt lành. Thư pháp và các biểu tượng có thể vẽ ra trên giấy và treo như tranh hoặc khắc lên gỗ, lên đồ đạc...
 
 
Thời trước, mỗi khi tết đến xuân về, mọi người vẫn thường đến cụ đồ để xin chữ. Những bức tranh thư pháp thường được treo hoặc dán vào những nơi trang trọng nhất. Trong phong thủy, tranh thư pháp được xem là biểu tượng mạnh và có hiệu quả nhất trong cách bài trí nội thất.
 
Người Trung Quốc lưu truyền một số câu chuyện thú vị về thư pháp, trong số ấy nổi tiếng nhất là chuyện của Vương Hy Chi.
 
Nhà thư họa Vương Hy Chi thời Tấn nổi tiếng văn hay chữ tốt. Ông cứ viết chữ nào treo lên là hôm sau mất ngay chữ ấy.
 
Một hôm, để chuẩn bị đón năm mới, ông nghĩ ra một cách, viết câu đối họa theo câu thành ngữ "Họa vô đơn chí - Phúc bất trùng lai" (Họa theo nhau mà đến - Phúc không bao giờ lặp lại).
 
Ông viết mỗi 4 chữ: Phúc vô song chí; Họa bất đơn hành.
 
Nghĩa là: Phúc không đến hai lần; Họa không đi đơn lẻ.
 
Mọi người đều cho rằng, ông ngớ ngẩn. Ngày tết ai lại treo câu đối như thế, đó là điều gở. Sáng hôm sau, mùng một tết, ông thấy câu đối còn nguyên, không ai lấy cả. Khi ấy ông mới viết tiếp cho trọn từng câu của vế đối như sau: Phúc vô song chí kim triêu chí; Họa bất đơn hành tạc dạ hành.
 
Nghĩa là: Phúc không đến hai lần hôm nay đến; Họa chẳng đi đơn lẻ đêm qua đi.
 
Không ngờ câu đối này của ông trở nên nổi tiếng và nghệ thuật thư pháp Trung Hoa cũng nổi tiếng từ đó.
nghệ thuật thư pháp























Photo: Kính chúc cả nhà ngày đầu tuần thật ấm áp và nhiều may mắn !

Photo: An khang phúc đức niên trường thọ
Phú quý vinh hoa nhật tấn tài
Hoa Nghiêm Thư Pháp

Photo: Buổi tối an lành nhé mn <3



















































































































































































































































































































1 nhận xét: