Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

điện thờ tứ phủ



Trình đồng trong tín ngưỡng thờ TỨ PHỦ



Các ông đồng bà cốt giỏi về soi xét căn mạng Bốn phủ theo kinh nghiệm của chúng tô phải là người có căn giá Quan Lớn Tam phủ ( Bơ phủ). Bởi nhà ngài là cha cai bản mệnh của các thanh đồng - những người căn cao số nặng( Đây nói về người có khả năng soi xét), còn các căn giá khác ( Chúa Nguyệt, Ông Bẩy, Cô Chín) không thể làm được việc này, mà thông thường chỉ xem bói: nhà cửa, đất cát, mồ ả, gia sự… Nhiều nhà đồng hiện nay lại cho mình được lộc Ông Mười, Cô Đôi, Cô Bé…ngồi xem bói? Nhà Thánh cũng mỗi ngài một phép, không lẫn lộn như ta thường nghĩ.


Người phải trình đồng , mở phủ theo tôi thiển nghĩ là thấy rõ ràng mà ngay bản thân người đó cảm nhận được là phải làm việc đó? Bởi một lẽ dĩ nhiên là, khi nhà Thánh bắt đồng thông thường các bạn sẽ nhận được lệnh ( cái này phải qua chiêm bao của chính người đó là chính xác nhất). Trong giấc mộng của mình bạn có thể được các cấp (36 cấp trong Tứ phủ) linh ứng cho chiêm diện (nhìn thấy nhà ngài) hoặc trong mơ đi thăm các đền, phủ những sự kiện này được diễn ra nhiều lần trước khi các bạn cần mở phủ. Ngoài ra trong trường hợp bị bắt sát các bạn vừa được báo mộng ( báo âm), vừa có tâm lý mong muốn đi lễ bái Đền phủ- nếu không đi được trong lòng như có lửa, lúc nào cũng thấy bồn chồn, thúc dục. Khi đến Đền phủ thường được nhà ngài “ốp bóng” giáo hóa. Nhưng nhớ rằng sự giáo hóa của nhà Thánh không phải là sự quát nạt, đe dọa, đập bàn, đầu tóc rũ rượi, thuốc lá hút cả bao… nếu ai bị như vậy cần nghin cứu lại âm đức nhà mình có bị oan gia nghiệp chướng, hay âm theo hay không? Riêng bóng Thánh lúc nào cũng trang nghiêm, đĩnh đạc, chuẩn mực mà rộng lòng thương hơn thế nhà ngài chỉ thoáng qua không giáo hóa nhiều. Có người ngồi trong nhà giữa ban ngày mà nhìn thấy nhà ngài đến ban lệnh, đó cũng là cái duyên đ• tới phải làm ngay. Nhưng nhớ là nhà ngài dậy ta phải làm thì mới làm, còn không thì thôi (trong trường hợp này chỉ cần tôn một lô nhang bản mệnh là ‘sở nguyện Mẫu sẽ cho như ý mà sở cầu Mẫu cũng cho được tòng tâm’). Các bạn có thể hiểu nôm na rằng: đó là cái quyết định sẽ được trao tận tay người có căn đồng số lính. Và cũng cho các bạn một khoảng thời gian để thực hiện quyết định đó. Nếu làm ngược sẽ bị cưỡng chế mà nguời ta hay nói nôm là bị hành.
Trước khi bạn trình đồng bạn phải biết cha cai đầu đồng, mẹ cai bản mệnh của mình là ai? Việc này thường phải nhờ đến đồng thầy xem xét.

Với lối sống hiện đại, việc trình đồng mở phủ ngày nay cũng được rút gọn đi nhiều. Nếu theo lối cổ là 3 ngày ( ngày đầu thiết lập đàn tràng cung nghinh Phật Thánh, thí thực, phóng sinh…, ngày thứ hai Đồng Thầy làm lễ hầu mở phủ ( thông thường thì hầu từ Tam Tòa đến giá Chầu Đệ nhị hoặc Chầu Lục thì sang khăn cho Tân Đồng, Tân Đồng Hầu khoảng 7 đến 9 giá nhưng không hầu Cậu), ngày thứ 3 đồng thầy hầu tạ, tán đàn ( chỉ có Đồng Thầy được hầu Cậu cho đến hết tạ lễ 100 ngày). Trước khi làm các lễ này th¬ờng có lễ trả nợ tào quan, phả độ gia tiên. Có thể làm Đại Đàn ( mở đủ các cung, các cửa Tam phủ thục mệnh, Tứ phủ tiến căn, và các tòa sơn lâm, sơn trang, nhà Trần) nhưng cũng có thể làm tiểu đàn dâng tiến Tứ phủ cũng được. Có nơi làm giản tiện hơn, một mảnh vải đỏ với một mâm Trầu trình cũng đủ cho một lễ trình đồng ( nhất tâm thỉnh Phật, thật tâm trình Thánh ắt được chứng minh). Chứ không nhất thiết phải thiết lập đàn tràng nguy nga, lộng lẫy, tiền tung như mưa mà Tân Đồng được chính quả?

Hiện nay lễ trình đồng thường diễn ra trong một ngày, nhanh gọn kể cả thiết lập đại đàn nhưng cũng đủ các nghi lễ như lối cổ. Nhưng theo thiển nghĩ của riêng tôi, các bạn Tân đồng không lên mở ngay tất cả các cung, các cửa mà chỉ lên mở Tam phủ thục mệnh, Tứ phủ trình đồng là hơn cả. Bởi lẽ khi mới trình đồng mở phủ, các Tân đồng còn non nớt chưa thật vững về các phép tắc, nghi thức hầu ông Thánh, hơn nữa việc hầu nhà Trần và một số căn giá như Chúa Đệ Tam( Chúa ót), Ngũ Hổ… đòi hỏi phải vững tay ấn, tay quyết, có đủ tuổi đồng mới có đủ nhân duyên để hầu các giá này. Theo tôi, các giá này lên tạ phủ 3 năm các bạn mới lên hầu là tốt nhất!

Việc hầu Thánh kể cũng lắm nỗi niềm! Người thì lo vì khó khăn về kinh tế ( để thiết lập một lễ mở phủ hiện nay nhiều nơi có giá nhiều triệu), người lo không tìm được Thầy có tâm ( cái lo này là sự thật bởi nhiều người ngày nay sống bằng nghề buôn thần bán thánh), người băn khoăn về địa điểm mở phủ: lên mở ở nhà Thầy hay nhờ đền to phủ lớn, Đền ua Cha Bát Hải, Đền Quan Lớn Tam Phủ Lảnh Giang, Quan Tuần… hay nhất thiết phải về Phủ Bóng Nam Định?... nhiều câu hởi, nhiều lỗi lo cho một người muốn ra mở phủ. 

Nhiều bạn gọi điện, gửi tin nhắn hoặc đích thân đến hỏi người viết đều trả lời: tùy vào “hoàn cảnh” nhưng cái cần hơn mọi thứ là “cái tâm, cái đức với nhà Thánh”, ở chính bản thân bạn và người Đồng thầy của bạn. Hai yếu tố này mà không gặp nhau bạn sẽ không thể đắc quả tu được. Riêng về địa điểm mở phủ do liên quan đến căn số và việc tạ khóa, vậy lên, nếu có đủ khả năng bạn mở ở chính nơi mà nhà ngài cai giữ căn mạng của bạn là tốt nhất không nhất thiết phải về Phủ Bóng.

Qua đây tôi muốn bàn một chút về những ông bà đồng được gọi là Đồng thầy. Nói có vẻ như giáo điều nh¬ng thực sự là thầy của ta bạn phải cảm nhận được cái tâm của họ trong sáng, bạn có thể soi mình vào đó mà học tập, học đao, học phép nhà thánh. Người sẽ daỵ bạn về nghi lễ, lời ăn tiếng nói, đi đứng tác phong khi đăng đàn cũng như hàng loạt những vấn đề liên quan đến hầu Thánh, tâm đức con nhà bốn phủ…. Nhiều ông bà đồng ngày nay sao mà họ ngạo nghễ đến thế: ăn nói bốp chát, hầu hạ thì rối loạn (Giá các quan thì quát ầm ầm, ông Chín Cờn môn đeo kính râm như dân chợ búa, hầu giá các bà các cô thì lườm nguýt, nhảy múa câng câng…), làm cho những người tham dự có am hiểu nhất định cũng phải ái ngại. Để làm được Đồng thầy ngoài cái Tâm trong sáng, phải có đủ tuổi đồng (ít nhất bạn phải tạ phủ 12 năm- Một giáp thử thách), có khả năng soi xét căn mạng cho con nhang đệ tử, nhất là những người mà bạn cho là phả “mở phủ”.

Hiện nay, với sự cho phép tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo lên các cơ sở thờ tự được phát triển trong đó có hệ thống các Đền, Phủ, Điện thờ Tứ phủ, từ đó các ông đồng bà cốt cũng nhiều lên như nấm mọc sau mưa. Làm cho không ít người quan ngại, việc trình đồng mở phủ như một mốt của nhiều người, nhiều nhà ( có gia đình cả nhà là Thanh đồng). Sự thật ấy nhiều khi tác giả nghĩ mà thấy băn khoăn, lo lắng!

Vậy lên, việc trình đồng mở phủ là một công việc mang tính tâm linh sâu sắc, tôi mong các bạn cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Một số ý kiến chia xẻ, hẳn còn nhiều sai xót mong các Thanh đồng đạo quan, con cháu bốn phủ cảm thông cho cánh Đồng cua, đồng ốc- nhà quê chúng tôi, xin vui lòng nhận mọi lời góp ý, chia xẻ của bạn đọc.

Đền Bảo Hà và Sự Tích Ông Hoàng Bảy

Đền Bảo Hà – khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia, được xây dựng dưới chân đồi Cấm, bên cạnh dòng sông Hồng chảy vào miền đất Việt, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; cách Tp. Lào Cai khoảng 60km về phía nam; cách ga xe lửa Bảo Hà khoảng 800m. Đền thờ thần vệ quốc Hoàng Bẩy, một anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ bản làng. Đây là địa chỉ thu hút du khách thập phương đông nhất của huyện Bảo Yên.
Theo truyền thuyết kể lại, vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786 ) khắp vùng Quy Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc vùng phương Bắc tràn sang cướp phá, giết hại dân lành. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy, tướng Nguyễn Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Trong một trận chiến không cân sức với quân giặc, ông đã anh dũng hy sinh, thi thể ông trôi theo sông Hồng tới Bảo Hà thì dạt vào bờ. Nhân dân trong vùng đã vớt, an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.
Nhìn từ xa, đền Bảo Hà rất uy nghi, tĩnh mặc. Phong cảnh thiên nhiên nơi đây cũng thật hữu tình: trên bến, dưới thuyền, xung quanh là núi rừng bao la, rộng lớn xanh mướt một màu.
Đền Bảo Hà có lưng tựa vào núi, mặt hướng theo dòng nước sông Hồng và nơi đây còn có sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên với kiến trúc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam theo thuyết phong thủy.
Hội chính đền Bảo Hà được tổ chức vào ngày 17 tháng 7 âm lịch hàng năm (ngày giỗ tướng Hoàng Bảy), thu hút đông đảo du khách trong và ngoài vùng đến dự. Trong lễ hội có tổ chức rước kiệu, tế thần, dâng hương tưởng niệm, cùng các hoạt động văn hoá – thể thao khác. Ngoài những ngày lễ hội, những ngày thường (đặc biệt là vào mùa xuân) khách thập phương trong cả nước vẫn thường xuyên tụ họp tại đây để thắp hương tưởng niệm, cầu an, cầu lộc.
Đến thăm di tích đền Bảo Hà rất thuận lợi vì có nhiều đường giao thông đi lại. Du khách có thể đi bằng đường bộ, đường thủy hay đường sắt. Nếu đi bằng đường sắt, từ Hà Nội, du khách sẽ lên tàu LC1 xuất phát từ ga Hà Nội lúc 22:05 hoặc tàu LC3 xuất phát từ ga Hà Nội lúc 06:10.

Hiện nay, đền đã và đang được đầu tư xây dựng bằng nguồn tiền công đức và ngân sách Nhà nước để địa chỉ du lịch tâm linh này ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của du khách gần xa.

(Theo Tổng cục Du Lịch)

Tài liệu tham khảo thêm :

Đền Bảo Hà nằm ở xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giáp ranh tỉnh Yên Bái, còn được gọi là đền ông Hoàng Bảy.
Đền xây dựng dưới chân đồi Cấm, có quang cảnh thiên nhiên “trên bến dưới thuyền” đẹp đẽ. Phía tả ngạn là dòng sông Hồng cuồn cuộn chảy. Còn bên hữu ngạn là một hồ rộng, tạo cho nhà đền cảnh đẹp trữ tình. Ngôi đền Bảo Hà được xây dựng vào cuối đời Lê (niên hiệu Cảnh Hưng), thờ danh tướng Hoàng Bảy họ Nguyễn, có công bảo vệ và xây dựng tổ quốc ở cửa ải Lào Cai. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Bảo Hà có một vị trí quan trọng phòng thủ biên giới, là cửa trạm của phòng tuyến sông Hồng phía Tây Bắc.

Từ đời nhà Trần đã đặt hai cửa trấn ải là cửa quan Bảo Thắng và Bảo Hà, trong đó Bảo Hà là hậu cứ của Bảo Thắng. Tại đây có đài hoả hiệu, trạm liên lạc thông tin cho các châu huyện phía dưới. Giữa niên hiệu Cảnh Hưng, Bảo Hà là trung tâm Châu Văn Bàn. Trong thời kỳ này, bọn giặc phương Bắc thường hay quấy nhiễu, xã Khấu Bàn, châu Văn Bàn đã phải xây dựng các thành luỹ chống giặc.
Đến cuối đời nhà Lê (1740-1786), các châu Thuỷ Vĩ, Văn Bàn và nhiều nơi khác thuộc phủ Quy Hoá luôn bị giặc cướp phương Bắc tràn sang quấy nhiễu. Trước tình hình giặc giã biên cương quấy đảo, triều đình cử viên tướng thứ bảy họ Nguyễn lên trấn thủ Quy Hoá. Danh tướng họ Nguyễn đưa đội quân tiến dọc sông Thao đánh đuổi bọn giặc cỏ, giải phóng Khảu Bàn và xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Tại đây danh tướng đã tổ chức các thổ ty, tù trưởng luyện tập binh sỹ… Sau đó thống lĩnh quân thủy và quân bộ tiến đánh giặc ở Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hoá (Yên Bái, Lào Cai ngày nay).
Sau đó, quân giặc phương Bắc do tên tướng Tả Tủ Vàng Pẹt đưa quân sang xâm lược bờ cõi, danh tướng Hoàng Bảy lại dẫn quân lên tham chiến. Song, do trận chiến không cân sức, ông đã anh dũng hy sinh. Giặc vứt xác ông xuống sông Hồng, và trôi đến Bảo Hà. Nhân dân trong vùng do ông Lư Văn Cù đứng ra tổ chức vớt xác ông lên chôn cất và lập miếu thờ. Để ghi nhớ công lao của ông, các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị đã tặng ông danh hiệu “Trấn an hiển liệt” và đền thờ ông cũng được các vua triều Nguyễn cấp sắc phong là “Thần Vệ Quốc”. Còn đồng bào các dân tộc Kinh, Tày, Dao… thì tôn thờ ông là vị nhân thần. Ông đi vào cõi tâm linh các dân tộc và hiện thân trong các lễ hội xuống đồng vào ngày Thìn tháng giêng.
Đền được xây dựng gồm: cổng tam quan, sân đền, nhà khách, phủ chúa Sơn Trang, Toà đại bái, Cung cấm, Cung nhị, Cung công đồng với diện tích, bài trí các pho tượng khác nhau, kiến trúc đơn giản không cầu kỳ. Trong các cung thờ chính của đền có các pho tượng: Đức Thánh Trần, Đức Vua Cha, Quan Tuần Trang, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Đông quan Bơ phủ, Mẫu Nhị, Mẫu Thượng Ngà, Mẫu Thuỷ Tiên, Thiên Phúc Thiên Nhãn.
Đền Bảo Hà có rất nhiều ngày lễ hội, trong đó những ngày lễ chính là: Lễ thượng nguyên (rằm tháng giêng), lễ tiệc quan tuần tranh (25/5 âm lịch), lễ hội ngày giỗ ông Hoàng Bảy (17/7 âm lịch), lễ tết muộn (Tết tất niên).


(Theo http://www.vanhoalaocai.vn)




Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua, ông giáng phàm trần, trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn, cuối thời Lê. Vào triều Lê Cảnh Hưng, có giặc Trung Quốc từ Vân Nam tràn sang cướp bóc, đốt phá. Triều đình bèn cử ông, dọc theo sông Hồng, lên đánh đuổi quân giặc và trấn giữ vùng biên ải nơi Bảo Hà, Lào Cai. Tại đất Bảo Hà, ông thống lĩnh lục thủy, đánh đuổi quân giặc về vùng Vân Nam, sau đó ông chiêu dụ các thổ hào địa phương đón người Dao, người Thổ, người Nùng lên khẩn điền lập ấp. Sau này trong một trận chiến đấu không cân sức, Ông Bảy bị giặc bắt, chúng tra khảo hành hạ dã man, nhưng ông vẫn một lòng kiên trung, quyết không đầu hàng, cuối cùng, không làm gì được, chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay, di quan của ông dọc theo sông Hồng, trôi đến phà Trái Hút, Bảo Hà, Lào Cai thì dừng lại. Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại, thì trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình thần mã (ngựa), từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội. Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai, ngự trong dinh Bảo Hà, đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi, phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn, uống trà mạn Long Tỉnh, ngồi chơi tổ tôm, tam cúc, xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận, ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức, tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc_ Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.
Ông Bảy là Ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, cũng bởi vì trong hàng Tứ Phủ Ông Hoàng, ông rất hay chấm lính bắt đồng (có quan niệm cho rằng, những người nào mà sát căn Ông Bảy thì thường thích uống trà tàu, hay đánh tổ tôm, xóc đĩa…). Khi ngự về đồng, ông thường mặc áo lam hoặc tím chàm (thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét lam, cài chiếc kim lệch màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi cầm đôi hèo, cưỡi ngựa đi chấm đồng. Đến giá Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như ông đã chấm đồng người đó. Lúc ông giá ngự, thường dâng ông ba tuần trà tàu rồi thuốc lá có tẩm thuốc phiện.






































Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét