Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

CĂN BẢN MẬT TÔNG

Khi thành đạo, Đức Bổn Sư của chúng ta có dạy rằng:  “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh..”. Tuy có mà không nhận thấy được chỉ vì những phiền nảo và sở tri chướng đã ngăn che. Tánh Phật ấy luôn hiện hữu trong năm uẩn và tất cả mọi điều chúng ta thấy hay kinh nghiệm được đều là những biến tướng của tánh ấy, chúng được hiển hiện qua nghiệp, qua từng tâm thức riêng của mổi người. Như Lai tánh nói: Phật tánh là “giác bảo tạng”- tạng giác quí báu của tất cả mổi chúng sinh,ở các kinh tạng giác này được gọi là tánh giác.
Dai Nhat Nhu Lai

CĂN BẢN MẬT TÔNG

Lê Sỹ Minh Tùng
 * * *
Khoảng thế kỷ thứ 7 sau CN tức là trên 1.300 năm sau ngày đức Phật nhập Niết bàn, ở Ấn Độ xuất hiện một vị Tổ của Mật tông tên là Dược sư Long Thọ. Còn Bồ tát Long Thọ, người đã khai triển và hoàn thành học phái Trung Quán,  ra đời vào thế kỷ thứ 2 sau CN trong gia đình Bà là môn thuộc nước Andhradesa tức là Vidarbha, là vị Tổ đời thứ 14 trong số 33 vị Tổ của Phật giáo Thiền tông. (Vị Tổ thứ 33 cũng là vị Tổ sau cùng của Thiền tông là Lục Tổ Huệ Năng).
Mật tông được thành lập vào thế kỷ thứ 7 ở vùng Nam Ấn với sự xuất hiện của bộ kinh Đại Nhật – đây là bộ kinh căn bản của Mật tông.
Nagarjuna - Long Tho1a
Ngài Long Thọ (Nagarjuna, 600-650) được coi là vị Tổ sư của Mật giáo. Ngài thuộc dòng Bà la môn, thọ giới tại Nalanda, sau đó đến Vương Xá tu 12 năm đắc thánh quả Đại thủ ấn tất địa (Mahamudràsiddhi). Tranh tượng vẽ về Ngài có hình rắn phủ quanh đầu. Phật giáo Tây Tạng cho rằng Long Thọ (thế kỷ 7) và Long Thọ luận sư (thế kỷ 2) là một, tức Long Thọ tái sinh trở lại. Ngài có đệ tử truyền pháp là Long Trí (Nagabodhi) – Ngài dòng dõi Bà la môn, nhưng lại thường đi ăn trộm, khi ngài Dược sư Long Thọ đang ở tịnh xá Suvarna, Long Trí đến rình xem thấy ngài Long Thọ đang ăn bằng một cái bát vàng, bèn nảy ý trộm lấy cái bát. Ngài Long Thọ biết tâm ý của Long Trí, liền ném cái bát cho Ngài. Long Trí kinh ngạc và cảm phục bèn xin đi theo tu học. Ngài Long Thọ làm phép quán đỉnh cho Long Trí nhập môn. Sau 12 năm tu luyện, Ngài chứng ngộ thánh quả.
Kim Cương Trí (Vajrabodhi, 663-723) người Nam Ấn, tu học ở Nalanda. Năm 15 tuổi qua Tây Ấn học về “Nhân Minh luận” với ngài Pháp Xứng, sau đó tham học về Luật, Trung Quán luận, Du Già luận, Duy Thức luận.. sau cùng tu học và nghiên cứu “Kim Cương Đỉnh” (Vajra-Sekhàra) và các kinh Mật giáo với ngài Long Trí ở Nam Ấn 7 năm. Năm 720, Ngài qua Trung Hoa, đến Lạc Dương truyền bá Mật giáo. Ngài được coi như vị Tổ đầu tiên của Mật tông Trung Hoa đồng thời với ngài Thiện Vô Úy.
Vajrabodhi
Bất Không Kim Cương (Amoghavajra, 750-774) là đệ tử xuất sắc của ngài Kim Cương Trí. Ngài người Bắc Ấn, thọ Sa di năm 15 tuổi, theo thầy đến Lạc Dương thọ Tỳ kheo giới năm 20 tuổi. Tu học 12 năm thông suốt Mật giáo. Sau khi thầy mất, Ngài cùng với các đệ tử qua Tích Lan nghiên cứu giáo lý Kim cương đỉnh du già và Đại Nhật thai tạng. Trở về Trường An với số kinh điển đồ sộ, Ngài khởi công dịch thuật. Ngài Bất Không Kim Cương là Quốc sư của ba triều vua Huyền Tông, Túc Tông và Đại Tông.
Amoghavajra
Thiện Vô Úy (Subhakarasimha, 637-735) là đệ tử của ngài Long Trí, tức là huynh đệ với ngài Kim Cương Trí, từng là vua xứ Orissa, tu học ở tu viện Nalanda, thâm hiểu Du Già, chân ngôn và ấn quyết. Ngài đến Trung Hoa năm 716, đời vua Huyền Tông, trước ngài Kim Cương Trí 4 năm và cũng được coi là vị Tổ sư của Mật tông Trung Hoa, được vua Huyền Tông trọng đãi. Ngài dịch nhiều kinh quan trọng của Mật tông như Đại Nhật kinh, Tô Tất Địa Yết La kinh… Đệ tử của Ngài có các ngài Nhất Hạnh, Huyền Siêu, Minh Trí, Nghĩa Lâm…
subhakarasimha
Ngài Nhất Hạnh (638-727) quê quán ở Thuận Đức, tỉnh Nhật Lệ, Trung Hoa, là người tinh thông Tam luận, Thiền học, Thiên Thai…, đặc biệt tinh thông cả thiên văn học. Khi ngài Thiện Vô Úy đến Trung Hoa, Ngài được truyền pháp “Thai tạng giới” của Mật giáo. Ngài cùng với thầy dịch kinh Đại Nhật và trước tác bản sớ Đại Nhật kinh. Sau đó, Ngài cũng học với Kim Cương Trí, được truyền cho nghi quỹ của Kim Cương giới. Ngài được lãnh hội cả hai phái của Mật giáo Ấn Độ.
Mật giáo Ấn Độ được khởi xướng và truyền bá do các cao tăng như Long Thọ, Long Trí, Kim Cương Trí, Thiện Vô Úy. Trên mặt giáo nghĩa và hành trì thì chia làm hai phái Chân ngôn thừa (Mantrayàna) và Kim cương thừa (Vajrayàna), dựa theo tư tưởng của hai bộ kinh Đại Nhật và Kim Cương Đỉnh. Qua Trung Hoa, cả hai dòng hợp lưu ở Nhất Hạnh, đường lối Mật tông Trung Hoa tổng hợp của lý luận và thực tiễn. Mật tông phát triển mạnh và đã tạo nhiều ảnh hưởng đến nền văn hóa nghệ thuật Trung Hoa, được các triều vua ủng hộ nên rất hưng thịnh. Công đức truyền bá Mật giáo Trung Hoa do các ngài Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí, Bất Không, Nhất Hạnh, Vô Hành…
Mật giáo được truyền vào Tây Tạng thế kỷ 8 do ngài Liên Hoa Sinh Padmasambhava, người Ấn Độ, sống cùng thời với vua Tây Tạng Ngật Lật Song Đề Tán (755-797). Ngài đến Tây Tạng, đem Mật giáo truyền bá và sáng lập tông phái Ninh Mã (Nuyingmapa), một trong bốn phái lớn của Mật giáo Tây Tạng. Ngài được coi là Đức Phật Thích Ca tái thế, có tài chinh phục ma quỷ, thiên tai và các giáo phái. Ngài xây dựng tu viện Tang Duyên (Samye) năm 775 và trước tác nhiều tác phẩm quan trọng như Tử thư….. Ngài là Tổ sư của Phật giáo Tây Tạng.
lien-hoa-sinh
Sự truyền thừa của Mật tông Tây Tạng không rõ nét và rất phức tạp; những bậc đại sư nổi bật đóng góp làm hưng thịnh và sáng rỡ Phật giáo Tây Tạng sau Liên Hoa Sinh có Atisa (A Đề Sa, 982-1054), thế kỷ 10, Ngài người Đông Ấn, được mời sang Tây Tạng và sống ở đó 12 năm, đóng góp rất nhiều cho Phật giáo Tây Tạng nói chung và Mật giáo Tây Tạng nói riêng. Ngài sáng lập ra trường phái Kadampa (Cam Đan) ảnh hưởng lớn Phật giáo Tây Tạng, trước tác Bồ đề Đạo Đăng luận, đặc biệt công trình sắp xếp hệ thống kinh sách Phật giáo Tây Tạng, lấy triết học Tánh không và Duy thức làm tư tưởng cho Phật giáo Tây Tạng, điều đó ảnh hưởng đến các hệ tư tưởng Mật giáo Tây Tạng rất lớn.
Người cải cách nổi tiếng của Mật giáo Tây Tạng là Tông Khách Ba (1357-1419), Ngài sinh tại Amdo, thuộc vùng Đông bắc Tây Tạng. Xuất gia khi còn nhỏ, tham học với nhiều vị đại sư khác nhau, tư tưởng của Ngài ảnh hưởng của Atisa. Ngài sáng lập tông phái Gelugpa (Hoàng Mạo), một tông phái quan trọng nhất của Tây Tạng hiện nay. Ngài chủ trương xét lại toàn bộ kinh điển và tổng kết thành hai tác phẩm chính: Lamrin Chenmo (Bồ đề đạo thứ đệ) tiêu biểu cho đường lối tu tập Hiển giáo, Ngagrim Chenmo (Chân ngôn đạo thứ đệ) tiêu biểu cho đường lối tu tập của Mật giáo. Phật giáo Tây Tạng được chấn chỉnh và phát huy rực rỡ nhờ Tông Khách Ba. Trước khi mất, Ngài phó chúc cho hai đệ tử là Dalai Blama và Panchen Blama, tức Đạt lai Lạt ma và Ban thiền Lạt ma; theo truyền thuyết thì hai vị này chuyển sinh để tiếp tục cai trị Tây Tạng, được dân chúng coi là hai vị Phật sống. Mật tông được Phật giáo Tây Tạng bảo tồn và phát triển, còn ở các nơi khác không phát triển mấy.
tsongkhapa
Phật giáo Đại thừa có rất nhiều Thần chú như Chú Đại Bi, chú Thủ Lăng Nghiêm, chú Chuẩn đề… mà Thần chú chỉ có trong Mật tông. Vậy lịch sử hình thành Mật tông như thế nào?
Mật tông còn được gọi là Chân Ngôn tông, Du-già tông, Kim Cương Danh tông, Tì-lô-giá-na tông, Khai Nguyên tông hay Bí Mật thừa. Tông này chủ yếu lấy kinh Kim Cương Đảnh làm kinh tạng, kinh Tô-bà-hô làm luật tạng và luận Thích Ma-ha-diễn làm luận tạng. Sở dĩ tông này được gọi là Mật giáo vì để hiển bày giáo nghĩa của mình là rất sâu xa bí mật, còn các giáo phái Đại thừa khác là hiển giáo. Mật tông  cho rằng giáo pháp của hai bộ Kim Cương giới và Thai Tạng giới là chính do pháp thân Phật Đại Nhật Như Lai tuyên thuyết và đây mới là cảnh giới của Phật tự nội chứng cho nên mới gọi là Mật. Đứng về giáo nghĩa hiển bày chân lý thì không có sự sai biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo, nhưng về hành trì thì Mật tông có những quy tắc đặc thù không giống với các tông phái khác.
Mật tông ở Ấn Độ bắt nguồn từ Ấn Độ giáo, do quá trình phát triển lâu dài, Phật giáo dần dần xâm nhập vào tín ngưỡng dân gian nên chịu ảnh hưởng cũng như tiếp thu các chú thuật Mật pháp để bảo vệ giáo đồ và tiêu trừ tai chướng. Rồi dần theo thời gian, Mật tông còn chuyển các vị thần của Ấn Độ giáo vào Phật giáo, do đó mà xuất hiện nhiều vị Minh vương, Bồ tát chư thiên, chân ngôn chú ngữ…Vì vậy trong kinh điển Đại thừa ở thời kỳ sau xuất hiện một loại kinh điển lấy Đà la ni (Dharani) làm chủ yếu. Trong Kinh tạng và Luật tạng Pali có kinh nói về kệ Hộ thân. Sau đó Phật giáo đồ ở các vùng Tích Lan biên tập kinh này gọi là kinh Minh Hộ (Paritta). Kinh này được xem là khởi nguyên của Mật giáo Đà la ni và Mạn đà la sau này. Đến khoảng thế kỷ thứ 4 sau công nguyên mới xuất hiện kinh điển độc lập chuyên nói về chú pháp, như kinh Khổng Tước Minh Vương…
Đến giữa thế kỷ thứ 7 về sau, Phật giáo Ấn Độ tiến vào thời kỳ toàn thịnh thì Mật giáo chân chính mới thực sự khai triển dùng chân ngôn, Đà la ni làm trung tâm, phát triển triết học Phật giáo Đại thừa dựa vào những tư tưởng Mật tông này. Mật giáo hưng khởi vào thế kỷ thứ 7 cho đến thế kỷ thứ 11 khi Phật giáo Ấn Độ bị suy vong thì Mật giáo mới ngưng phát triển. Nhưng tại Trung Ấn Độ, Mật giáo vẫn còn hưng thịnh, sau khi dung nhập giáo thuyết của phái Tính Lực (Sakrtah) thì trở thành Tả đạo Mật giáo, chú trọng thuyết Đại Lạc (Mahasukha-vada) trong kinh Kim Cương Đảnh của Thuần Mật.
Bắt đầu từ thế kỷ thứ 8 về sau, Mật tông được truyền vào Tây Tạng, trở thành Lạt-ma giáo. Dựa theo tư tưởng truyền thuyết Mật tông, khoảng thế kỷ thứ 7, Dược Sư Long Thọ trì chú vào 7 hột cải trắng để mở tháp sắt 16 trượng (biểu thị 16 vị Bồ tát trong Kim Cương giới) ở Nam Ấn Độ và đích thân nhận 2 bộ đại kinh này từ Kim Cương Tát-đỏa. Sau đó ngài Long Thọ truyền lại cho Long Trí rồi truyền cho ngài Thiện Vô Úy. Vì thế Long Thọ là Tổ sư khai sơn Mật tông Tây Tạng, họ chủ trương tôn thờ vị giáo chủ là Đại Nhật Như Lai tức là Phật Tỳ-lô-giá-na. Vì việc thuyết pháp khác với với đức Phật Thích Ca nên gọi là Kim Cương thừa. Kim Cương thừa sau này chia làm 2 phái:
VairocanaBuddha3
1). Phái hữu: Lấy kinh Đại Nhật làm chủ, mang chủ nghĩa thần bí, muốn nhờ vào chú thuật để thực hiện sự hợp nhất giữa vũ trụ và tinh thần, cùng chi phối hiện tượng tự nhiên và những việc may rủi tốt xấu của con người nên gọi là Chân Ngôn thừa. Phái này từ Trung Hoa truyền sang Nhật Bản thành Chân Ngôn tông. Ngoài ra, Mật giáo do Thiên Thai tông ở Nhật Bản truyền thì gọi là Thai Mật.
2). Phái tả: Lấy kinh Kim Cương Đảnh làm chủ tức là Tả đạo Mật giáo, khẳng định bản năng của con người muốn ngay nơi đây phát hiện lẽ chân thật nên gọi là Kim Cương thừa. Phái này xem trọng pháp Song thân. Theo lập trường của Phật giáo Nguyên thủy, phái này là bàng môn tả đạo và bắt đầu từ thế kỷ thứ 9 trở về sau kết hợp với Ấn Độ giáo nên càng thêm hưng thịnh. Về sau lại truyền vào Tây Tạng trở thành cơ sở của “Tạng Mật”. Tạng Mật tức là Tây Tạng Phật giáo Mật tông do ngài Liên Hoa Sanh, ngài Hộ Tịch truyền vào từ thế kỷ thứ 8. Khi Phật giáo chưa du nhập vào Tây Tạng thì Tây Tạng thực hành tà chú của đạo Bon-Pa gọi là Cựu Mật pháp. Đến đầu thế kỷ thứ 11, ngài Tông Khách Ba dịch nhiều kinh điển Du già Mật giáo thì bây giờ gọi là Tân Mật giáo.
Tóm lại, nếu luận về giáo chủ thì Hiển giáo là do đức Thích Ca ứng hóa thuyết pháp, Mật tông là do pháp thân Đại Nhật Như Lai thuyết. Về pháp thân thì pháp thân của Hiển giáo là “lý thể” không hình không tướng. Còn pháp thân của Mật tông thì có hình có tướng và có thể thuyết pháp được. Nhìn từ pháp sở thuyết thì cảnh giới Bát bất Trung đạo tịch diệt của tông Tam luận, cảnh giới Thắng nghĩa đế ly ngôn của tông Pháp Tướng, cảnh giới Bất khả tư nghì nhất niệm tam thiên của tông Thiên Thai, cảnh giới Tính hải quả phần bất khả thuyết thập Phật của kinh Hoa Nghiêm đều rốt ráo có thể nói được. Nhìn từ sự biểu hiện của chân lý thì tất cả các pháp đều tượng trưng cho chân lý mà biểu hiện cụ thể của những loại tượng trưng này tức là nghi quĩ của Mật tông. Xét từ sự thành Phật nhanh chậm thì trừ Thiền tông ra, các tông khác đều phải trải qua 3 A tăng-kỳ kiếp, còn Mật tông thì chủ trương ngay nơi thân này thành Phật. Xét từ hệ thống giáo nghĩa thì Mật tông là tổng hợp Vũ trụ nhân sinh quan Lý, Trí không hai. Đức Đại Nhật Như Lai có đầy đủ nhân cách vĩ đại này mà thế giới của Trí pháp thân gọi là Thai tạng giới. Nhờ sức tu trì có thể khuếch đại thế giới Trí hợp nhất với thế giới Lý, đó là Lý, Trí không hai. Từ khi xuất hiện Du-Già Hành tông của Vô Trước thì cái nhìn về vũ trụ của Mật tông được lý giải rộng rãi hơn.
Nói chung Hiển giáo tận dụng văn tự ngôn ngữ, giải thích, dùng thí dụ nên đức Phật nói quyền, nói thật, nói rộng, nói hẹp, nói cao, nói thấp miễn sao sáng tỏ vấn đề. Mục đích của Hiển giáo là “Văn như tư, tư rồi tu” thì mới nhận biết được sự lợi ích của lời Phật dạy. Vì thế Hiển giáo là giúp hành giả khai tâm, mở tánh thấu triệt Chân lý.
Mật giáo thì thực hành tam mật tương ưng. Đó là thân mật, khẩu mật và ý mật phải tương ứng với nhau để cột tâm vào câu thần chú. Nói cách khác muốn có kết quả tốt, người thực hành Mật tông thì tay phải bắt ấn, chân ngồi kiết già, miệng đọc thần chú và ý niệm thần chú thì thân, khẩu, ý không có cơ hội tạo nghiệp. Lối thực hành này giống như phương pháp niệm Phật của Tịnh độ tông, nhưng nếu chưa đạt đến “Nhất tâm” thì khi hành giả không còn trì chú hay niệm Phật thì vọng tưởng phát tác trở lại.
Theo Mật tông, để đạt được khả năng điều động năng lượng vũ trụ hay năng lượng tâm linh thì phải thực hành nghi thức đúng phép gồm cả ba lãnh vực của thân, khẩu, ý. Thân thể tác động qua điệu bộ, nhất là của hai bàn tay, được diễn theo lời thần chú sẽ tạo nên thái độ tâm linh phù hợp theo một điểm. Miệng đọc các mantra (thần chú), âm thanh biểu tượng, là hiện tượng thiêng liêng làm cho rung động nội tâm của hành giả. Tâm ý thì quán tưởng mandala, tạo thành một thể thống nhất để thể nhập Tam mật của Phật.
mandala
Tam mật của Như Lai bản thể bình đẳng, không giới hạn, có mặt khắp pháp giới, hay nói cách khác: mọi hình sắc đều là thân mật, mọi âm thanh đều là khẩu mật, mọi lý đều là ý mật. Như đã nói, thân Phật và thân vũ trụ là một nên quan điểm về thân mật trong Mật giáo lấy tư tưởng trùng trùng duyên khởi của Hoa Nghiêm làm cơ sở. Sự hiện hữu của thân không đơn giản là một hữu thể độc lập, mà có các mối quan hệ mật thiết với thế giới bên ngoài, hay nói cách khác là với cái không phải thân. Điều kiện mà thân tồn tại gồm cả pháp giới, gọi là mọi hình sắc là thân. Tương tự trong Trung Bộ kinh, Phật dạy quán sắc uẩn bao gồm nội sắc, ngoại sắc, thô tế, liệt thắng, xa gần đều không hiện hữu (vô ngã). Sự mầu nhiệm hay bí mật của thân là cái mầu nhiệm của thân vô ngã. Tương tự như thân, về ngữ mật thì mọi âm thanh đều là ngữ mật. Thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới được biểu hiện bằng ngôn ngữ, mọi thứ đều có tên gọi, mọi thứ đều được khái niệm hóa qua ký hiệu ngôn ngữ, mọi vật đều được nhận thức và giải thích qua mẫu tự và văn cú, ngôn ngữ diễn biến linh động để làm hiển lộ cái mầu nhiệm bên trong, đó chính là sức mạnh của âm thanh. Mật tông cho rằng thế giới được tạo ra bởi 14 nguyên âm và 33 phụ âm. Thể nhập thực tại qua ngôn ngữ âm thanh là một phương cách đặc biệt của Mật tông. Ý mật là sự cảm nhận một cách trực tiếp của tâm. Đó là cái tâm thuần túy, không bị chi phối bởi các kiến thức, không phải cái tâm suy nghĩ có đối tượng, mà tâm ấy nguyên vẹn đơn sơ cảm nhận trực tiếp thực tại vô ngã, thực tại vô ngã ấy được cảm nhận qua nhiều khía cạnh khác nhau. Thế giới tâm là một, Duy thức học gọi là thế giới tánh cảnh. Tâm nhận thức trực tiếp những gì đang diễn ra như thường nói: “Đương thể tức không”. Đó là thực tại được cảm nhận một cách tích cực. Thực hành tantra (nghi thức) là tạo thế cân bằng hòa điệu của thân tâm, rồi tạo mối quan hệ hay sự nối tiếp thân khẩu ý các vị tương ứng với Tam mật của Phật, Phật cũng chính là vũ trụ thân. Đó là sự thể hiện hòa điệu giữa con người và vũ trụ. Sự gia trì Tam mật của Phật sẽ nhập vào Tam mật của ta. Đó gọi là Tam mật tương ưng hay Tam mật du già.
Những gì được trình bày về Mật tông ở trên chỉ là những nét phác họa sơ sài, còn nghĩa lý bí mật, phương pháp thực hành tantra của Mật tông thì phức tạp vô cùng, cần phải nghiên cứu sâu rộng và hành trì nghiêm túc may ra mới có cái nhìn chính xác và đầy đủ.
Triết lý của Mật tông là triết lý của Bát nhã Ba la mật (Prajnãpàramità) và giáo lý Hoa Nghiêm cộng với Duy thức học. Sự phối hợp giáo lý siêu nghiệm với hình thức ấn, chú, mandala… là một sự kết hợp đặc biệt. Vũ trụ, thế giới, con người, vạn vật… đều mang một giá trị thiêng liêng đối với một hành giả Mật tông. Nếu nhìn phớt qua các biểu tượng và nghi quỹ của Mật tông có vẻ như sự thành tín sơ khai hoặc mê tín, nhưng chính thái độ tinh thần được thể hiện qua nghi quỹ ấy lại là hiển lộ mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất, giữa con người và vũ trụ với những năng lượng vô cùng tận. Các biểu tượng Mật tông rất dễ bị ngộ nhận và phê phán, tuy nhiên khi lặn sâu vào biển tâm, ta mới khám phá ra được tác dụng và ý nghĩa của chúng, chúng là những phương tiện diễn đạt những kinh nghiệm tâm linh sâu sắc nhất của hành giả.
Triết lý và phương pháp hành trì của Mật tông cơ bản vẫn xây dựng theo tiến trình Giới-Định-Tuệ như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Phật giáo. Nó có mối liên hệ khá chặt chẽ với giáo lý Nguyên thủy và Đại thừa. Sự khác biệt của Mật tông là ở phương tiện để thể nhập thực tại (Tánh không, Vô ngã), đó là phương tiện huyền bí. Sự phát triển của đạo Phật tạo ra nhiều tông phái khác nhau và các phương pháp hành trì khác nhau; đã là phương tiện thì “đa môn”, cho nên bất cứ phương tiện gì mà đưa đến niềm tin, loại bỏ chướng ngại nội tâm, giúp cho tâm thực chứng giải thoát tối hậu thì đều được sử dụng: Mật tông là một trong những  phương tiện ấy.
Bon Su

CĂN BẢN MẬT TÔNG

Mật tông, là một sáng tạo phối hợp giữa các phương pháp tu luyện cổ xưa của nền văn minh tâm linh Ấn Độ với Triết lý Đại Thừa của Phật giáo. Mật Tông Phật giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 5 – 6 tại Ấn Độ, cùng lúc Giáo lý Đại Thừa. Chính những bộ luận Trung quán và Duy thức đã đóng góp những nền móng cơ bản cho Mật thừa. Ngài Nagarjuna (Long Thọ) còn được coi là vị Tổ sư của Mật giáo. Ngài thuộc dòng Bà la môn, thọ giới tại Nalanda, sau đó đến Vương Xá tu 12 năm đắc thánh quả Đại thủ ấn tất địa. Đến cuối thế kỉ 8, Padmasambhava (Liên Hoa Sinh) truyền Mật Tông từ Ấn Độ vào Tây Tạng, sau đó là Atisa (thế kỉ 11) là người có đóng góp rất lớn cho phát triển Mật giáo. Tại Tây Tạng, Mật Tông được phát triển hình thành một tông phái đầy uy danh với rất nhiều Đạo sư cùng nhiều hệ truyền thừa lừng lẫy.
Còn được gọi là Kim cương thừa (Vajrayana). Lúc ban đầu, Mật Tông chỉ được truyền khẩu. Từ cuối thế kỉ thứ 6 đến thế kỷ thứ 10, Mật Tông mới dần dần được kết tập và hệ thống hóa. Giáo lý Mật tông cũng như mọi tông phái khác của Phật giáo, đều nhắm đến mục đích đạt đến trọn vẹn Phật tánh để thành Phật. Có thể nói rằng, tông phái nào không nhắm đến mục đích giải thoát, đạt đến Phật tánh, thì tông phái ấy không phải là Phật giáo đích thực.
Ngay trong tên gọi Kim cương thừa, là con đường đạt đến trí tuệ kim cương, Phật tánh như kim cương bất hoại, không ô nhiễm bởi phiền não vô minh. Phật tánh ấy bản chất là trong sáng (như Phật Amitabha có nghĩa là Vô lượng quang), còn trong Kim cương thừa, tánh sáng đó được gọi tên là Tịnh quang. Phật tánh ấy thể hiện trong ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân và mục đích của Kim cương thừa là đạt đến ba thân ấy. Một ý nghĩa nữa là: Kim cương là sự kết hợp không thể phân chia của trí Tuệ, tánh Không và Đại bi tâm. “Kim Cương thừa” có nghĩa là cỗ xe kim cương. Kim cương là một từ ngữ vừa có nghĩa “sấm sét” vừa có nghĩa “bất hoại”, biểu tượng của Chân như, củatính Không thể tính hằng tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng. Vì các hành giả theo truyền thống Kim Cương thừa dường như họ thâm nhập trực tiếp và tức thời vào kinh nghiệm thay vì sử dụng luận lý hoặc tư tưởng biện luận nên cỗ xe ấy được xem vừa có uy lực đáng sợ vừa cứng rắn sắc bén.
Là khía cạnh Mật pháp của Phật giáo Ðại Thừa, Kim cương thừa tự xem mình có tính kế tục vì đượckiến lập trên các cấp bậc nguyên sơ của Ðại Thừa và cũng là phương tiện thực hành để thành tựu của Đại thừa. Nagarjuna (Long Thọ – TK.6) là vị luận sư vĩ đại đã làm hưng khởi Đại thừa. Tư tưởng chính thống của ngài Long Thọ là trụ cột cho mọi quan điểm về “tánh Không” của Phật giáo Đại thừa. Ngài cũng đã có viết nhiều giảng luận về Mật thừa, điều đó cho chúng ta thấy hầu như Đại thừa và Mật thừa có nền tảng hình thành cùng một lúc. Và Mật Tông lại giữ cho sự phát triển thăng hoa của nó một định hướng đúng đắn của Đạo Phật, bằng cách giữ nguyên truyền thống Giới – Định – Huệ, và sự tôn trọng các kinh điển thời Đạo Phật còn nguyên thủy. Mật Tông diễn tả bản thểnguyên thủy của thế giới tức Phật tánh bằng năm vị Phật thiền, thường được gọi là Ngũ Trí Như Lai tức năm Trí được chuyển hóa từ năm thức của tâm thế gian sau khi giác ngộ.
Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân thức sau khi giác ngộ sẽ biến thành Thành sở tác trí, được biểu tượng bằngPhật Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi) – Ý thức thứ sáu sau khi giác ngộ sẽ biến thành Diệu Quán Sát trí, được biểu tượng bằng Phật Vô Lượng Quang (Amitabha) – Mạt-na thức thứ bảy khi giác ngộ sẽ biến thành Bình Đẳng Tánh trí, được biểu tượng bằng Phật Bảo Sanh (Ratnasambhava) – Alaya thức thứ tám khi giác ngộ sẽ biến thành Đại Viên Kính trí, biểu tượng bằng Phật Bất Động(Akshobyha)  - Trí Huệ toàn mãn này gọi là Pháp Giới Thể Tánh trí, được biểu tượng bằng Đại NhậtNhư Lai (Mahavairocana).
Cả hai trường phái “Trung quán và Duy thức” của Đại thừa PG đều có đóng góp rất nhiều vào việc phát triển của Mật tông. Cụ thể với Trung quán là tánh Không và với Duy thức là nghiên cứu nhữngbiến hiện của tâm thức, trở thành một lý thuyết cho sự quán tưởng và tương ưng (Du già) của Mật tông.
Phát xuất từ Ấn Độ, Mật giáo được những đại sư nổi tiếng ở Nalanda như Shantirashita và Padmasambhava… truyền vào Tây Tạng từ thế kỷ thứ 8. Hầu hết kinh điển Phạn ngữ đã được Padmasambhava dịch, và qua sự truyền thừa trực tiếp cho nên Phật giáo Tây Tạng rất gần gũi với Phật giáo Ấn Độ vào thời kỳ Đại thừa. Mật thừa được xem như là cỗ xe chánh thứ ba của Phật giáo, cùng với hai cỗ xe kia là -Nguyên thủy Theravada và Ðại thừa (Mahayana). Quan điểm ấy xuất phát từ truyền thuyết cho rằng pháp luân được đích thân Ðức Phật chuyển ba lần.
Lần chuyển pháp luân thứ nhất tại Lộc Uyển(Varanasi). Ðức Phật giảng pháp đầu tiên sau khi ngài đạt chánh quả. Nội dung chính gồm Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, v.v… trong đó có bộ kinh quan trọng và chủ yếu là A-tì-đạt-ma (A-tì-đàm) ghi bằng tiếng Pali, đưa tới các bộ phái Nguyên thủy(Hinayana và Theravada).
Lần chuyển pháp luân thứ hai tại Linh thứu sơn, một ngọn núi ở gần Vương Xá. Ðức Phật giảng pháp gồm các bộ kinh quan trọng về tính Không như Đại Bát Nhã, Diệu Pháp Liên Hoa, Đại Bát Niết Bàn…, đưa tới giáo pháp Ðại thừa (Mahayana).
Lần chuyển pháp luân thứ ba tại Xá Vệ quốc, ở Tịnh xá Kỳ thọ Cấp Cô Ðộc. Ðức Phật giảng pháp về Phật tính của hết thảy các sinh linh, đưa tới giáo pháp Mật thừa. Đại thừa với tư tưởng Bát Nhã –tánh Không đã đưa con người chúng ta có thái độ dường như là bàng quan với thực tại. Nhằm phá vở mọi định kiến chấp Không nên trong lần chuyển pháp luân thứ ba Đức Phật nói về Phật tínhthường hằng hiện hữu trong hết thảy mọi chúng sinh.
Tính cách ấy làm nổi bật đặc tính cá biệt của ba thừa, và với Mật thừa ta không thể phủ định nguồn gốc Ðại thừa của nó. Vì nếu không có Mật thừa, thì có lẽ vẫn mãi mãi hiện hữu ý tưởng về con người như một khán giả – con người ấy nhìn ra bên ngoài và cố gắng phân tích thế giới ngoại tại. Với Kim cương thừa – cũng con người khán giả ấy, nhưng họ sẽ tìm cách nhìn vào bên trong mình – nó vừacụ thể hóa và khách thể hóa các cảm xúc của nó, vừa biến nó thành thành phần của thế giới ngoại tại. Và ở giữa toàn bộ những cái đó, có vẻ bản ngã trở nên thất lạc, biến mất. Lúc ấy, dường như không có thực tại, vì “cái tôi” hay lảng tránh và khó nắm bắt ấy, không thể trong cùng một lúc trở thành người quan sát lẫn là thành phần của thế giới được quan sát.  Kim cương thừa hoàn toàn không dính dáng gì tới sự thất lạc bản ngã ấy. Ðối với Mật giáo, bản ngã  thế giớicảm xúc  kinh nghiệm, đều là một, cùng một quá trình, và giữa hai khía cạnh của quá trình đó có sự tác động qua lại liên tục.
Trong Đạo Phật, tất cả tông phái “hiển giáo” là những phương pháp diệt khổ, xuất phát từ sự nhìn thấy Khổ Đế và Tập Đế. Phương pháp diệt Khổ bắt đầu bằng cách sửa đổi và tiêu diệt nguyên nhân gây khổ, như tịnh hóa thân tâm bằng trì Giới và thực hành các phép Định và Quán. Bằng cách này hành giả chuyển hóa tâm thức thế gian thành huệ trí và đạt đến được giác ngộ. Vì đối trị “nguyên nhân” của vô minh để đạt đến giác ngộ cho nên Đạo Phật nguyên thủy cũng như các tông phái hiển giáo được gọi là NHÂN THỪA.
Mật giáo sử dụng một phương pháp hoàn toàn mới lạ và sáng tạo hơn so với hiển giáo. Căn cứ vào triết lý “Sự Sự vô ngại” của kinh Hoa Nghiêm, các bậc Thầy nhìn thấy sự đồng nhất giữa con người và vũ trụ, giữa phàm nhân và thánh nhân. Mật Tông dùng cách quán tưởng, đồng hóa thân tâm của người đệ tử chưa giác ngộ với chính thân tâm của một vị Bổn tôn Bồ tát hay một vị Thầy đã giác ngộ. Vì dùng ngay bản tâm giác ngộ tức kết quả của tu tập làm phương  tiện, cho nên Mật Tông cũng được gọi là QUẢ THỪA.
- “Tam mật tương ưng” tức phương pháp làm tương đồng Thân – Khẩu – Ý của người thực hành với Tâm – Khẩu – Ý của một vị Phật. Mật Tông dùng các loại ấn, chú, linh phù, hóa thần…để hiện thực sự tương ưng này.- “Năng lực của darani” (mật ngữ): là những ngôn ngữ, âm thanh – tức những rung động xuất phát từ bản thể tuyệt đối của vũ trụ. Darani, vừa là biểu hiện, vừa có thể nối liền với năng lực của bản thể tuyệt đối của vũ trụ, cho nên khi trì darani ta có thể câu thông với bản thể tuyệt đối của vũ trụ, nói theo ngôn ngữ Phật giáo tức là Phật tánh.
- Nguyên lý thứ nhất là tính “thống nhất giữa Tâm và Vật”: Mật Tông cho rằng cơ thể vật chất và cơ thể khí lực có mối liên hệ trực tiếp của Tâm. Từ hư không nguyên thủy, diễn tiến của vũ trụ đưa tánh Không đến dạng khí lực rồi sau đó đến cõi hữu hình vật chất. Tánh Không giống như cái khăn đang mở rộng bị gấp lại, rồi cột gút nhiều lần để trở thành cơ thể vật chất hữu hình. Muốn trở về tình trạng ban đầu ta phải tháo gút theo qui trình ngược lại. Tịnh hóa phải bắt đầu từ cơ thể khí lực rồi sau đó mới đến việc tịnh hóa tâm. Mật Tông đã sử dụng hiểu biết về khí lực, luân xa, luồng hỏa xà để thực hiện cứu cánh giải thoát. Mật Tông cũng sử dụng cơ thể như một lò luyện đan để tinh luyện tâm. Các luồng khí lực, các chất tiết bên ngoài hay bên trong cơ thể cũng được vận dụng cho quá trình chuyển hóa từ phàm đến thánh.
- Nguyên lý thứ hai dựa trên “khái niệm Bardo. Mật Tông quan niệm không gian và thời gian của vũ trụ hay của từng cá thể có thể được chia làm các Bardo (giai đoạn): Bardo lúc sống, lúc thiền định, lúc ngủ, lúc nằm mộng, lúc chết, lúc đầu thai. Tất cả các Bardo này tồn tại liên tục trong một thể thống nhất. Sáu pháp của Naropa là phương pháp tu tập trong các loại Bardo.
- Nguyên lý thứ ba phát xuất từ quan niệm “Phật Tánh” vốn sẵn có nơi từng cá thể. Sự trực nhận được Phật tánh vốn sẵn có đưa đến giác ngộ tức thì. Thiền của Mật Tông cũng là loại đốn Ngộ bằngkiến tánh, không cần phải sử dụng các phương tiện nào khác. Tuy nhiên khả năng và điều kiện để một hành giả kiến tánh không phải là chuyện đơn giản, trái lại phải được chuẩn bị rất kỹ càng với thời gian lâu dài không thể ước lượng được. Chỉ khi nào mọi hình dung về linh ảnh bị quét sạch, hành giả sẽ trải nghiệm tánh Không – khái niệm nền tảng của Ðại thừa. Thêm vào đó không hề có ranh giới giữa sự vật này với sự vật nọ, hoặc giữa tâm con người với thế giới ngoại tại – tất cả đềutương xâm tương nhập (sụ sự vô ngại) và do đó, đều có ảnh hưởng hỗ tương. Những khát khao thôi thúc có tính hủy diệt, kể cả thèm muốn tính dục mà từ viễn cảnh của bản ngã giả tạo  hữu hạn có thể dẫn tới khổ não đều được tịnh hóa;  lúc này chúng sẽ có khả năng trở thành cỗ xe làm cân bằng và hòa điệu các thành phần bên trong và bên ngoài của thực tại.
Lạt-ma Anagarita Govinda (1898-1985), một hành giả vĩ đại của thế kỷ 20 – là nhà tư tưởng Phật giáo Kim cương thừa. Sinh trưởng tại Ðức, vào cuối thập niên 1920, Govinda đi Tích Lan, thọ giới Tì kheo thuộc truyền thống Thượng toạ bộ. Qua năm 1931, ông đi theo lời giảng của Phật giáo Tây Tạng và sau khi sáng lập dòng tu Phật giáo Tây Tạng hệ Pali (Pali Tibetan Buddhist order). Trong cuốn Quán tưởng sáng tạo và ý thức đa chiều kích, ông viết về hiệu ứng của một cái nhìn đã biến đổi qua quán tưởng như sau:  “Bằng việc nhìn thế giới từ cái tôi nhỏ bé hữu hạn cùng các mục đích và các thèm muốn phù du. Chúng ta chỉ xuyên tạc và làm méo mó thế giới đó, chúng ta biến nó thành nhà tù cách ly mình với chính các cội nguồn của sự sống. Nhưng khoảnh khắc ấy, chúng ta có thể trở thành vô ngã thật sự –  bằng cách làm cho bản thân trống rỗng mọi khuynh hướng vị kỷ, mọi khát khao quyền lực, mọi sở hữu và thèm muốn, đó cũng là thời điểm chúng ta phá vỡ bức vách nhà tù tự tạo của mình và ý thức được sự mênh mông vô biên của hữu thể chân chính của mình”.
Truyền thống Mật tông thừa nhận rằng loài người là một thực thể gồm có tâm lý với thể lý. Ðối với nó, các bản năng của con người đều là những đặc điểm quan trọng mà ta không thể không tính đến, đồng thời chúng cũng là những năng lượng cần được điều hướng – chứ không phải diệt tuyệt, để sử dụng trong quá trình thăng hoa: chúng ta chỗi dậy từ và qua cái chúng ta đã ngã xuống. Lúc đó, nhờ “minh triết” mà chúng ta có thể biến độc dược thành tiên dược.
Giáo pháp Mật tông có sử dụng mật chú được biết dưới tên tantra. Phần đông chúng ta đã quen với Phạn ngữ này: tantra có nghĩa là cái hộ trì, bảo hộ tâm thức để tiến đến giải thoát. Mục đích của Mật tông là đạt đến cái tri kiến của Phật: – tất cả âm thanh đều là chân ngôn (tức là pháp âm Phật), – tất cả hiện tượng đều là Niết bàn, – tất cả chúng sanh đều là Phật.
Tuy nhiên, để hiểu đúng vai trò của thần chú trong sự tu tập, ta phải cần đến khá nhiều luận giải dựa vào kinh điển, Nếu không ta rất dể rơi vào một trong hai cực đoan: Một là sẻ không đủ niềm tin và phủ nhận oai lực của câu thần chú. Hai là tuyệt đối hóa công năng của câu thần chú ấy như là có một phép lạ nhiệm mầu và tự nó có thể làm nên tất cả. Hai cực đoan này đều không đúng đắn, sẽ không mang lại cho ta kết quả tốt đẹp trong sự hành trì.
Việc trì niệm mật chú không dựa trên cơ sở luận biện, vì những ý tưởng và khái niệm trong luận biện dẩn dắt ta đi lạc khỏi nguồn mạch trực giác. Mật chú có khả năng làm hành giả phát triển nội quán, không hướng tâm thức hành giả đến một đối tượng hay một sở trú nào cả. Mật chú trao cho hành giả một cảm nghiệm để tự thân lắng nghe; vận dụng trực cảm, tự thân có thể hòa nhập với nhịp điệu vận hành của vủ trụ. Oai lực của câu thần chú rất vi diệu, nó đã được nêu ra trong các kinh điển và đã được chứng nghiệm qua sự hành trì của nhiều thế hệ hành giả. Để phát huy oai lực đó thì yếu tố đầu tiên cần thiết là phải thực hành đúng phương cách đồng thời luôn hoàn thiện các phẩm tính tốt đẹp trong tâm thức để tiến dần đến khả năng giác ngộ.
Đường vào Mật tông có nhiều bậc, hành giả trước tiên phải trải qua nền tảng tu tập giáo lý của Nguyên thủy lẫn Đại thừa rồi mới tiến vào giai đoạn của Kim Cương thừa. Do đó, pháp hành Mật tông trước tiên là phải có tâm xuất ly, muốn vượt thoát khỏi luân hồi sinh tử (cốt yếu của Nguyên thủy), và phải dõng mảnh phát Bồ Đề tâm (tinh túy của Đại thừa). Vì lòng bi mẫn, hành giả phát Bồ Đề tâm là vì thương xót chúng sinh, không phải chỉ giải thoát cho riêng mình mà cần phải đạt đến quả vị giải thoát để cứu độ chúng sinh. Phải hội đủ những yếu tố đó mới có đủ điều kiện tu tập Kim Cương thừa.
Khi giảng về Bát Nhã, quý sư Tây Tạng thường nhắc rằng đó là giáo pháp thời kỳ thứ hai, khi Đức Phật dạy về “tánh Không”. Truyền thống PG Tây Tạng chia giáo pháp Đức Phật ra ba thời kỳ chuyển pháp luân: – thời kỳ đầu, dạy pháp Tứ Diệu Đế; – thời kỳ thứ hai, dạy pháp tánh Không; – thời kỳ thứ ba, dạy về Phật Tánh. Có thể giải thích ngắn gọn rằng: – thời kỳ đầu, Đức Phật dạy rằng có Khổ để xa lìa; – thời kỳ thứ nhì, Đức Phật dạy về Tánh Không; rằng vốn thật không hề có Khổ Tập Diệt Đạonào cả; và – thời kỳ thứ ba, Đức Phật dạy rằng – tâm chiếu sáng trong tánh Không đó chính thực làPhật Tánh.
Đức Đạt Lai Lạt Ma, trong tác phẩm “Buddha Heart”, có viết rằng “Phật Tánh là ánh sáng trong trẻo nguyên thủy của tâm”, nhưng ngài cảnh giác rằng nó thực sự không có xuất hiện độc lập bởi vì nó có bản tánh là rỗng không. Nghĩa là, nhìn vào tận cội nguồn của tâm, chỉ thấy tánh Không và cũng từ đây hiển xuất Trí tuệ. Như thế, chỉ trong một niệm tâm, hay một tâm vô niệm, hay một niệm vô tâm, hay một cái nhìn trực nhận Tánh Không của tâm, thì cả ba thời chuyển pháp luân sẽ cùng lúc xuất hiện: nơi đó không còn Khổ (thời kỳ thứ nhất), nơi đó là tánh Không (thời kỳ thứ hai), và nơi đó là Phật tánh Trí tuệ lưu xuất (thời kỳ thứ ba).
“Rỗng không” –  là một trạng thái của tâm thức, một cách nhìn kinh nghiệm về các sự kiện vật lý và tinh thần. Chúng ta nhìn vào các sự kiện trong tâm và các cảm giác với không một niệm suy nghĩ nào về có, phải có cái gì nằm bên dưới chúng…
Hãy lấy một thí dụ, rằng ta đang tập thiền, và thấy xuất hiện một cảm giác sân giận, nếu có thể ứng dụng trạng thái rỗng không – bằng cách đừng hành động, hay đừng phản ứng gì với cơn giận, mà chỉ đơn giản nhìn nó như một chuỗi sự kiện, trong nó và của nó – ta có thể thấy rằng cơn giận đó thì trống rỗng, không  chứa bất cứ thứ gì đáng đặt căn cước cho nó, hay đáng để lưu chuyển. Khi thành thạo việc ứng dụng trạng thái rỗng không liên tục này, ta sẽ thấy rằng sự thật này không chỉ ở nơi cảm giác thô như cơn giận, mà cũng cho cả các sự kiện vi tế nhất trong cõi kinh  nghiệm của mình. Đó là cảm giác trong đó vạn pháp đều rỗng không. Như thế, chỉ trong một niệm tâm, chúng ta thấy cả ba thời giáo pháp của Đức Phật cùng xuất hiện: nơi đó – khổ biến mất ; nơi đó – tánh Không của tâm hiển lộ; và cũng nơi đó – cái thấy trong trẻo của Trí Tuệ hiển xuất.
Do vậy, nếu trọn ngày luôn giữ tâm như thế, chúng ta sẽ không còn thắc mắc về những cách phân chia phức tạp của các thời kỳ chuyển pháp luân. Và rồi, khi nghe lời giảng từ các vị sư – dù ở các truyền thống Bắc Tông, Nam Tông hay Kim Cang Thừa… Chúng ta cũng có thể đưa cách tu học trở về “một niệm tâm” như thế, vừa đơn giản, vừa thực tiễn và vừa xa lìa được mọi đau khổ.
Thật ra, ý nghĩa pháp hành Mật Tông thâm sâu hơn những gì ta thường nghĩ, vì nó khẳng định đượckhả năng tiến hóa của tâm thức trong công phu hành trì. Nó có khả năng làm cầu nối mang đếnPháp vị, có thể ta sẻ trãi nghiệm được điều này qua từng thời khóa tu tập.
Thần chú – là mật ngữ của chư Phật, là bản tâm chư Phật-Bồ tát, lưu xuất từ trong Đại định tam muội, đúc kết tất cả tinh hoa vi diệu trong vủ trụ. Thần chú còn gọi là mantra – có nghĩa là Bảo hộ tâm thức thoát khỏi mọi uế trược, phiền  nảo, do đó có thể nôm na là ban vui và cứu khổ. Vận dụng mật chú tức là vận dụng những xung lực thiên nhiên một cách tự nhiên, có những người thích hét khi sung sướng hay giận dữ, gào lên để giải tỏa cảm xúc hay áp lực, thầm hát lên khi hạnh phúc thảnh thơi. Một vài người ậm ừ trong miệng một cách vô thức, khi vừa đi hay vừa làm việc. Những mật chú vận dụng những công năng tự nhiên đó là một cách có ý thức để tập trung tâm ý và sức tỉnh giác như mong muốn.
Có một số âm thanh căn bản trong cảnh giới con người, những âm thanh cho ta biết được sự việc gì đang xãy ra, những âm thanh thốt lên khi mới lọt lòng là ngôn ngữ và phương thức thông tin căn bản. Cùng ý nghĩa đó, mantra là những âm thanh hướng chúng ta đến thực tại, lôi kéo sự chú tâm và đưa chúng ta hòa nhập với nhịp điệu vận hành của vủ trụ.
Đạo lý của mantra dạy rằng vủ trụ là một công năng hoạt dụng của “Pháp giới – Phật  tánh”. Hoạt dụng theo những lời mà Chư Phật dạy về yếu tính bản nhiên. Chử nghĩa và âm thanh không hề có cách biệt với yếu tính bản nguyên của thực tại – đồng nhất với thực tại. Tụng niệm những âm thanh và những chuổi âm thanh phù hợp của mantra có nghĩa là chúng ta kích khởi những nghĩa lý và những thể nghiệm cần được kích khởi.
Mổi một phân tử, mổi một vi hạt, mổi một sự vật là một đơn vị, đều có dao động riêng, tần số riêng. Nếu sử dụng đúng pháp những câu mantra chúng sẽ có sức mạnh tiềm tàng vô cùng to lớn. “Những câu mật chú có tác dụng kỳ diệu không phải vì tính chất thần bí của tự thân, mà vì sức cảm nghiệm của tâm thức. Mật chú tự thân nó không có thần lực; mà chỉ là công cụ để gom kết những thần lực sẳn có. Giống như một thấu kính hội tụ, tự bản thân không chứa đựng một sức nóng nào cả, thế mà nó có thể gom kết những tia nắng mặt trời và chuyển hóa những tia nắng đang dàn trải lan man đó thành một điểm nóng cháy bỏng”. Việc tụng niệm mật chú không dựa trên cơ sở luận biện vì những ý tưởng và khái niệm lý tính trong luận biện sẽ dẩn dắt người ta đi lạc khỏi nguồn mạch trực giác. Mật chú làm cho hành giả phát triển nội quán. Mật chú không hướng tâm thức hành giả đến một đối tượng hay một sở trú nào mà chỉ khai mở một khung cửa, cho thấy một hình tượng, hình tượng này giống như một hình ảnh phản chiếu từ tấm gương soi, hình ảnh của yếu tính vủ trụ. Mật chú trao cho hành giả một cảm nghiệm để tự thân lắng nghe; vận dụng trực cảm, tự thân hành giả có thể trực tiếp nghe được âm thanh của vủ trụ.
Hành giả thường xuyên trì niệm mantra sẽ làm nội tâm đươc trong sạch và hướng về chánh giác. Hành giả làm cho đầy tâm thức của mình với âm thanh tụng niệm và nhờ vậy mà những loạn động không còn lối để xâm nhập. Theo nguyên lý Phật giáo, sự tập trung sức chú ý sẽ dẩn dắt tâm thức của mình hướng đến những cảnh giới cao hơn.
Âm thanh và yếu nghĩa mật chú là đồng nhất với âm thanh và yếu nghĩa “tâm”, tâm này chính là thực tại. Vì vậy quán chiếu mật chú cũng quan trọng, là một bộ phận của công phu tụng niệm, vì năng lực của mật chú còn nằm trong việc hành giả vận dụng hình tượng của nó. Mật chú không phải chỉ là một cơ chế để tập trung tâm thức hay chỉ là một dạng âm thanh để hành giả nghe mà thôi. Âm thanh và hình tượng của âm thanh không phải là hai sự vật cách biệt – cảnh giới của mật chú là nhất thể. Mổi âm tiết ứng với vị Bồ tát tương ưng, khi nó kích hoạt một luân xa hay tụ điểm năng lượng tâm linh liên quan, lúc ấy sức tỉnh giác được tập trung trong một chan hòa nhất thể. Khi có thể tập trung tâm ý vào một âm tiết, xem đó là đối tượng của thiền quán, theo nguyên lý mặt chú và âm thanh phát ra là đồng nhất với ý nghĩa cần biểu đạt vì vậy mà việc sử dụng thiền mật chú là một sự phát triển tự nhiên của tư tưởng Phật giáo.
Người Mật tông coi thần chú như là một phương tiện tu tập sử dụng song hành cùng với phương pháp thiền quán. Công năng của thần chú thường được mô tả rất nhiều, nhưng tựu trung căn bản chính là được :
- Kính ái: người thọ trì sẽ được Trời, người, quỉ thần kính trọng.
- Tăng ích: được gia tăng những lợi ích như sức khỏe, tuổi thọ, thành đạt…
- Tiêu tai: mọi tai ách sẻ dần tiêu trừ.
- Hàng phục: trừ tà diệt  ma, tức những thế lực xấu ác đang gây tổn hại cho con người.
- Câu triệu: tập trung được những năng lực tinh tế của vủ trụ từ các cảnh giới cao diệu.
Đây là năm lợi ích của pháp hữu vi, còn những lợi ích cao siêu hơn của pháp vô vi thật là không thể nghĩ bàn. Trong Pháp hội Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy các Bồ tát cũng cần trì chú. Từ đó ta có thể thấy thần chú ấy lợi lạc khắp mọi loại chúng sinh hữu tình trong đó  có con người chúng ta “ Giả sử có chúng sinh trong tâm còn tán loạn, nhưng nếu trì niệm thần chú này cũng vẩn thường được (84.ooo) hằng hà sa Kim Cang thần ngày đêm theo hộ trì gìn giử. Các quỉ thần ác phải xa lánh vị thiện nhơn này ngoài 10 do tuần, chúng ma muốn rình rập, quấy nhiểu vẩn không thể được”.
Năng lực của thần chú biểu hiện ở khẩu lực của hành giả, phong mạo cũng sẽ dần chuyển đổi một cách tự nhiên, đặc biệt “tâm từ” sẽ từng ngày càng thêm phát huy theo công phu hành trì. Khi quán tưởng linh ảnh Bổn Tôn bằng cách hưng vận tâm thức đồng thời cùng lúc trì niệm câu thần chú. Ở đây không có nghĩa là sự tưởng tượng đơn thuần mà cần phải ghi nhận rỏ ràng như lúc ta đang chú tâm vào linh tượng Bổn Tôn. Tâm thức khi ấy sẽ có tiềm năng mạnh mẽ khiến cho chủ thể nhận thức được hiện hữu ngay trong thực tại. Pháp quán tưởng này làm gia tăng oai lực của câu thần chú vì khi hình dung chính mình là vị Phật, Bồ tát bổn tôn được dựa trên nền tảng có thật và sự tương đồng về các phẩm tính tốt đẹp giửa tự thân  hành giả với vị bổn tôn được quán tưởng. Khi quán tưởng như thế, không phải là hình thức tự dối mình mà là thật sự cố nhận thức, cố làm hiển lộ những phẩm tính tốt đẹp ấy, vốn luôn sẳn có trong ta, luôn tinh tấn công phu hành trì để qua đó hành giả nhận ra sự tương đồng giửa vị Bổn tôn với chính mình, bỡi đối tượng trì niệm thần chú khi ấy không còn là phàm phu nữa, mà thông qua sức quán tưởng ấy đã trở thành tương đồng với Phật, Bồ tát Bổn tôn.
Nói chung việc trì niệm thần chú trong bối cảnh quán tưởng Bổn tôn – thiền quán Bổn tôn, sẻ phát huy tối đa công năng của thần chú ấy. Bởi lẽ lúc bấy giờ chúng ta bước vào kinh nghiệm của một niềm kiêu hảnh thiêng liêng là hóa thân của một vị Phật, Bồ tát. Tâm thức khi ấy vượt thoát được mọi giới hạn thông thường, được nâng lên một tầm cao hơn. Tướng trạng thần chú khi ấy sẻ phát huy âm ba quang minh vi tế hơn giúp hành giả trầm mình trong sóng lực tâm linh kỳ diệu, từ đó có thể tương thông với bản nguyện bi mẫn vô song của vị Bổn tôn.
Mặt khác khi hành trì thần chú, hành giả luôn được các loài Qủi Thần hết lòng ủng hộ, không để những tai ương xâm hại đến chổ ở, huống chi đến tận cửa nhà. Như trong kinh Địa Tạng Bồ tát bổn nguyện Phẩm thứ 12 Đức Phật có xác quyết như thế. Nhờ vào nguyện lực của chư Bồ tát mà những mật chú mang nhiều lợi ích cho chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, từ việc được nghe thấy cho đến trì niệm, quán tưởng đều được nhiều lợi lạc. Tuy nhiên, do trình độ, căn cơ có khác nên sự phát huy nội lực ấy thành ra có khác.
Cũng như mọi hoạt động tâm linh khác, phương pháp hành trì mật ngữ nên đi từ dễ đến khó. Điều quan trọng luôn đòi hỏi hành giả có sự chuyên chú, nhất tâm sẽ triển khai được thần lực của câu thần chú. Tất cả hoạt động của thân, ngữ, tâm luôn thực hành đều đặn thường xuyên gọi là “trì chú”. Và chúng ta phải đi từng cấp một là: thần chú thông dụng, đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.
1- Thần chú thông dụng – là đọc tụng trì niệm bằng thân khẩu ý. Khẩu là đọc tụng, ý là niệm thầm trong tâm trí.
2- Đại thần chú – trì tụng như trên nhưng có bổ sung thêm thủ ấn.
3- Đại minh chú -  như cách thứ hai nhưng khi trì chú hành giả dùng thêm niệm kim cương vào ra theo hơi thở.
4- Vô thượng chú – như cách thứ ba, nhưng cần thêm một bước nữa là quán tưởng hình ảnh bổn tôn trên đầu hoặc trước mặt.
5- Vô đẳng đẳng chú – như cách thứ ba, nhưng ở đây hành giả quán tưởng chính mình là vị Bổn tôn.
Khi công phu hành trì dần đi đến cấp cao, hành giả dần thâm nhập vào trí tuệ . Cho nên, dù Mật hay Hiển giáo, về mặt văn ngữ, danh tự có khác nhưng người hành giả vẩn luôn hướng được đến quả vị giác ngộ, giải thoát.
Trong hành trì, Mật tông có đưa ra ba phương tiện tối thượng:
Thứ nhất là chuẩn bị tâm qua việc phát tâm Bồ đề.
Thứ hai là thực hành trì niệm không xao lãng.
- Thứ ba là khi kết thúc mổi thời khóa hành trì đều hồi hướng công đức vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Trong tác phẩm “Diệu pháp đạt Giác ngộ” Đạo sư Dilgo Khyentse nhấn mạnh: “Ba phương tiện này phải được ứng dụng cho bất cứ pháp thực hành nào, dù chỉ là trong giai đoạn phát sinh hay thành tựu của Mật giáo, hoặc đối với pháp hành Đại thủ ấn, Đại toàn thiện, Trung đạo. Thiếu một trong ba phương tiện này thì khó có thể đạt được kết quả tốt”.
Bon Su2

ĐƯỜNG LỐI CỦA KIM CƯƠNG THỪA

Kim cương thừa là sự tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, tâm để trở thành thân, khẩu, tâm của một vị Phật. Khi ba sự tịnh hóa ấy thành tựu, gọi là ba nghiệp tương ưng, tức là ba nghiệp tương ưng trọn vẹn với Phật tánh. Thân trở thành Hóa thân, khẩu trở thành Báo thân và tâm trở thành Pháp thân của Phật.” Mật tông có 4 đặc tính: – thứ nhất là pháp tịnh hóa triệt để môi trường chung quanh;- thứ hai là pháp tịnh hóa triệt để thân xác; –           thứ ba là tịnh hóa triệt để mọi cảm thọ; – thứ tư là pháp tịnh hóa triệt để mọi hành vi. Bất cứ giáo lý nào chứa đựng bốn sự tịnh hóa ấy đều là Mật thừa” (Geshe Kelsang Gyatso).
Thần chú (mantra): là những âm thanh, những tần số mà vũ trụ này tạo thành bằng những tần số rung động. Năng lượng là những rung động ở tần số rất cao. Vật chất là những rung động ở tần số cấp thấp. Khi khoa học nói: vật chất là năng lượng cô đặc, có nghĩa là tùy theo mức độ rung động mà có những thế giới từ thô đến tế. Vì thần chú là những rung động, nên nó có thể làm cho chúng tatương ưng với những rung động vi tế, những năng lượng vi tế, những thế giới vi tế. Thần chú là những âm thanh do chư Phật, Bồ tát nói ra khi đang ở trong tam muội, trong cảnh giới tự chứng, trong tâm giác ngộ của các Ngài; nên khi trì chú, chúng ta cũng có thể tương ưng với tam muội ấy, cảnh giới ấy, tâm ấy của chư vị. Thần chú là cây cầu âm thanh bắc từ tâm thức thấp trược của chúng ta đến tâm cao sáng của chư vị giải thoát. Ngôn ngữ lại có tính cách thông tin, truyền đạt, khai mở, duy trì; thần chú cũng có tính cách thông tin, truyền đạt, khai mở, duy trì tâm giác ngộ như thế. Một ví dụ là muốn khai mở tình thương ở nơi ta bằng cách tiếp thông với tâm từ bi của Quán Thế Âm Bồ tát, chúng ta có thể trì chú Lục tự đại minh hoặc Đại bi của Ngài.
Ấn (mudra): Kim cương thừa quan niệm thân tâm ta là một tiểu vũ trụ tương ưng với đại vũ trụ bên ngoài. Như kinh nói: “Trong thân thể này có sự sinh thành thế giới, sự duy trì thế giới và sự hoại diệt của thế giới”, sự tương quan mật thiết của thân tâm ta và thế giới là như vậy. Ấn là những cách thế, xếp đặt thân thể (nhất là 5 ngón tay tượng trưng cho 5 đại) để có được một sự điều hòa đem lại một trạng thái tâm thức nào đó.
Các hóa thần ôm ấp nhau thường thấy ở các hình ảnh Kim cương thừa cũng là một loại ấn (karma mudra). Ở đây chẳng có gì là dục tính. Sự ôm ấp âm dương ấy là sự kết hợp của “phương tiện – dương” và “trí tuệ –  âm”, sự kết hợp của “Đại lạc – dương” và “tánh Không –âm”. Sự kết hợp khách quan ấy còn phản ánh vào trong chính thân tâm của con người: khi quán tưởng các hình ảnh kết hợp âm dương ấy, những năng lực âm dương, bên tả và bên hữu trong thân thể sẽ kết hợp lại với nhau, tạo thành một sự bùng nổ năng lực rất cao.
Mạn đà la (mandala): là một hình vẽ biểu thị vũ trụ, vũ trụ trong cái nhìn của một bậc giác ngộ. Theo Duy thức, vũ trụ chính là sự biến hiện của tâm ta, cho nên mạn đà la vừa biểu thị vũ trụ, vừa biểu thị tâm. Quán tưởng mạn đà la là quán tưởng vũ trụ, đồng thời quán tưởng tâm mình. Sự quán tưởng đó dựa trên tánh Không, nên vũ trụ vốn Không mà tâm ta cũng vốn không.
Ở đây, chúng ta thấy Thiền tông cũng diễn tả về tâm và vũ trụ tương tự như vậy; tâm mở ra thì đầy khắp pháp giới, quy về thì nhỏ thành một điểm không thể thấy. Quán tưởng mạn đà la cũng bắt đầu từ một điểm trung tâm; từ đó nới rộng ra đến ngoại biên. Quán tưởng Kim cương thừa thường bắt đầu từ một chủng tử (bija) ở trung tâm lực trái tim, phóng ánh sáng đến tất cả chúng sanh và chư Phật trong mười phương thế giới, rồi ánh sáng và thế giới đó lại thu về trong chủng tử tự; sau cùng, cả chủng tử tự này cũng tan biến vào tánh Không bổn nhiên.
Theo lý thuyết, Mạn đà la là hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ trong bản chất giác ngộ của nó, nên năng lực của vũ trụ trong bản chất giác ngộ đó cũng biểu hiện nơi mạn đà la. Cũng như một tượng Phật, tuy không phải là chính Đức Phật, nhưng nó cũng mang một năng lực nào đó của giác ngộ. Bởi thế, trong những lễ quán đảnh, đệ tử nhập môn được đưa vào chiêm ngưỡng mạn đà la, để tiếp xúc với năng lực giác ngộ. Mạn đà la “Kalachakra” được đặt vĩnh viễn ở Bảo tàng New York, theo cảm tưởng của khách đến tham quan, cho một cảm giác an bình kỳ lạ.
Hóa thần (yidam): là nói theo lối nói bình dân, thật ra hóa thần là hóa thân của một vị Phật trong Kim cương thừa. Ví dụ Đức Quán Thế Âm có nhiều hóa thân: Tara, Quán Âm 11 mặt… Kinh nói đến 32 tướng thân (Hóa thân) của Quán Thế Âm. Như thế, khi quán tưởng hóa thần tức là quán tưởng Hóa thân của một vị Phật. Cũng như nhìn thấy hình tướng của người nào, ta cảm thông với tâm người đó; nghe tiếng nói ai đó bên kia vách, ta cảm nhận được phần nào tâm người đó; khi quán tưởng hóa thần, chúng ta cũng tương ưng với tâm giải thoát của chư Phật. Khi trì thần chú, tức âm thanh của vị ấy, ta tiến gần đến “khẩu”, “ngữ” của bậc giải thoát ấy. Những hóa thần có loại hiền lành, có loại dữ tợn để đối trị với tâm bệnh của hành giả.
Qua vài điểm trên chúng ta thấy Kim cương thừa là một khía cạnh của sự thực hành của Đại thừa với nhiều phương tiện, nhưng mục đích cũng là đạt đến thực tại rốt ráo như Đại thừa. Có điều Kim cương thừa nhấn mạnh đến năng lực, như khi Thiền tông biểu thị thực tại rốt ráo – tức là tánh Không – thì vẽ một vòng tròn trong suốt, rổng không. Kim cương thừa cũng đồng ý với vòng tròn đó, nhưng với Kim cương thừa thì vòng tròn trống Không ấy chứa đầy năng lực. Chú ý đến phương diện năng lực của thực tại là một điểm rất đặc thù của Kim cương thừa. Vũ trụ là năng lực, như thế giới Hoa Nghiêm là sự giao thoa trùng trùng của ánh sáng và năng lực, như năng lực vũ trụ được gọi là Phật lực trong phẩm “Như Lai thần lực” của kinh Pháp Hoa. Bởi thế, những phương tiện thiện xảo của Kim cương thừa phần nhiều chú trọng đến năng lực, nhưng trong một hình thức cụ thể, do đó dễ thực hành và có nhiều hiệu quả.
a-and-5-rainbow
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA KIM CƯƠNG THỪA.
Trong lời giới thiệu cuốn The practice of Kalachakra, Đức Đạt lai Lạt ma viết: “Tu hành tantra mạnh mẽ hơn sự tu hành tổng quát của kinh điển, vì một số lý do. Một trong số đó là tantra bao gồm cả hai yếu tố phương tiện và trí tuệ. Trong con đường Kinh thừa, người ta thiền định về tánh Không, hay là tính cách và tự tánh của các hiện tượng trong ước nguyện đạt đến giác ngộ vì động lực đại bi. Thiền định về tánh Không là yếu tố trí tuệ, còn nguyện vọng Bồ tát là phương tiện. Tuy nhiên, trong con đường Kinh thừa này, hai yếu tố ấy không thể thực hiện đồng thời trong một tâm niệm bởi một hành giả ở mức độ bình thường. Trong con đường Mật thừa (Tantra), người ta có thể quán tưởng mạn đà la và các hóa thần bổn tôn, và rồi tập trung vào tánh Không của chúng. Theo con đường này, phương tiện  trí tuệ sanh khởi đồng thời trong một tâm. Thiền định được tiến hành với trí tuệ soi thấu tánh Không, và chính cái tâm thức tập trung vào tánh Không này được phát sinh trong hình tướng của các hóa thần Thủ hộ của mạn đà la”.
Kim cương thừa sử dụng tất cả những gì mà con người có thể có được trong thân tâm mình để tiến bộ trên đường giải thoát. Bởi thế, có một câu nói nổi tiếng rằng: “Con người đã ngã té trên đất, hắn phải nhờ chính mặt đất để đứng dậy”. Sự nhấn mạnh vào phương tiện, phương pháp, kỹ thuật là một đặc điểm của Kim cương thừa. Những phương tiện đó với người không theo Kim cương thừa đôi khi có vẻ kỳ lạ, ví như quán tưởng mình là một vị hóa thần và thế giới chung quanh là một mạn đà la của hóa thần ấy. Thật ra, sự quán tưởng ấy có tác dụng rất mạnh để phá chấp ngã và chấp pháp – “không có ngã, pháp là cốt tủy của Đại thừa”. Trong khi quán tưởng tự thân là hóa thần, ta có được sự kiêu hãnh kim cương, cái ngã sẽ tan biến vào chính tánh Không của hóa thần; và khi thấy thế giới bên ngoài là một mạn đà la, sự phân biệt ta – người, xấu – tốt, dơ – sạch, tăng – giảm… sẽ biến mất. Đây là sự phá hủy các hình tướng thế tục, sự xuất hiện của thế gian do vọng tưởng kết thành – là những thứ mà kinh Kim Cương gọi là “phi tướng” trong câu kinh: “Kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. Và vì là quán tưởng cho nên cả hóa-thần ta và mạn-đà-la thế-giới đều là tánh Không, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển… Dĩ nhiên, đây chỉ là một công dụng của việc quán tưởng hóa thần và mạn đà la, còn nhiều công dụng không thể nói hết đối với con đường Phật pháp. Và vì thế cho nên Kim cương thừa còn được gọi là Mật giáo.
Một phương tiện khác là nguyên lý “tâm – khí bất nhị”. Theo quan niệm này, một loại tâm bao giờ cũng cưỡi trên một loại khí nào đó. Tâm sân thì cưỡi trên khí sân. Khí là thân vi tế của tâm. Không có khí, tâm sẽ không có hình tướng, sẽ không hiện hành. Khi trong ta không có khí sân, tâm sân sẽ không có chỗ hiện hữu; dầu có muốn tưởng đến sân, nó cũng không có chổ hiện hành. Bởi thế, khác với các Tông khác nhằm tịnh hóa tâm thức, Kim cương thừa còn nhằm đến sự tịnh hóa cái khí (winds). Một trong những công dụng của thần chú là: vì thần chú là một rung động đặc biệt và vi tế, nên nó là một phương tiện để tịnh hóa cái khí này, tịnh hóa khí cũng là tịnh hóa nghiệp, vì chủng tử nghiệp có “nhà ở” trong khí. Khí được tịnh hóa thì tâm cũng được tịnh hóa. Khí được tịnh hóa cùng cực thì tâm giải thoát. Khí ấy là thân thể vi tế của chúng ta. Khí cùng với những hạt vi tế trong thân và hệ thống kinh mạch tạo thành thân thể vi tế (như có thân của giấc mộng, thân sau khi chết – thân trung ấm…). Thân vi tế này được tịnh hóa thì gọi là thân kim cương. Ở những chỗ kinh mạch đan nhau, thắt gút với nhau trên đường kinh mạch trung ương, gọi là các trung tâm lực hay luân xa (chakra). Cũng chính trong khí này và trong những luân xa mà nghiệp trú ngụ, gọi là khí nghiệp. Tịnh hóa thân trong Kim cương thừa chính là tịnh hóa khí nghiệp này để xóa tan những ngăn che với ánh sáng của tánh giác.
Theo quan niệm của Mật tông, Kinh thừa gọi là thừa Nhân và Kim cương thừa là thừa Quả. Gọi Đại thừa hiển giáo là thừa Nhân, vì sự tu hành của nó y cứ trên những nhân là sáu Ba la mật, hai thứ tích tập phước đức và trí tuệ… trải qua nhiều đời để thành tựu quả là Phật. Còn Mật tông là thừa Quả, nghĩa là đặt nền tảng tu hành trên chính cái quả là Phật tánh vốn có nơi mỗi hành giả ngay tự bước khởi đầu. Thay vì “con người là một vị Phật sẽ thành, thì ở đây người ấy vốn có Phật tánh, vốn tự là Phật”; sự tu hành, tiến bộ chỉ là sự hiển lộ của Phật tánh sẵn có thôi. Sống ở trên Quả có nghĩa là một hành giả Mật tông phải thấy thế giới này như thế giới của một vị Phật đã chứng, một Tịnh độ của Phật, phải thấy mình là một Hóa thân Phật, ăn uống, ngủ nghỉ đều là sự sinh hoạt của một vị Phật trong cảnh giới tự chứng của mình. Nói theo ngài Tangtong Gyalso (thế kỷ 14) khi dạy về pháp Quán Thế Âm: “Hành giả quán thấy toàn thể ngoại cảnh đều được quang minh chiếu soi. Tất cả những sự vật bình thường đều trở thành những vật phẩm trang nghiêm của cõi Tịnh độ Cực lạc, tất cả chúng sanh đều thành tựu viên mãn, thân họ là thân Quán Thế Âm, bất cứ họ nói gì đều là Lục tự chân ngôn, bất cứ họ nghĩ gì đều là hoạt dụng tự phát của tâm giác ngộ. Hiển nhiên, bản thân hành giả cũng được chuyển hóa như vậy. Nói một cách dễ hiểu hơn, tất cả những hiện tượng trong vũ trụ đều chuyển hóa thành những hình thái mà lẽ ra chỉ có thể có được nơi cảnh giới của một vị Phật giác ngộ“.
Một đặc điểm nữa của Mật tông là biến tất cả mọi sinh hoạt trong đời sống thành sự tu hành, thành con đường giác ngộ; lợi dụng tất cả cơ hội của đời sống để đạt đến Phật tánh; đưa những trạng thái của đời sống vào sự hiện thực Pháp thân, Báo thân, Hóa thân như vậy: – hội nhập với Pháp thân, Báo thân, Hóa thân trong trạng thái thức; – hòa nhập với Pháp thân, Báo thân, Hóa thân trong trạng thái ngủ; – hòa nhập với Pháp thân, Báo thân, Hóa thân trong trạng thái chết (Geshe Kelsang Gyalso). Cuộc sống sau lúc ngồi thiền cũng là một sự tu hành. Đại sư Tsongkapa nói: “Khi đã thấy Lạc vàtánh Không trong thiền định, thì trong đời sống sau thiền định, hành giả phải thấy sắc, thanh, hương, vị.vv… là sự kết hợp giữa Lạc và Không. Do đó, suốt đời sống, hàng ngày là một trạng thái định liên tục.
Một đặc điểm của Mật thừa là sự tích tập phước đức sẽ nhanh hơn so với Kinh thừa thông thường. Như chúng ta đã biết, Phật là bậc Lưỡng Túc Tôn, hai thứ tích lũy trí tuệ  phước đức đã trọn vẹn. Quá trình tích lũy phước đức đã đầy đủ rồi, thì có được Sắc thân Phật với 32 tướng chánh và những tướng phụ. Đây là một quá trình mà theo Kinh thừa phải tu tập lâu dài nhiều kiếp. Với Mật thừa, sự tích lũy phước đức này có thể rút ngắn lại trong một đời bằng sự quán tưởng hóa thần (và những quán tưởng khác). Sự thiền định này tạo ra một tương tự về sắc thân, nơi cư trú, tài nguyên và hoạt động của một vị Phật.
Một đặc điểm khác nữa của Mật thừa là việc chuyển hóa các phiền não tiêu cực (tham, sân, si…) thành Bồ đề. Đây cũng là một chủ đề của Kinh thừa, nhưng ở Kinh thừa có tính cách lý thuyết hơn, như nói: Phiền não tức Bồ đề, tánh của tham sân si là Bồ đề…
Sau cùng, trong Mật thừa cũng có những phương pháp chỉ dạy trực tiếp như Thiền tông với “Bất lập văn tự, ngoại giáo biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật“. Đó là Đại Ấn (Mahamudra) của phái Kargyu và Đại Toàn Thiện (Maha-Ati) của phái Nyingma. Đại Ấn chính là tánh Không. Trong kinh Định Vương (King of Concentration Sutra), Đức Phật nói: “Tánh của tất cả các pháp là Đại Ấn”. Dùng “ấn tánh Không” này ấn tất cả các pháp, kể cả tâm thức và tư tưởng, đưa tất cả trở về tánh Không để giải thoát”. Còn Đại Toàn Thiện có nghĩa là Phật tánh vốn sẵn đủ, vốn tự toàn thiện ở mỗi chúng ta, không cần chỉnh trị, sửa sang thêm bớt, không phải tu tập, chỉ cần thấy nó (kiến), tham thiền về nó (thiền định) và sống với nó (hạnh). Chúng ta thấy lời dạy của Padmasambhava cho đệ tử không khác gì “tức tâm tức Phật” của Mã Tổ:
Hãy nghe đây, Dorje Dudjom họ Nanam!
Cái có tên là “tâm sáng tỏ của giác ngộ”
Là vốn sẵn bên trong, bổn nhiên tự hữu và không có trung tâm, cũng chẳng có chu vi
Chớ sửa chữa, chỉnh trị nó, mà ở trong trạng thái tự thông tỏ và trống sáng tự nhiên
Không thay đổi, không làm biến chất, mà an trụ giải thoát trong tánh bổn nhiên!
Ở yên như thế, tâm con người thoát khỏi động niệm
Chính tâm ấy là Phật!...”
Qua vài điểm đại cương ở trên, chúng ta có thể có một cái nhìn khái quát về Mật tông và cũng hiểu phần nào tại sao hiện nay Kim cương thừa là tông phái có ảnh hưởng lớn trong việc thâm nhập của Phật giáo vào Tây phương. Kim cương thừa cũng là một tông phái ít bị thay đổi so với Phật giáo Ấn Độ, cho nên còn mang những tinh túy của Phật giáo Ấn Độ.
nagaraja
 TÍNH TRONG SÁNG CĂN ĐỂ CỦA TỰ TÂM
Theo Phật giáo, trong thực tại dù ta có thể mê lầm rối ren đến mức nào đi nữa, bản chất căn để, – tinh túy của con người chúng ta vẫn luôn trong sạch thuần tịnh. Cũng như mây có thể tạm che khuất mặt trời song không thể phá hủy cái khả năng chiếu sáng của mặt trời, tương tự như thế, những phiền nảo của thân tâm trong giai đoạn: – như tâm trạng lo âu bối rối và nỗi khổ mà nó gây ra – chỉ có thể tạm che mờ chứ không thể phá hủy hay ảnh hưởng gì được đến bản chất thanh tịnh căn để của tâm ta. Tự thẳm sâu tâm ta cũng như tất cả hữu tình, đều đang an trú suối nguồn bất tận của thương yêu và hiểu biết. Mục đích cuối cùng của mọi pháp tu dù thuộc tông phái nào, đều cốt làm hiển lộ cái tự bản chất ấy, tiếp xúc với cái bản lai thanh tịnh ấy. Khi đã phát triển tính trong sáng nơi chính mình – đức bi mẫn và tình yêu bên trong mình, ta có thể thấy sự trong sáng ấy, đức từ bi ấy phản chiếu nơi mọi người. Nhưng khi chưa tiếp xúc được với những đức tính ấy nơi mình, ta sẽ thấy mọi người đều xấu xa, hạn cuộc. “Vì bất cứ gì ta thấy bên ngoài chỉ là cái bóng của thực tại từ trong tâm ta chiếu ra”.
Sự có mặt của bản tâm thuần tịnh không phải là vấn đề mà ta cứ nhắm mắt tin theo hay chấp nhận như một giáo điều, Đây là một sự thật mà ta có thể trực nghiệm, vô số người trong quá khứ đã khám phá kho tàng lớn lao ấy nơi tự tâm, kho tàng của sự bình an, của tình yêu và tuệ giác. Có nhiều bậc thầy vĩ đại đã cho biết ta có thể khám phá bản chất sâu xa của chính mình để được niềm phúc lạc vô biên mà sự khám phá ấy đương nhiên mang lại. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc Đạo sư đầy từ mẫn như thế, và tất cả giáo lý cùng phương pháp của Ngài dạy, là cốt giúp ta đạt đến cáitiềm năng tối cao ấy của con người chính mình.
Theo thuật ngữ Phật giáo, mục đích tối hậu của tiến hóa nhân loại là giác ngộ, thành bậc chánh giác. Điều này thể hiện được khi tất cả mê muội, tham sân si và những gì che mờ tâm thức được tận trừ, tất cả thiện tính trong ta hoàn toàn được khai triển. Sự thành tựu viên mãn ấy, sự tỉnh thức trọn vẹn ấy mang đặc tính là tuệ giác vô biên, lòng bi mẫn vô hạn và năng lực hay phương tiện vô cùng.
Mhientongvamattong
 PHƯƠNG PHÁP MẬT TÔNG
Theo Kinh thừa, con đường thành tựu tuệ giác là một tiến trình tự thanh lọc tâm thức khỏi những lỗi lầm và giới hạn, để thay vào đấy, phát huy những đức tính như trí tuệ, từ bi. Con đường này bao gồm việc tạo những nhân tố đặc biệt như giữ giới, phát triển khả năng tập trung và đào luyện sự hiểu biết sáng tỏ.vv… nhằm đạt đến sự tỉnh thức toàn vẹn. Chính vì nhấn mạnh đến việc tạo nhân tố cho một kết quả tương lai, mà phương pháp Kinh thừa còn gọi là “thừa Nhân” (nhân là nghĩa nguyên nhân) để đưa đến giác ngộ.
So với phương pháp của Kinh thừa, thì Mật thừa là con đường tiến đến giác ngộ nhanh hơn. Mặc dù hành giả Mật thừa cũng không xao lãng việc gieo nhân như hành giả Kinh thừa, song họ còn lấy Quả tương lai của sự tu hành làm khởi điểm tu tập. Nói cách khác, hành giả Mật tông tu tập nghĩ, nói và làm ngay trong hiện tại như thể họ đã là một đức Phật.
Theo Mật tông, sự toàn vẹn không phải đang chờ đợi chúng ta ở một thời điểm nào trong tương lai, theo kiểu suy tư “Nếu bây giờ tôi tu hành nghiêm túc, tương lai tôi sẽ thành Phật” hay “Nếu đời này tôi có đạo đức, đời sau tôi sẽ được lên thiên đàng.” Mật tông cho rằng thiên đàng là ngay bây giờ: chúng ta đáng lý là những vị trời ngay trong hiện tại; song chúng ta lại bị vướng bận bỡi những khái niệm hạn cuộc như đàn ông là thế này, phụ nữ là thế kia, tôi sinh ra đã là thế ấy, không thể khác.vv…. Đấy là lý do ta có những xung đột nội tâm và xung đột với người khác. Mọi xung đột này sẽ tan biến nếu ta luyện tập theo quan điểm Mật tông, nghĩa là nhận chân rằng mỗi một người dù nam hay nữ bản chất đều tự đầy đủ, toàn vẹn. Hơn thế nữa, mỗi người nam nữ đều chứa cả hai năng lực “âm – dương” – thực tế là mỗi người trong chúng ta đều là một hợp thể của tất cả năng lực vũ trụ. Tất cả những gì ta cần để được toàn vẹn đều đã sẵn đủ trong ta ngay giờ phút này, chỉ có điều là ta có khả năng nhận thức được điều ấy hay không.
Bon Su3
 NGUYÊN LÝ CHUYỂN HÓA 
Như khoa học hiện đại chứng minh, vũ trụ vật chất với muôn vàn sắc thái, từ phân tử nhỏ nhất đến tinh vân lớn nhất, chỉ là một trạng thái không ngừng chuyển hóa và tiến hóa từ một dạng năng lượng này đến dạng năng lượng khác. Chính thân thể và tâm trí chúng ta cũng là năng lượng: ta mạnh khỏe hay đau ốm, tâm trí quân bình hay mất quân bình, đều tùy thuộc sự kiện các năng lượng tâm lý, vật lý trong ta có hòa điệu hay không. Nhờ thực hành Mật tông đúng pháp, tất cả năng lượng trong ta, kể cả những năng lượng vi tế luôn rất mãnh liệt mà thường ta không hề ý thức đến, đều được xử dụng để tựu thành sự chuyển hóa quan trọng nhất trong mọi cuộc chuyển hóa, đó là từ một con người phàm tình mê muội, hạn cuộc trong trói buộc của bản ngã trở thành một con người hoàn toàn tỉnh giác với lòng bi mẫn và tri kiến bao la.
Làm sao có được một cuộc chuyển hóa như vậy? Tìm đâu ra những năng lực cần thiết để đem lại một sự thay đổi sâu xa đến thế?. Kỳ thực, cái năng lượng cốt cán để làm cuộc chuyển hóa ấy là năng lượng của chính những dục vọng trong ta.
Theo truyền thuyết, Thái tử Siddarttha đã chấm dứt tuyệt thực và nhận một bát cháo do tín nữ Sujata dâng cúng. Thực phẩm này đã đem lại một hiệu quả thần tình cho cơ thể và tâm trí, khiến Ngài ngập tràn dũng mãnh, sáng suốt và phúc lạc. Sự bừng dậy của năng lực tâm, vật lý không những giúp Ngài thêm cương quyết mà còn gia tăng khả năng đạt đến toàn giác, mục tiêu chính yếu của ngài. Sự kiện ngài ngồi thiền dưới cội Bồ đề và đạt đến toàn giác, chứng tỏ đã đúng lúc Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh. Theo lối nhìn của Mật tông, những sự cố này cho thấy rằng biết xử dụng lạc thú là một phương pháp sâu xa và hiệu quả hơn ép xác khổ hạnh rất nhiều.
Về sau, khi Đức Phật đã nổi tiếng là một bậc Đạo sư có thể hướng dẫn nhiều hạng người đạt đến giác ngộ, có lần một vị Vua đã xin ngài chỉ dạy một phương pháp tu hành thích hợp cho một người bận nhiều phận sự đa đoan. Vua nói: “Con có phận sự chăm lo cho thần dân, con thực không nên bỏ bê quần chúng. Con không thể làm như ngài, từ bỏ mọi sự để vào rừng tu khổ hạnh. Con cần biết cách làm sao có thể dùng ngay sinh hoạt của một vương gia làm đường lối tu hành. Bởi thế, xin đức Thế tôn dạy cho con cách chuyển hóa những hành vi thường nhật của một vị vua thành pháp tu.” Đức Phật trả lời quả thực là có một phương pháp như vậy, đó là pháp thực hành. Với phương pháp này nhà vua có thể tiếp tục thi hành phận sự của mình, mà lại không cần phải từ bỏ một thứ lạc thú vương giả nào. Giáo lý mà Phật dạy cho Vua ấy chính là Mật pháp Bánh xe Thời gian (Kalachakra, Thời luân), và hệ truyền thừa của phái này cùng tất cả giáo lý Mật tông khác cho đến ngày nay vẫn tồn tại đầy đủ năng lực, chưa bao giờ gián đoạn. Có rất nhiều hành giả Ấn độ và Tây tạng đã đạt ngộ nhờ theo những phương pháp này, bởi thế không lý do gì con người ngày nay lại không được lợi lạc nhờ áp dụng pháp tu ấy.
Bon Su1
SỐNG TRÊN NỀN TẢNG PHẬT TÁNH.
Khi thành đạo, Đức Bổn Sư của chúng ta có dạy rằng:  “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh..”. Tuy có mà không nhận thấy được chỉ vì những phiền nảo và sở tri chướng đã ngăn che. Tánh Phật ấy luôn hiện hữu trong năm uẩn và tất cả mọi điều chúng ta thấy hay kinh nghiệm được đều là những biến tướng của tánh ấy, chúng được hiển hiện qua nghiệp, qua từng tâm thức riêng của mổi người.
Chương Như Lai tánh nói: Phật tánh là “giác bảo tạng”- tạng giác quí báu của tất cả mổi chúng sinh,ở các kinh tạng giác này được gọi là tánh giác.
Phật tánh hay tánh giác vốn chẳng sanh chẳng diệt, chẳng tập chẳng tu, vô lượng vô biên, thanh tịnh rốt ráo, không có dấu vết, không lay động, không mùi vị, không thể pha tạp… không có thức, lìa ngoài tâm mà cũng chẵng lìa tâm (Chương Kim Cang thân). Tánh này ở trong năm uẩn như tô lạc ở trong sữa, vàng ròng ở trong quặng.
Trong Kinh Lăng Nghiêm tánh giác này được chỉ ra là tánh thấy, tánh nghe… nghĩa là cội nguồn của các giác quan chúng ta đang sử dụng; các giác quan này là cành ngọn của gốc rể là tánh giác – nơi mổi giác quan đều có sự hiện diện của tánh giác.
Lục tổ Huệ Năng dạy: “Này Đại chúng, sắc thân của người đời là thành; mắt tai mủi lưỡi là cửa,trong có cửa ý. Tâm là đất, tánh là Vua – Vua ở trên đất TâmPhật do hướng vào trong mà thành,chớ hướng ngoài thân mà tìm kiếmTrên đất tự tâm, giác tánh Như lai phóng ánh sáng lớn, ngoài soi chiếu sáu cửa thanh tịnh, phá sạch các cõi Trời lục dục; tự tánh chiếu soi bên trong, ba độc liền trừ, các tội địa ngục nhất thời tiêu diệt. Trong ngoài sáng suốt không khác cõi Tây phương. Nếu không tu như  vậy làm sao đến cõi ấy được”.
Người tu hành cần nhận ra được nơi hình tướng có cái vô tướng, nơi các cửa giác quan có tánh giác, nơi sanh tử có niết bàn. Như ví dụ: sóng là nước, tất cả sóng có bản tánh là nước, nước không thêm, không bớt và không bị nhiểm ô bỡi sóng. Kinh Duy Ma “tánh của sanh tử tức là Niết bàn” nhờ giác quan mà tìm thấy tánh giác, nhờ chân lý tương đối (tục đế) mà chứng ngộ chân lý tuyệt đối (chân đế).
Chúng sinh đều là Phật sẽ thành, khi nào diệt tận phiền nảo thì khi ấy là Bồ đề. Dù vô minh phiền nảo như thế nào nếu được diệt tận thì Phật tánh sẽ hiển lộ. Bản tánh của tâm hay là Phật tánh không hề có bị nhiểm ô, không hề bị tham sân si trói buộc…Này thiện nam tử! Tâm cũng chẵng bị tham kết trói buộc, cũng chẵng không bị trói buộc, chẵng phải giải thoát cũng chẵng phải không giải thoát; cũng chẵng phải có, cũng chẵng phải không, chẵng phải quá khứ, chẵng phải vị lai – vì tất cả pháp đều không có tự tánh” (Chương Quang Minh biến chiếu Bồ tát).
Điều này cho thấy tâm địa là nền tảng của Phật tánh, từ đó phát sinh và lớn lên mọi cây trái của sự tu hành. Trong niềm tin rằng mình luôn sẳn có Phật tánh, đang sống trong Phật tánh (có thể do mình chưa nhận biết được), hành giả thực hành các pháp môn, các hạnh Bồ tát để dần tự khai mở ra với Phật tánh. Các pháp môn, các hạnh đều y cứ nơi tánh ấy, lưu xuất từ Phật tánh tại tâm này.
Thân Như Lai là thân kim cương bất hoại, Bồ tát phải nên như vậy mà khéo tu tập, thấy chánh, biết chánh. Nếu có thể thấy biết rỏ ràng như vậy tức là thấy thân Kim cương của Phật, vốn không thể hư hoại như trong gương thấy rỏ ràng các hình tượng” (Chương Kim Cương thân).
Quan niệm Phật giáo Tây Tạng còn gọi “Kim Cương thừa” là tu theo “thừa quả ”, là dựa trên quả đã có sẵn “nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tánh” mà tu. (Còn thừa nhân là tạo ra những nhân mà sanh có quả là giải thoát, giác ngộ).
Trong Mật tông, hiểu biết về bản tánh thường trụ uyên nguyên trong nội tại và sự toàn thiện của pháp giới được dùng như là nền tảng và được thực hành. Bởi chính kết quả trở thành con đường, nó là “thừa quả”. (Chương Kim Cương thừa).
Thực hành sáu ba la mật mà không y vào Phật tánh là thừa nhân, vì sáu ba la mật này nếu đứng riêng tư chúng là những nhân tạo thành quả Phật. Còn trong thừa quả thì sáu ba la mật này là những hạnh lưu xuất từ Phật tánh.
Dĩ nhiên, ở trên cái gì có sẳn – tất hữu mà tu hành, triển khai thì dể dàng hơn, tin tưởng và an tâm hơn là phải tạo ra những nhân mà chưa biết kết quả như thế nào để thực hành trọn vẹn tiến trình từ nhân đến quả.
Như khi chúng ta ngồi thiền, tụng kinh, trì chú, lễ lạy sám hối mà nghĩ rằng làm những việc này sẽ đạt đến giác ngộ thì sẽ thấy khó khăn, cách trở xa xôi (sự xa cách này cũng chỉ là cái nghĩ tưởng của ta mà thôi). Còn nếu ngồi thiền, tụng kinh, trì chú, lễ lạy…mà tin rằng làm những việc này bằng Phật tánh tất hữu, những việc này đều không ngoài Phật tánh thì ta có cảm nhận nó dễ dàng, hưng phấn và hiệu quả hơn. Nếu như ngồi thiền nhằm tạo ra cái “định” thì đó chỉ là việc tạo ra một khoảng hư không trong bầu trời hư không  vốn tự tịnh, tự định mà thôi. Thiền tông nói trên đầu lai chồng thêm đầu hay trên tuyết lại thêm sương.
Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Này A Nan! Nếu các ông muốn tu Bồ tát thừa để vào tri kiến Phật thì nên xét kỷ cái “nhân địa phát tâm” và cái “quả địa giác ngộ” là đồng nhau hay khác nhau. A Nan! Nếu ở nơi nhân địa mà lấy cái tâm sinh diệt làm gốc, nhân đó mà tu để cầu bất sinh bất diệt của Phật thì không thể có chuyện ấy được.
Tất cả đều do không biết hai loại căn bản; lầm lẩn tu tập cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dù có trãi qua số kiếp nhiều như bụi, rốt cũng chẵng thể được. Thế nào là hai loại căn bản? A Nan! Một là căn bản của sinh tử vô thủy, tức là Ông và các chúng sinh hiện giờ – dùng cái tâm bám víu theo duyên (tâm phan duyên) mà làm tự tánh. Hai là thể Bồ đề Niết Bàn vô thủy xưa nay thanh tịnh, tức là chơn tâm vốn soi sáng của Ông hiện giờ, hay sinh các duyên. Vì các chúng sinh bỏ quên cái vốn tự sáng này nên tuy trọn ngày sử dụng nó mà chẳng biết nên uổng oan lạc vào sáu nẻo”.
Y nơi Phật tánh để phát khởi sự tu hành, ở trong Phật tánh để tùy thuận nơi tánh ấy. Chính trên nhân địa của Như Lai là Phật tánh mà khai mở ra với Phật tánh, đây là cách tu của Đại thừa. Mọi sự tu hành đều không lìa ngoài Phật tánh, luôn phát khởi từ tự tánh có sẳn từ vô  thủy vô chung này. Đức Thế Tôn cũng thuận nghịch nhập các thiền định và phổ cáo đại chúng “Ta dùng thậm thâm Bát Nhã xem khắp ba cõi chúng sinh, ba cõi này bản tánh là lìa, rốt ráo tịch diệt, đồng như hư không, không danh không thức, dứt hẳn các cõi, bổn lai thanh tịnh, không có niệm tưởng cao thấp, không thấy nghe hay biết, không trói buộc, không giải thoát, không chúng sinh, không thọ mạng, không sinh diệt, chẵng phải thế gian, chẵng phãi chẵng thế gian, niết bàn sinh tử đều bất khả đắc, trước sau đều bình đẳng. Vì bình đẳng với các pháp, an cư tịnh trụ không có chổ tạo dựng, an trú rốt ráo quyết định bất khả đắc, từ pháp tánh vô trụ mà ứng hiện, dứt tất cả tướng, trọn không chổ có.
Pháp tánh như vậy, ai biết thì gọi là người xuất thế, chẳng biết thì gọi là đầu mối sinh tử. Đại chúng phải dứt vô minh, diệt đầu mối sinh tử!”.
“Tất cả nhơn và pháp, hữu tình vô tình rốt ráo thảy đều không trói buộc, không giải thoát, không chủ thể, không đối tượng để nương y, không thể nắm giử, chẳng ra vào ba cõi, bổn lai thanh tịnh, không dơ nhiểm, không phiền nảo, đồng như hư không, dứt sạch những động niệm, tư tưởng, tâm thức. Pháp tướng như vậy gọi là Đại niết bàn, thấy rỏ được pháp tướng này thì gọi là giải thoát, phàm phu chẳng thấy biết thì gọi là vô minh”.
Lại nữa “Ta dùng Phật nhản xem khắp ba cõi tất cả các pháp, thể tánh của vô minh vốn là giải thoát, tìm khắp mười phương trọn bất khả đắc. Vì cội gốc đã không, nên nhánh lá thảy đều giải thoát. Vì vô minh giải thoát nên hành cho đến lão tử thảy đều được giải thoát. Do đây, nên ngày nay ta an trụ “Thường Tịch Diệt quang” gọi là Đại niết bàn”.
664
QUÁN ĐẢNH
Cánh cửa bước vào Kim Cương thừa là “Quán đảnh.” Một nghi thức trong đó một Lạt ma vô cùng đáng kính sẽ trao truyền lực gia trì của một Bổn tôn đặc biệt, vị Phật của lòng từ bi. Trong buổi lễ quán đảnh, vị Lạt ma sẽ gieo “hạt giống” trong tâm thức đệ tử, thông qua thực hành và lòng sùng mộ, hiển bày những phẩm tính giác ngộ của Bổn tôn đó. Một lễ quán đảnh đánh dấu việc đệ tử chính thức bước vào con đường Mật thừa. Tuy nhiên, những giáo lý này sẽ nằm trong thực hành của một Bổn tôn đặc biệt, vì thế thọ nhận quán đảnh là rất cần thiết.
Nếu Phật tính của chúng ta giống như hạt giống, quán đảnh làm hạt giống ấy phát triển và tịnh hóa, chuyển hóa những che chướng ngăn cản sự phát triển của nó.
Ở cấp độ thâm sâu nhất, quán đảnh là sự trao truyền trực tiếp chân lý tuyệt đối của giáo pháp. Như chúng ta đã biết, tất cả mỗi mọi chúng sinh đều có Phật tính, nhưng nó bị che lấp. Hơn thế nữa chúng ta đã nhận ra nó. Nếu chúng ta sẵn sàng và có kết nối thanh tịnh với một Kim Cương Đạo sư, việc nhận ra sẽ được trao truyền thông qua buổi lễ. Như vậy, từng phần trong quán đảnh giới thiệu từng khía cạnh khác nhau của bản tính tự nhiên của chúng ta, lập tức tịnh hóa các tập khí khác nhau, những thứ ngăn cản việc chứng ngộ. Có lẽ việc nhận ra này sẽ bám chặt và chúng ta sẽ chứng ngộ từ thời điểm này trở đi. Hay điều đó có thể chỉ là tạm thời, nhưng khi đã thấy, chúng ta sẽcó thể tiếp cận giác tính này trong thực hành sau đó. Dù là cách nào, chúng ta cũng thực sự may mắn! Bằng cách cố gắng hết sức làm theo những quán tưởng, chúng ta sẽ tiếp cận nhiều hơn với sự gia trì và trao truyền của buổi lễ. Nếu không thể làm theo, thì điều có lợi ích nhất là thư giãn tâm vào trạng thái rộng mở đáng tin cậy.
Vị Lạt ma có thể sẽ nói ngắn gọn về lịch sử của quán đảnh và thực hành tương ứng. Ví dụ, ngài có thể đề cập đến nguồn gốc của nó ở Ấn Độ, nó được truyền đến Tây Tạng ra sao, số lượng hành giả đã chứng ngộ nhờ thực hành này, sự dễ dàng và đơn giản của thực hành, và sức mạnh và sự thâm sâu của lựa gia trì của nó. Tất cả những điều này là nhằm để tạo ra niềm tin trong đệ tử. Đệ tử cần thấy rằng sự kiện này là điều gì đó rất đặc biệt, rằng họ thật may mắn khi đang tham dự; họ nên cảm thấy mong đợi những điều ở phía trước.
Sau đó, lời nguyện quy y và phát Bồ đề tâm được tụng đọc theo vị Lạt ma. Mật giới [samaya] (được giải thích ở cuối chương này) được ban cùng với ít nước nghệ hay rượu để khóa lại hứa nguyện, cùng với lời cảnh báo nghiêm khắc về điều có thể xảy ra với những ai phá giới. Lúc này, chúng ta đạt đến điểm không thể quay lại và hứa nguyện bản thân là một hành giả Mật thừa. Phần sau đó, “sự trao truyền gia trì” khẩn cầu lựa gia trì của chư Phật, Bồ Tát và Bổn tôn khi âm nhạc cất lên và các đệ tử thiền định về một quán tưởng mà đạo sư vừa miêu tả, thường quán tưởng vô số chư Phật trong hình tướng Bổn tôn tan hòa vào họ.
Mục đích ẩn đằng sau tất cả điều này là gì? Tsele Rinpoche giải thích khá rõ ràng như sau:
Thực sự, tịnh hóa nhận thức nghiệp về mọi thứ bên ngoài và bên trong, thế giới và chúng sinh, như là những thứ thông thường và rắn chắc, là rất quan trọng. Hãy xem xét các phương pháp và sự kiện tốt lành cần thiết để điều này xảy ra. Trong bất kỳ lễ quán đảnh nào, vào thời điểm bậc trí tuệ giáng hạ, một dải băng nhỏ được buộc trên người thọ nhận để làm gián đoạn những ý nghĩ cho rằng các hình tướng có thể thấy được như là thông thường. Khói chuẩn bị từ những chất liệu như là hương hay trầm khiến trí tuệ giáng hạ, được phát tán đển ngăn cản ý nghĩ cho rằng mùi hương là thông thường. Cam lồ được gia trì [nước nghệ hay chất lỏng] được ban để ngăn cản ý nghĩ cho rằng mùi vị là thông thường. Vị trí vật lý trong tư thế bảy điểm Tỳ Lô Giá Na hay tư thế Kim Cương là để ngăn cản ý nghĩ cho rằng việc xúc chạm là thông thường. Cuối cùng, các bước quán tưởng, phóng chiếu và tan biến là để ngăn cản bám chấp vô minh cho rằng tâm chúng ta là thông thường. Bởi vậy, thông qua những nghi lễ dự bị này, đệ tử nên cảm thấy cởi mở và nhạy hơn, sẵn sàng cho phần chính của quán đảnh sau đó.
Mặc dù quán đảnh có nhiều hình tướng khác nhau, chúng thường có ba hay bốn phần, sẽ được miêu tả ngắn gọn sau đây. Việc ban quán đảnh bao gồm một vị đạo sư trì tụng bản văn, có thể được dịch để đệ tử có thể tham gia bằng việc quán tưởng các giai đoạn khác nhau đang diễn ra, chạm vào đệ tử bằng những vật biểu tượng được gia trì, và ban những chất được gia trì cho để tử để ăn hay uống. Bởi phần lớn quán đảnh đều có nhiều người tham dự và đòi hỏi nhiều thời gian cho bậc đạo sư làm điều này cho từng người, thông thường ngài ban cho một vài người gần ngài, những người sau đó sẽ đem những phần này cho toàn thể những người tham dự. Hoặc đôi khi những phần này được để trước sảnh đường và đệ tử xếp hàng đi qua và chạm vào lúc cuối.
Nếu có ba quán đảnh chính, đầu tiên là quán đảnh thân. Điều này tịnh hóa những lỗi lầm về thân, như là bệnh tật và cho phép đệ tử quán tưởng mình là bổn tôn. Quán đảnh khẩu tịnh hóa những lỗi lầm về khẩu và hơi thở, cho phép đệ tử trì tụng thần chú của Bổn tôn. Quán đảnh ý tịnh hóa tâm và cho phép đệ tử tan biến quán tưởng và an trú tâm trong Phật tính.
Quán đảnh cho các cấp độ cao hơn của Mật điển có bốn phần chính. Chúng cho phép đệ tử thực hành các hệ thống thiền định, mà người phương Tây thường rất mong mỏi, và trình tự và cấu trúc của chúng nên được nghiên cứu và hiểu thông qua việc tham gia vào Kim Cương thừa. Kiểu bốn quán đảnh này sẽ xuất hiện theo những cách khác nhau. Khi hiểu nó, nó sẽ giúp chúng ta tiến gần hơn với các khía cạnh dường như không kết nối của Kim Cương thừa.
Quán đảnh đầu tiên trong hệ thống này đôi khi được chia nhỏ thành năm, tượng trưng cho năm Phật bộ. Quán đảnh này tịnh hóa thân chúng ta và cho phép chúng ta thực hành giai đoạn phát triển, quán tưởng Bổn tôn và trì tụng thần chú của Bổn tôn. Kết quả là, các đệ tử đạt được Hóa thân, thân thị hiện của một vị Phật. Thứ hai là quán đảnh bí mật, tịnh hóa khẩu. Chúng ta sẽ được phép thực hành giai đoạn hoàn thiện, các thực hành sử dụng năng lượng liên quan đến kinh mạch bên trong, khí và tinh túy.  Sau đó thứ ba  là quán đảnh trí tuệ, tịnh hóa tâm. Chúng ta được phép thực hành thiền định của sự hợp nhất, điều đưa đến Pháp thân, hay thân chân lý. Cuối cùng là quán đảnh thứ tư, quán đảnh ngôn từ. Điều này tịnh hóa cả thân, khẩu và ý với xu hướng xem chúng là tách biệt. Nó cho phép chúng ta thực hành các Pháp tu thâm sâu của Đại thủ ấn và Đại toàn thiện với kết quả là Tự tính thân. Quán đảnh này có thể trực tiếp giới thiệu chúng ta đến rigpa, giác tính tự thấu suốt của Phật tính. Thông thường, sự giới thiệu này xảy ra dưới dạng vị Lạt ma cầm trái pha lê trong khi nói vài lời về bản tính tuyệt đối của tâm. Đây là chỉ dẫn chỉ-ra thâm sâu, và chúng ta nên đặc biệt chú ý trong phần này. Với niềm tin và sự yêu thích, chúng ta có thể trải qua điều gì đó rất quan trọng.
Cuối lễ quán đảnh, các đệ tử đến gần đạo sư và cúng dường kata, chiếc khăn truyền thống của Tây Tạng, và một vật phẩm cúng dường, thông thường là cúng dường bằng tiền.
Những dấu hiệu của việc thực sự nhận được quán đảnh là gì? Tsele Rinpoche giải thích rằng:
“Đệ tử xuất chúng nhất trải qua sự lóe rạng của giác tính tự-sinh khởi, đồng xuất hiện. Đệ tử tốt tiếp theo trải qua nhận thức thanh tịnh cùng với lòng sùng mộ tràn ngập trong khi sự hiển bày của trải nghiệm bùng cháy, và đệ tử có căn cơ thấp hơn ít nhất cũng cảm thấy hoan hỉ.”
Ta thấy sẽ an toàn nếu nói rằng ít nhất chúng ta có thể hy vọng kiểu trải nghiệm mạnh mẽ nào đó, có lẽ một cảm xúc vô cùng hoan hỉ hay trải nghiệm thể trạng an lạc – kinh nghiệm thực chứng tính không.” Bởi nghi lễ thường đầy sức mạnh và sự trang nghiêm, chúng ta có thể cảm thấy sùng mộ và kính trọng lớn lao.Và nếu chúng ta theo các chỉ dẫn một cách cẩn thận và với niềm tin tưởng trong quán đảnh thứ tư, chúng ta sẽ thấy được Phật tính, giác tính đồng xuất hiện.
Cuối quán đảnh, đạo sư có thể ban thực hành hứa nguyện. Đó là, ngài sẽ nói chúng ta phải tiến hành thiền định ra sao mỗi ngày. Nó có thể không là gì hoặc thứ gì đó chung chung, như là tiếp tục thực hành thiện hạnh hay Pháp; nó có thể là một sự trì tụng ngắn, như là một chuỗi OM MANI PADME HUM; hoặc nó có thể dài hơn, như là thực hành một hay hai giờ mỗi ngày.
Khi người ta đã uống nước giới nguyện [samaya] lúc bắt đầu buổi lễ, họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo mệnh lệnh của Lạt ma. Thờ ơ hứa nguyện sẽ có những kết quả tức khắc. Quán đảnh được ban cho những nhóm lớn trong cộng đồng. Tuy nhiên, việc quyết tâm nếu đã sẵn sàng cho một hứa nguyện là trách nhiệm của đệ tử. Nếu cảm thấy chúng ta không thể giữ gìn hứa nguyện thì đừng nhận quán đảnh. Cũng vậy, nếu chúng ta cảm thấy không thể duy trì niềm tin tưởng và kính trọng Kim Cương Đạo sư và nhận thức thanh tịnh cũng như lòng từ ái với những người tham dự khác, tốt hơn là không nhận quán đảnh. Bên cạnh đó, có những Mật nguyện khác, chi tiết hơn trong các quán đảnh mặc dù chúng sẽ không được đề cập trong buổi lễ. Tuy nhiên, trách nhiệm của chúng ta là tìm ra chúng và cố gắng giữ chúng như có thể. Có hàng nghìn Mật nguyện như vậy, một số rõ ràng quan trọng hơn và rất nhiều gần như là không thể giữ. Hãy cố gắng nghiên cứu chúng từ vị thầy. Hãy tìm ra điều ngài cảm thấy là quan trọng nhất, cách thức giữ gìn chúng và phải làm gì nếu chúng bị phá.
Trong Kim Cương thừa, Phật tính của chúng ta bị che chướng bởi những ý nghĩ thông thường. Để duy trì nhận thức liên tục về sự hiểu biết bản tính chân thực, chúng ta duy trì nhận thức thanh tịnh hay quan kiến linh thiêng. Chúng ta luôn nhìn nhận mọi thứ xung quanh là mạn đà la với tất thảy chúng sinh là chư Bổn tôn, mọi âm thanh là thần chú, và mọi ý nghĩ đều là hiển bày của giác tính giác ngộ. Cố gắng cắt bỏ những tham luyến mạnh mẽ với các đánh giá tiêu cực và thấy những khía cạnh thanh tịnh và tích cực của mọi thứ. Nhận thức thanh tịnh vừa là điểm xuất phát vừa là ý tưởng trung tâm trong cả thực hành Kim Cương thừa lẫn việc giữ gìn giới nguyện và hứa nguyện.
Cũng có một bộ mười bốn giới nguyện đi kèm bất kỳ quán đảnh nào. Bản miêu tả có thể được tìm thấy trong nhiều cuốn sách nhưng đặc biệt là “Hành động hoàn hảo” của ngài Dudjom Rinpoche. Ba trong số những điều quan trọng nhất. –  Đầu tiên là kính trọng vị đạo sư ban quán đảnh. Người ta nên coi ngài như là Bổn tôn thực sự và chắc chắn không để những hoài nghi và ác hạnh ngăn cản quan kiến về ngài. Đặc biệt, đừng mất kiểm soát và chống đối với ngài! –  Thứ hai, duy trì tri kiến thanh tịnh với tất cả giáo lý Phật Đà. Đừng nghĩ rằng vài giáo lý hay vị thầy thì tốt hơn số khác. Lợi lạc nào thể đến từ việc nghĩ như vậy? Hãy thấy rằng các vị thầy, giáo lý và kỹ thuật khác nhau là để phù hợp với căn cơ khác nhau của chúng sinh; vì thế không có cấp bậc nào được ám chỉ. Đó là những phương thuốc khác nhau cho các căn bệnh khác nhau. Đặc biệt hãy duy trì nhận thức thanh tịnh và sự kính trọng với Kim Cương thừa. Vài người nghĩ rằng nó là sự sai lầm của giáo lý Đức Phật, hay một sự hợp nhất của Phật giáo với Bà La Môn và đạo Bôn. – Thứ ba, duy trì nhận thức thanh tịnh với các đệ tử khác, các huynh đệ Kim Cương. Dù họ có phiền hà hay thần kinh thế nào, họ đều sở hữu Phật tính và đang cố gắng làm điều tốt nhất. Bên cạnh đó, họ có thể cũng nghĩ như chúng ta! Đừng chống đối nhau, đừng cãi nhau, và đừng tán chuyện về họ đằng sau lưng. Nếu có ai đó không thể chịu được, đơn giản hãy tránh họ. Bên cạnh ba điều này, việc duy trì vài kiểu thực hành đều đặn là rất quan trọng.
Có thể thấy, nhận quán đảnh đưa chúng ta đến một thế giới mới và khi đã tập hợp tất cả những điều trên, nó khẳng định sự sẵn sàng buông bỏ những điều cũ. Không nghi ngờ gì, điều gì đó đầy sức mạnh đáng sợ và rộng lớn đang diễn ra. Dù chúng ta có chú ý cẩn thận thế nào, buổi lễ cũng vô cùng vĩ đại. Vượt lên trên điều đó là khả năng nhìn thấy hay nhận thấy một kiểu tốt lành vượt khỏi thế giới nhỏ bé của chúng ta. Chúng ta đạt đến điểm không thể “quay lại” trên hành trình, và ở một khía cạnh nào đó, quá trình tìm kiếm đã kết thúc. Bây giờ không thể quay lại.­
(Trích: A beginner’s Guide to Tibetan Buddhism, Lama Bruce Newman.Việt dịch: Pema Jyana).
Lê Sỹ Minh Tùng
wrathful-deity
- See more at: http://phuclacan.com/can-ban-mat-tong/#sthash.qDvyTN8u.dpuf

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét