Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Các kiến trúc tôn giáo và việc thờ tự tại quần thể di tích Phủ Dầy

Phủ Dầy

.Phủ Dầy (có khi ghi là Phủ Giầy, Phủ Giày) là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng truyền thống của người Việt tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, gần quốc lộ 10 từ thành phố Nam Định đi thành phố Ninh Bình(tỉnh lộ 56). Trong đó, kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh(phủ chính), ngay sát chợ Viềng. Các kiến trúc còn lại là phủ Tiên Hương, phủ Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh.
Hội Phủ Dầy được tổ chức hàng năm vào tháng 3 âm lịch. Lễ hội nhằm tổ chức nghi lễ, thắp hương biết ơn bà chúa Liễu Hạnh. Cùng thời điểm này, bà Chúa Liễu Hạnh cũng được thờ tại nhiều lễ hội khác trên Việt Nam, nhưng hội Phủ Dầy thuộc vào loại long trọng nhất, với sự tham gia của đông đảo dân chúng.
Thành ngữ dân gian một số nơi ở miền Bắc có câu:
Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ
Cha là Trần Hưng Đạo, còn Mẹ chính là bà Chúa Liễu Hạnh.
Đạo Mẫu phát triển tạo đà cho nhiều kiến trúc tôn giáo ra đời.
Đạo Mẫu ra đời cách ngày nay trên 400 năm nhưng đã có sức sống lan toả mạnh mẽ. Nhân vật trung tâm được thờ tự trong quần thể di tích Phủ Dầy là Liễu Hạnh. Ở xã Kim Thái cùng với việc xây dựng những trung tâm thờ tự chính ở hai làng Tiên Hương và Vân Cát với một hệ thống thần linh hoàn chỉnh, thì còn hàng loạt các công trình kiến trúc nhỏ bao gồm nhiều ngôi phủ được tách ra để thờ các vị thần linh trong tứ phủ.
Đây là những di tích ra đời sau khi đạo Mẫu đã hình thành trong đó có cả những di tích xuất hiện gần đây nhất. Trong số này nhiều ngôi từ đường vốn là nhà thờ các dòng họ vì nhiều mục đích khác nhau đã dần dần trở thành những phủ thờ Mẫu. Sự góp mặt của hàng loạt di tích đó đã làm cho điện thờ thánh Mẫu ở địa phương trở nên phong phú và nhộn nhịp hơn nhiều so với trước đây.
1. Phủ Tổ (Khải Thánh đài): còn gọi là Phủ Đá ở thôn Vân Cát. Phủ Tổ gồm ba cung: chính cung và cung thứ hai làm bằng gỗ, lợp ngói nam, tiền đường cao rộng, cột, kèo, xà đều làm bằng đá xanh, chạm khắc những đường nét mềm mại. Phủ Tổ được sửa chữa lớn vào năm 1943. Trong kháng chiến chống Pháp Phủ Tổ đã bị ném bom hư hỏng nặng. Di tích này mới được tu sửa đưa vào sử dụng năm 1993.
Phủ Tổ ban đầu chỉ thờ bố mẹ Mẫu Liễu Hạnh. Nơi đây theo truyền thuyết và sách vở là quê chính của Mẫu Liễu. Hiện nay cung trong ở giữa thờ phật, hai bên thờ ông bà sinh ra Mẫu Liễu. Cung thứ hai thờ Tam toà Thánh Mẫu. Cung ngoài cùng ở giữa thờ Đức Thánh Trần, còn một bên thờ Trần triều Vương Cô, một bên thờ bát hương bản mệnh.
2. Phủ Nội: ngoài cổng có đắp hai chữ Tiên đình, ở xóm 1 thôn Tiên Hương. Phủ được xây dựng vào thời Nguyễn năm Duy Tân thứ nhất (1907) có ba gian trùng thiềm. Chính cung gồm một gian rộng thờ vị thuỷ tổ là Lê Công Tiên đến đời Mẫu Liễu là thứ tư và thờ song thân sinh ra Mẫu Liễu. Cung đệ nhị thờ Tam toà Thánh Mẫu, có đặt ba tượng Thánh Mẫu là Liễu Hạnh công chúa mặc áo hồng, Quỳnh Cung Duy Tiên công chúa là em dâu mặc áo xanh và Quảng Cung Quế Anh công chúa là cháu của Thánh Mẫu mặc áo trắng. Cả ba vị đều có sắc phong thời Nguyễn. Cung đệ tam có năm gian rộng, giữa có hương án thờ công đồng.
Đây nguyên là nhà thờ họ Trần - Lê. Năm 1988 dòng họ đã đóng góp tu sửa cho di tích thêm khang trang. Phủ còn giữ được phả ký họ Lê nay là họ Trần Lê, ghi chép đầy đủ lịch sử tổ tiên của dòng họ đã sinh ra Thánh Mẫu và sự tích của Thánh Mẫu. Hiện nay nhà thờ họ đã biến thành phủ để thờ Mẫu Liễu và Tam toà Thánh Mẫu.
3. Phủ Khải Thánh: Hiện nay trong di tích có một bức hoành phi ghi là Khải Thánh Phủ. Nhiều người cho rằng bức hoành phi này trước ghi là Khải Thánh từ đã bị sửa lại chữ TỪ thành chữ PHỦ. Phủ xóm 1 thôn Tiên Hương.
Ban đầu nơi đây chỉ có ba gian. Năm Thành Thái thứ nhất (1889) xây thêm 3 gian cung thứ hai. Năm Khải Định thứ 8 (1923) xây 3 gian 2 trái cung thứ ba và gần đây xây thêm cung thứ tư. Hai cung phía ngoài trùng thiềm với nhau tạo nên một không gian thờ cúng rộng rãi.
Đây nguyên là từ đường dòng họ Trần Ngọc. Bia Khải Thánh từ bi ký dựng năm Bảo Đại thứ 13 (1938) ghi rõ: "Dòng họ nhà ta vốn họ Lê... khi họp họ ở đây để tỏ lòng hiếu kính".
Hiện nay cung đệ nhất thờ ông thuỷ tổ Lê Tiên Công, bố mẹ Mẫu Liễu và Mẫu Liễu. Cung đệ nhị thờ Tam toà Thánh Mẫu và hai cung phía ngoài trùng thiềm tạo không gian thờ cúng rộng rãi, gian chính giữa có thờ công đồng.
4. Phủ Bà (Khâm Sai từ): ở xóm 2 thôn Tiên Hương. Phủ ban đầu chỉ có ba gian. Đầu thời Nguyễn họ Lê và dân làng xây thêm hai cung phía ngoài, tạo cho di tích thêm bề thế.
Phủ thờ bà Chiêu Dung công chúa. Theo thần tích còn lưu ở phủ thì bà tên là Lê Bạch Mai. Ông nội là Lê Duy Thịnh chú của vua Lê Anh Tông. Do có loạn ông chạy về làng An Thái ở ẩn và lấy vợ ở đây. Bố đẻ Bạch Mai là Lê Duy Cảnh làm quan tới chức Binh bộ thượng tư thái bảo quốc công. Bà sinh ngày 9/9 năm Vĩnh Tộ thứ 5 (1624) lấy chồng người cùng làng là Trần Lý, mất ngày 14/3 năm Nhâm ngọ (1642). Bạch Mai vốn là một tiên nữ vì có lỗi bị giáng xuống trần. Về trời bà vẫn nhớ cảnh dương gian nên Ngọc Hoàng lại cho xuống làm nhiều điều linh dị giúp dân giúp nước và trở thành một trong tứ vị chầu bà của Thánh Mẫu. Người trong họ và dân làng cho là điều linh thiêng nên lập miếu thờ.
Phủ Bà có cung cấm đặt tượng Chiêu Dung công chúa và hai thị nữ là công chúa Hương Thị và công chúa Phù Thạch. Hai cung ngoài trùng thiềm thờ tứ phủ công đồng. Phủ Bà vốn là di tích của một dòng họ tôn thất thờ bà Bạch Mai. Đến nay nơi này mở rộng thành phủ thờ Mẫu có đầy đủ điện thờ, lầu Cô, lầu Cậu và bàn thờ ngũ vị tôn ông. Tứ vị chầu bà giữ vai trò khâm sai, xem xét tứ phủ. Vì thế thanh đồng tín nữ coi đây như "văn phòng" của điện thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
5. Phủ Bóng (Nguyệt Dung cung): Nằm cạnh lăng Mẫu Liễu Hạnh. Khi Mẫu Liễu Hạnh mất mộ được đặt tại khu miếu ở cánh đồng xứ cây đa. Tương truyền vào những đêm trăng sáng, Mẫu Liễu cùng các tiên nữ vẫn quây quần bên gốc đa để múa hát. Dân làng cho là linh dị nên lập đền thờ gọi là Phủ Bóng hay đền cây đa Bóng. Nơi đây còn gọi là Nguyệt Dung cung với ý nghĩa là nơi chơi trăng của Tiên Chúa.
Vào đầu thế kỷ XX ngôi phủ được xây dựng rất nguy nga, có bốn cung trùng thiềm điệp ốc, hai bên có lầu Cô lầu Cậu, trước sân có hệ thống cửa rất bề thế. Năm 1938 hội Xuân Kinh ở Huế hoàn thành việc xây lăng Mẫu thì Phủ Bóng cũng hoàn tất, tạo nên sự hài hoà giữa phủ và lăng. Trong kháng chiến chống Pháp ngôi phủ này đã bị phá huỷ để lấy vật liệu xây đồn bốt và mở đường giao thông. Trong vài chục năm vừa qua Phủ Bóng đã từng bước được xây dựng lại với vật liệu chủ yếu là xi măng cốt sắt. Năm 1980 bắt đầu xây cung thứ nhất, năm 1995 xây cung thứ hai, năm 2000 xây cung thứ ba và hệ thống cổng, tường bao.
Phủ Bóng
  Cây Đa Bóng hay còn gọi là Nguyệt Du Cung  hay Phủ Bóng. Theo truyền thuyết là công trình được làm trên nền đất cũ mà Công Chúa Liễu Hạnh hiển linh về ngắm trăng mỗi khi về thăm quê, thăm mộ phần.
          “ Có khi tới tổ tiên nhà
Xe loan đạp gió thăm qua cựu phần
Cây Đa Bóng mộ Phụ Thân
La Hào đất ấy Tổ phần đã lâu
Tiên trần nào khác nhau đâu
Chẳng qua chữ hiếu ởt đầu mà thôi
Tấm lòng trời đất sáng soi
Ba đời sinh hoá, mây hồi bao dương…
         Đoạn thơ trong tập “ Cá Thiên Tam Thế Thực Lục ” do Đoàn Triển, Tổng đốc Nam Định chủ biên đã nói lên tình cảm của Liễu Hạnh Công Chúa đối với quê hương Phủ Dầy. Bà đã về thăm lại mộ phần, thăm mộ Phụ Thân, thăm mộ Tổ xứ La Hào. 
          Lại có quan điểm cho rằng Phủ Bóng là nơi thờ hội đồng các bóng các giá, người có căn mạng phải đến đây trình đồng như quấn “Đạo Mẫu Việt Nam ” của tiến sĩ viện trưởng Ngô Đức Thịnh chủ biên năm 1996, trang 121 có ghi: “ Phủ Bóng thờ hội đồng các bóng, các giá. Người có đồng phải  trình đồng ở đây, trước khi hầu đồng trong các di tích quần thể Phủ Dầy ”.
          Điều đặc biệt là Nguyệt Du Cung được Đào Chi đệ tử Hàn Lâm thi độc Hồ Hữu Du, tên tự chính là Nguyễn Mộng Thạch dâng câu đối, khắc trên đá tại lăng Thánh Mẫu:
                   “ Thiên Bản địa linh lưu thắng tích
Nguyệt Du thuỷ hoạt tố Tiên nguyên ”.
          ( Thiên Bản đất thiêng còn mãi dấu xưa nơi Thánh Ngự
Nguyệt Du nước chảy noi theo dòng dõi vị Tiên nương ).
Đền Cây Đa Bóng  có hai tấm bia quí là “ Nguyệt Du từ bi kí “ và “ Nguyệt du cung bi kí ”, qui cách 0.8 x 1.3m chạm khắc long chầu phượng vũ, riềm chạm hoa sen, triện tàu cùng hoa lá cách điệu có niên hiệu Vua Bảo Đại (1929), văn bia nói việc hàng năm nhân dịp tháng tám và tháng ba kỉ niệm sinh hoá của Mẫu đều tế tại Nguyệt Du từ.
          Trong Phủ còn lưu giữ đuợc chiếc trống đồng làm theo kiểu trống da có tang trống và mặt trống nhưng chất liệu bằng đồng đỏ . Đây là chiếc trống đầy đặn và hiếm thấy, khi đánh tiếng âm vang ấm áp, trên tang trống khắc hàng chữ “ Thành Thái Giáp Thìn niên (1904), Tri Phủ Nghĩa Hưng cùng vợ tiên cúng vào Nguyệt Du Cung - Tiên Hương “.
          Trong đền còn có một đôi choé cổ có đường kính miệng chừng 40 cm trạm khắc chữ “ Tiên Hương Nguyệt Du Cung “ và quả chuông đồng “ Nguyệt Du Từ cung “ là những di sản văn hoá có giá trị.
          Đền Cây Đa hiện nay đã được tu sửa một cách bề thế. Các ban thờ được bố đẹp và hài hoà. Các ban thờ công đồng, các quan, các cô, cậu, …Và hiện nay Phủ Bóng đựoc tu sửa nạy một cách khá đồ sộ. Chỉ trong một thời gian ngắn Phủ được xây dựng kiên cố. Đặc biệt mới xây dựng cổng Tam Quan khá bề thế, được đắp các hoạ tiết một cách tinh sảo với kĩ thuật cao…
          Phủ Bóng hiện nay cũng được đông đảo các du khách về dâng hương chiêm bái. Và trở thành một di tích ngày càng quan trọng trong quần thể di tích Phủ Dầy.
6. Phủ Nguyệt Lãng: Mới xây dựng năm 1998 do ông Trần Lê Lãng chuyển nhà thờ chi ba họ Trần Lê ra thờ ở đây. Ngôi phủ ở xóm 1 thôn Tiên Hương ngay mặt đường liên xã, được xây dựng như một căn nhà để ở gồm ba gian mái chảy. Ngay ngoài cổng đắp ba chữ Nguyệt Lãng phủ. Đây là tên con và bố: Nguyệt + Lãng.
Tuy ban đầu là nhà thờ họ nhưng khi chuyển ra đây trên ban lại thờ Phật và Tam toà Thánh Mẫu. Đây là một biến tướng của một từ đường họ, nay chuyển thành phủ để thờ Mẫu.
7. Đền Đông Cuông (Thái Linh từ): ở xóm 3 thôn Tiên Hương ngay ven đường 56. Theo văn bia "Tiên Hương thái linh từ bi ký" dựng năm Bảo Đại thứ 8 (1933) hiện đặt tại Phủ Bóng thì ngôi đền này được chi họ Trần xây dựng năm 1926.
Đền thờ ông bà Trần Thái Công, người đã đóng góp 24 mẫu ruộng để phục vụ cho việc giỗ chạp trong giáp và các đền miếu trong xã. Vào những năm đầu thế kỷ XX cùng với việc rước Thánh Mẫu Thượng Ngàn về thờ ở đền Thượng thì ở đây rước Đông Cuông Thánh Mẫu tức Chầu Bà Đệ Nhị hoá thân của Mẫu Thượng Ngàn về thờ.
Trong chiến tranh chống Pháp đền Đông Cuông đã bị phá huỷ nghiêm trọng. Năm 1997 ngôi đền mới được xây dựng lại gồm hai cung, cung chính thờ Mẫu Đông Cuông và cung ngoài thờ Tứ phủ công đồng và Đức Thánh Trần. Vợ chồng ông Trần Thái Công nguyên trước thờ ở đây nay không còn được thờ nữa.
8. Đền Cây Đa Báng còn gọi là đền Trình: nằm ở thôn Xuân Bảng ngay ven đường 56. Trước đây nơi này chỉ có một bệ thờ lộ thiên ngoài trời dưới gốc đa để thờ thổ thần. Tại đây những năm qua đã xây thêm nhiều bệ thờ không có mái xung quanh gốc đa và lập một miếu nhỏ có mái, đắp ba chữ Mẫu tối linh.
Năm 1994 tại đây xây một ngôi đền 3 gian bên cạnh miếu trước cửa có bảng đề "Đền Trình". Phía trong có bát hương bản mệnh và thờ cả Đức Thánh Trần. Nhân dân thôn Xuân Bảng thì cho rằng họ làm ngôi đền này để thay thế cho ngôi đình Pheo đã bị tàn phá trong chiến tranh. Ngôi đình cũ thờ Lã Gia, Trần Minh Tông và vị thành hoàng bản thổ, còn ngôi đền mới thờ Trần Hưng Đạo không có liên quan gì với các nhân vật thờ trước đây.
III. Những công trình kiến trúc tiêu biểu của đạo Mẫu ở địa phương.
Phủ Dầy là một quần thể di tích kiến trúc tôn giáo phong phú, đa dạng, có giá trị nghệ thuật. Tại đây có ba di tích lớn nhất, tiêu biểu nhất và khách hành hương về Phủ Dầy tức là về quê Mẫu thì không thể không đến là phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Mẫu. Căn cứ vào những văn bia hiện còn đặt tại di tích thì hai ngôi phủ chính này được xây dựng vào thế kỷ XVII. Nơi đây không chỉ thờ Mẫu Liễu Hạnh, thân phụ thân mẫu của bà mà còn thờ cả một hệ thống các vị thánh trong đạo Mẫu. Ba di tích này cũng đã được Bộ Văn hoá Thông tin chọn, để ra quyết định công nhận là di tích cấp quốc gia.
1. Phủ Tiên Hương (còn gọi là phủ Chính): Phủ Tiên Hương ở xóm 1 thôn Tiên Hương. Di tích quay mặt theo hướng tây nam, cách đường 56 khoảng 500m và nằm sát đường giao thông liên xã.
Phủ được xây dựng trên một thế đất đẹp, nằm trên đầu một con rồng, hồ bán nguyệt trước phủ là hàm rồng, phía nam có con lạch chạy dài là vòi rồng. Toàn bộ diện tích khu đất là 1 mẫu 4 sào Bắc Bộ, trong đó diện tích xây phủ và các công trình khác là 1000m².
Trong bài thơ "Bái An Thái tiên nữ từ" (viếng thăm đền tiên nữ ở An Thái) của Phạm Đình Kính đỗ tiễn sĩ năm 1710 có đoạn (dịch):
Quán cỏ Thế Tông (1573 - 1600) đầu mới dựng
Nhà xây Phúc Thái (1643- 1649) lại trùng tân
Đời vua Hoằng Định (1601 - 1619) ơn ban sắc
Lung linh huyền ảo mãi lưu truyền[3].
Năm Dương Hoá thứ 8 triều Lê Thần Tông (1642) triều đình xuống chỉ cho địa phương xây đền lợp ngói[4].
Như vậy di tích này vào cuối thế kỷ XVI còn làm bằng tranh tre. Đến giữa thế kỷ XVII phủ được xây bằng gạch. Đời Cảnh Trị (1663 - 1671) thì nơi này được xây to lên. Từ đó cứ vào tiết tháng ba từ ngày 1 đến ngày 10 nhân dân các làng đổ về lễ bái thấy sự linh thiêng rõ rệt[5]. Trải qua nhiều lần tu sửa, phủ cũ vẫn còn dấu tích gọi là phủ Cổ có 4 gian. Năm 1996 ngôi phủ này đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân, phụ mẫu của Mẫu Liễu, đồng thời thờ cả Đức Thánh Trần. Phủ Cổ nằm bên trái sát ngay khu vực phủ hiện nay. Năm Duy Tân thứ 8 (1914) tổng đốc Nam Định là Đoàn Triển sai lính cùng nhân dân địa phương xây dựng và mở rộng quy mô của phủ Tiên Hương to lớn như hiện nay.
Từ xưa, khách tham quan có thể nhìn thấy ngôi phủ rất bề thế. Di tích này có 19 toà với 81 gian lớn nhỏ, quy hoạch chính phụ rõ ràng tạo ra một không gian thoáng đãng mà vẫn trang nghiêm theo kiến trúc "nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc" qua các lớp cung, phương du, nhà khách...
Ngoài cùng cửa phủ Tiên Hương là một giếng tròn mang ý nghĩa tụ thuỷ để tụ phúc. Giữa giếng là một ụ đất làm nơi cắm cờ. Hàng năm khi mùa hội tới, một cây gỗ hoặc tre cao được dựng, đầu cây buộc túm lá cũng có khi là một con quạ gỗ mang tư cách là thiên sứ của nhà trời và một lá cờ thần lớn được treo lên đó. Từ bờ giếng vào một khoảng sân rộng dẫn tới hệ thống cột đồng trụ. Sân này là nơi biểu diễn xếp chữ hoặc làm nơi bán hàng. Sáu cột đồng trụ đối xứng, tạo thành ba cửa vào phủ rộng rãi. Đỉnh các cột trụ đều đắp con lân, linh vật tượng trưng cho trí tuệ và sức mạnh nhằm kiểm soát tâm hồn người hành hương.
Tiếp tới là ba phương đình dàn hàng ngang, đó là nhà phương du ở giữa và hai bên là hai phương đình làm gác chuông, gác trống. Nhà phương du có kích thước mặt bằng 10,6m  x 7,06m nền được tôn cao, ghép bằng đá xanh. Đây là nơi nghỉ tạm của khách thập phương lúc đến lễ và nơi để các quan chức địa phương ngồi xem xếp chữ trong các ngày hội. Hai phương đình hai bên có kích thước 5,5m x 5,5m, phía trên treo chuông, treo trống còn phía dưới để bia đá. Mỗi toà đều bố trí hai tầng tám mái cân xứng, các đầu đao cong vút. Từ phương du đi xuống có hai hệ thống bậc đá kẹp trong bốn con hổ chầu vào, dáng dấp của chúng tự nhiên mang nhiều chất dân dã, song vẫn biểu hiện cho sức mạnh trần gian nhằm coi sóc ở cửa phủ.
Tiếp theo ba phương đình này là một hồ bán nguyệt có đường kính trên 20m. Xung quanh là một đường bao lát đá ôm lấy khu hồ đầy chất nghệ thuật. Chính giữa đường bao phía ngoài là một bức bình phong đá làm theo kiểu cuốn thư mang chức năng chống luồng gió độc thổi vào trong phủ, trên đó được chạm hoa văn, trang trí khá cầu kỳ. Nối hai bên là hàng lan can đá, từng quãng được bổ trụ. Phía trong có hai cầu xuống hồ bán nguyệt đều lát bậc đá và mỗi cầu đều có hai con rồng cuồn cuộn chạy lên để chầu vào cửa phủ được chạm bằng đá khá tinh xảo.
Đối xứng qua hồ, bên phải công trình là nhà bia và lầu Cô, bên trái là nhà bia và lầu Cậu. Với lối bố cục hồ trong, hồ ngoài, kết hợp với các kiến trúc đăng đối trên một trục dài ở giữa đã tạo nên một không khí trang nghiêm cho công trình, với một vẻ bề thế trang nhã nhưng đơn giản và đẹp.
Toàn bộ khu phủ thờ là sự liên kết của nhiều dãy nhà được nối mái với nhau nhằm tạo nên một chiều sâu nghiêm trang cho công trình. Mỗi một dãy nhà là một lớp không gian riêng được gọi là một cung. Từ ngoài vào trong có bốn cung: cung đệ tứ với những án thờ tứ phủ công đồng, cung đệ tam để bát biểu và giá chiêng giá trống, cung đệ nhị đặt ban thờ tứ vị chầu bà và ba bộ long ngai lớn đặt trên ba sập thờ, cung đệ nhất là nơi thờ thánh Mẫu và tổ phụ tổ Mẫu.
Cung đệ nhất là dãy nhà trong cùng có chiều rộng 7,6m còn gọi là nội cung hay cấm cung, đằng trước có hệ thống cửa bức bàn chấn song con tiện. Tại đây có đặt một khám lớn lắp kính chạm khảm trai, trong đặt ba pho tượng Mẫu Liễu Hạnh như gợi nhớ đến tam thế của Mẫu: pho tượng giữa thể hiện Mẫu mặc áo cà sa khi quy y phật, một bên là hình Mẫu trong dáng tiên nhân còn bên kia là Mẫu trong dáng người thường. Dáng ngồi, động tác cùng khuôn mặt của pho tượng Mẫu này đều thể hiện được cốt cách của một nhân vật cao quý, quyền uy, nửa như siêu thoát, nửa như gắn bó với cõi phàm trần. Tại đây còn tượng thờ tổ phủ tổ Mẫu. Năm pho tượng này đặt song hàng trong khám khảm trai lộng lẫy.
Cung đệ nhị là một toà nhà xép chỉ rộng 2,5m là nơi để đứng thắp hương. Cung đệ nhất và cung đệ nhị được tu sửa tôn tạo từ thời Minh Mệnh, đến thời Tự Đức có trùng tu và sắm thêm đồ thờ tự. Cùng với cung đệ tam, ba khu này có bộ khung gắn bó với nhau. Nó giống lối kiến trúc trùng thiềm điệp ốc ở Huế. Nó khác các cung điện Huế ở chỗ kiến trúc ở Huế trần kiểu mai cua còn ở cung đệ nhị vòm cong lên và phía trên còn có một mái nhỏ.
Cung đệ tứ ở ngoài cùng bao gồm năm gian, hai hồi bít đốc, cột vuông. Các vì kèo ở đây không có tường mà toàn bộ vì nóc được làm thành một bộ khung chắc chắn có cá ngoàm để đỡ hoành. Lối vì kèo này đã gặp nhiều trong kiến trúc Huế. Trang trí ở đây tương đối phong phú. Đó là các đề tài về tứ linh, tứ quý, cùng với những hình chạm khắc có liên quan tới bát bảo, bát vật với hoa lá và các loại chim muông khác. Những đề tài này đều mang những nội dung nhất định như hình hổ phù là biểu tượng của cầu phồn thực no đủ. Hình rồng và phượng hàm thư hoặc hàm lưỡng đào là nhằm đề cao thánh nhân, cầu sự cao quý hoặc trừ tà. Tất cả những mảng trang trí ở đây đều được chạm chìm và khắc nổi nhưng không sâu nên trông đơn giản và đẹp.
Các cung trong phủ Tiên Hương đều thông nhau từng cặp một, nên đã tạo ra một không gian thoáng rộng. Ánh sáng trong các cung cũng được chú ý để tạo nên một khung cảnh linh thiêng. Ở đây ta thấy hai cung ngoài nhiều cửa số, càng vào sâu các cung trong càng ít cửa sổ để tạo nên vẻ thâm nghiêm, với ánh nến lung linh mờ ảo, con người như hoà đồng với một thế giới tâm linh.
Phía sau phủ trước là khu vườn hoa nay mở rộng đắp núi tạo thành động sơn hang. Nơi đây còn gắn liền với sự tích nhà học của công chúa Liễu Hạnh thuở sinh thời và còn có nhiều cây chuối với buồng hàng trăm nải, dài tới 2-3m, có cây thị hàng trăm tuổi vẫn đang nở hoa ra quả.Phủ Chính - Phủ Tiên Hương


            Phủ Tiên Hương là công trình được xây dựng lâu đời - đựơc xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia. Theo truyền thuyết, tư liệu và bi kí thì phủ Tiên Hương xây dựng từ thời Lê Cảnh Trị ( 1663 – 1671 ) đến năm 1841 được chuyển thành công trình gạch ngói và năm Duy Tân thứ chín ( 1915 ) do tổng đốc Đoàn Triển cho xây dựng lớn như ngày nay.
      

          Năm Dương Hoà thứ 8 ( 1642 ), triều đình cho phép xây lập đền thờ. Đến khoảng năm Chính Hoà ( 1680 – 1705 ) hễ có việc gì thì cầu cúng càng thấy linh ứng. Hàng năm đén ngày 7, 8, 9 tháng 3 thì mở hội…lịch triều phong sắc Mã Vàng Công Chúa thượng đẳng thần, ông Trần Bình Hành cử nhân khoa Tân Mão tức là dòng dõi vậy. ( Trần Lê Hữu dịch – phòng tư liệu khoa sử trường đại học Tổng Hợp Hà Nội ).
          Phủ được xây dựng trên khu đất một mẫu bốn sào bốn bề tiếp giáp nhà dân, đường cái xa xa là núi Tiên Hương che chắn mặt tây như bức bình phong khổng lồ.
          Tổng thể công trình theo kiểu trùng thiềm, ngoại chữ quốc, lớn nhỏ có 10 toà với năm, bẩy gian. Nhưng công trình chính là các toà phủ thờ và ba toà phương đình mặt tiền.
          Các toà thuộc đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, làm theo kiểu giámg cổ truyền dân tộc. Riêng cung đệ tứ có người gọi là bái đường gồm 7 gian dài 22m, rộng 8 m hệ thống cột xà vuông lác cạnh, làm rất cầu kì, chạm khắc nhiều đề tài trên bẩy, trên xà, trên mê cốn khá tinh tế, công phu như gợi cho con người nhận biết cảnh “ đào tiên trường thọ ”, cảnh “ kim tiền phú lộc ”  mà thế gian dang có sự ước muốn  “ phúc, lộc, thọ “. Những đề tài tứ quí, tứ linh cũng rất hấp dẫn nên các toà nhà tuy lớn , dùng loại gỗ tứ thiết mà vẫn như thanh thoát nhẹ nhàng.
          Trước sân là “ nguyệt hồ ” làm cân đối theo trục đối xứng, quanh hồ có tương hoa bằng đá  làm cầu kì đẹp mắt cử xuống có đôi rồng chầu và giữa tường hoa gắn tấm bia làm kiểu quấn thư khá độc đáo, nội dung nói về việc xây dựng phủ.

          Phía ngoài có ba toà phương đình, tuy qui cách to nhỏ, số gian khác nhau nhưng phong cách làm kiểu chồng diêm tám mái như nhau. Hai tào tả hữu cân đối hài hoà đẹp mắt, bên trong đặt những hàng bia đá theo trình tự cân đối, khiến tả hữu phương đình không chỉ là nghi thức tô điểm cho mặt tiền, mà còn có chức năng bảo vệ văn bia, những di sản vừa có giá trị nhân văn, vùa có giá trị sâu sắc mà tiền nhân để lại…
          Toà phương dình ở giữa có ba gian trông bề thế hơn, cũng làm theo kiểu mê cốn, băy kẻ, những người thợ đã trau chuốt hơn, đục đẽo công phu hơn. Những cặp nghê đỡ trụ non đấu rế, những mảng đề tài cùng, cúc, trúc, mai trên từng lá cốn ở các vì.

          Xung quanh phương đình được diễu tường hoa song tiện, cửa phía Tây có rồng chầu, hai cử phía Đông tạo đôi cặp hổ rất sinh động từ trên nhao xuống lại ngước đầu ngoái cổ nhìn nhau, tựa đón mừng người vào cửa, khiến tào phương đình tạo cho mặt tiền Phủ Tiên Hương thêm ý nghĩa, hấp dẫn gợi cảm cho ai mỗi khi vào hành hương.
          Phủ Tiên Hương có khá nhiều đồ thờ tự, tượng pháp câu đối, đại tự được gia công cầu kì, ví như bộ đèn bằng đồng có 36 nơi cắm nến, bộ đỉnh đồng hạc đồng cũng được đúc với kĩ thuật cao, lại có trình độ hội hoạ nên hoạ tiết trang trí thật trang nhã, lắng đọng lòng người.
          Ba bộ long ngai cỡ lớn, được trạm trổ cầu kì các cặp rồng chầu, phượng, ly, qui và hoa lá cách điệu. Lại sơn thiếp theo kĩ thuật truyền thống nên hàng trăm năm mà ánh vàng trong nền sơn sơn đỏ vẫn còn bóng sáng và ấm áp lạ thường.
          Sập đá có kích thước 2.2m x 2.0m làm kiểu chân quỳ dạ cá, hoạ tiết bốn góc là chim thần cách điệu, một phong cảnh nghệ thuật từ lâu đời được bảo lưu kế thừa.rồi đường nét hổ phù cũng là đề tài quen thuộc, Những hiện vật này mặc dù thể hiện theo phong cách thời Nguyễn nhưng là những di vật cực kì có giá trị…
          Phủ Tiên Hương còn 14 văn bia, song hầu hết là văn bia tiến cúng của thời Nguyễn, thế kỉ 19 và thế kỉ 20 (theo bảo tàng lưu trữ tỉnh Nam Định).Qua những hàng loạt văn bia này chứng tỏ ảnh hưởng của phủ rộng khắp. Từ quan tới dân, từ trong tỉnh tới ngoài tỉnh đều thành tâm với cửa Mẫu, Tấm bia đá :” Quan lại cúng ngân bi ký ” làm ngày 18 tháng 6 năm Duy Tân thứ tám ( 1914 ) có ghi các quan lại đóng góp tiền để sửa chữa Phủ Tiên Hương, thấy ảnh hưởng của phủ rất lớn, các Tổng Đốc, Tuần Phủ Nghệ An, Bắc Ninh, Hà Nam, Thái Bình, các quan đốc học, tiến sĩ đương chức hay về hưu, một số quan lại khác cúng tiến…
          Tại Phủ Tiên Hương có thờ Thánh Phụ, Thánh Mẫu ( là người sinh ra Mẫu ) thờ Tam Toà Thánh Mẫu, Mgọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Ngũ Vị Quan Lớn, Quan Hoàng, Câc Bà, Các Cô, Các Cậu, Thủ Đền, Thổ Thần và có đền thờ riêng Trần Triều Hưng Đạo Đại Vương cùng Nhị Vị Vương Cô. Do vậy số ban thờ ở đây rất phong phú và đều uy nghi lộng lẫy.
          Tại cung đệ Nhị thờ Song Thân  sinh ra Thánh Mẫu, có bài vị đặt trên ngai trạm rồng rất trang trọng.
-         Bài vị để trên ngai tại  giữa gian ghi về Thân Mẫu của Tiên Chúa:
“ Sắc tặng khải sinh Thánh Mẫu Trần môn chính thất, huý Phúc hiệu Diệu Phúc, dực bảo trung hưng trung đẳng thần 
( Sắc tặng cho người sinh ra vị Thánh :
Bà là vợ Trần Công, tên huý là Phúc, tên hiệu là Diệu Phúc, vị thần bậc trung phò giúp cho cơ đồ nhà nước )
-         Bài vị để trên ngai tại gian trái
“ Sắc tặng khải sinh Thánh Phụ Trần quý công , huý Chính tự Đức Chính, dực bảo trung hưng trung đẳng thần 
( Sắc tặng cho người sinh ra vị Thánh, Thánh Phụ là Trần Quý Công, tên huý là Chính, tên tự là Đức Chính, vị thần bậc trung phò giúp cho cơ đồ nhà nước )
     Phủ Tiên Hương được bài trí nhiều đại tự câu đối tán dương công đức, câu đối treo ở toà đệ Tứ ghi:
     “ Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, vu Nga Sơn ngũ Bách dư niên quang thực lục.
Lịch triều ba cổn, vi đề nữ, vi đại vương, vi chúng mẫu, ức thiên vạn cổ điện danh bang.
Long phi Quý Sửa thu
Thanh Hoá tỉnh Đốc học Lê Hy Vĩnh phụng soạn ”.
          Tạm dịch :
( Ba đời thay đổi, ở Vỉ Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn đến nay đã hơn năm trăn năm, sự tích sáng ngời trong thực lực
Các triều phong tặng là con vua, là Đại Vương, là các mẹ, dù cho tới muôn vạn năm sau, tiếng tăm vang động khắp nhân gian.
Rồng bay mùa thu năm Quý Sửa
Đốc học tỉnh Thanh Hoá tên là Lê Hy Vĩnh kính cẩn viết ).
-         Câu đối ở gian bên, sơn son thiếp vàng trên gỗ:
“ Giáng sinh tích tại Vân hương quýnh
Bất tử danh tiêu thái lĩnh cao
Long phi kỉ tỵ niên
Phú Lương huyện tri huyện Vũ Đình Hoán bái tiến ”.
          Tạm dịch:
                   (Giáng sinh dấu vết làng Vân, đã xa rồi vậy
                   Bất tử tên nêu núi Thái, cao vút còn đây
                   Rồng bay năm Kỷ Tỵ
Quan tri huyện huyện Phú Lương tên là Vũ Đình Hoán lạy dâng)    .        
          Câu đối treo ở tiền đường (cung Đệ Tứ)
“ Chân thân tòng đế khuyết, tam giáng sinh duy trinh duy hiếu, thiên cổ mẫu nghi. Thúc nhiên xa cái vân du, do yết tâm kinh phù thế đạo.
Linh thanh liệt Nam thiên, tứ bất tử thị Phật thị Tiên, vạn gia từ mộ. Đương thử giang hà nhật hạ, khởi duyên phong hội biến Thần quyền.
Duy Tân Quý Sửu trọng thu
Nam Định Tổng Đóc Thanh Oai Đoàn Triển bái đề “ .
          Tạm dịch:
( Chân thân từ trên trời ba độ giáng sinh vẫn trinh vẫn hiếu, muôn thủa khuân mẫu người mẹ. Bỗng nhiên xe lọng xa vời, còn để tâm kinh dậy đạo lý cho mọi người.
Tiếng thiêng ở Nam Giao, thứ tư bất tử là Phật, là Tiên, mọi nhà kính mến lòng từ, đang buổi non sông ngày xuống, đâu vì phong vội thay đổi thần quyền.
Giữa mùa thu năm Quý Sửu (1913) niên hiệu Duy Tân
Tổng Đốc Nam Định quê ở Thanh Oai tên là Đoàn Triển lạy viết ).
Phủ Tiên Hương là công trình thờ tự lớn nhất tại Phủ Dầy hiện nay, là nơi thờ Mẫu được du khách vể thăm quan chiêm bái lớn nhất tại Phủ Dầy, hàng năm có tới hàng triệu người về thăm quan lễ Mẫu và thăm quan ngắm cảnh.Vẻ đẹp nơi đây quả đúng như lời thơ ghi trên bia năm Minh Mệnh thứ 19 :
                   Đẹp nhất xưa nay chính chốn này
                   Muôn dân nhờ cậy phúc ơn dầy
                   Mây vùng An Thái luôn bao phủ
                   Nức tiếng anh linh mọi điều hay.
2. Phủ Vân Cát.
Phủ Vân Cát ở phía tây bắc thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1km. Di tích toạ lạc trên một khu đất rộng 2 mẫu 3 sào Bắc Bộ, nằm giữa cánh đồng, có đường nối từ đường 56 qua Tiên Hương tới đường 12.
Quá trình xây dựng và tu sửa phủ Vân Cát đã được tấm bia "Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký" soạn năm Thành Thái Tân sửu (1901) ghi như sau: "... chọn đất dựng nền từ đời Lê Cảnh Thịnh (1663 - 1671) làm đơn giản mà đẹp. Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794 - 1800) hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. Đến năm Kỷ mão (1879) đời Tự Đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại. Năm Thành Thái thứ 10 (1898) đền phủ bị hư hại nhiều vì mưa gió nên các quan huyện... cùng các bậc thân hào đứng ra sửa. Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900) thì hoàn thành.
Phủ nằm giữa đền làng và chùa Long Vân cùng chung một sân lớn, tạo thành một quần thể kiến trúc thờ Mẫu - Thần - Phật có quy mô lớn. Đằng trước là một con đường vòng ôm lấy một hồ bán nguyệt, hai đầu có hai cầu đá dẫn vào một toà phương du ở giữa. Phương du gồm ba gian làm bằng gỗ lim, lợp ngói nam, hoành vuông cột tròn với bốn đao góc. Các xà bẩy đều được chạm mai điểu, trúc cúc, qui sen, vân ám. Xung quanh phương du có tường hoa bằng đá được đục chạm trang trí bằng hai loại hoa thị và hoa cúc. Trên bốn trụ lớn ở giữa có bốn con nghê chầu bằng đá được chạm tinh xảo. Tường hoa xung quanh hồ ở giữa là một mặt đá được chạm mai, trúc và voi với đường nét mềm mại. Phương du bốn mặt thoáng, phía trước nhìn ra cánh đồng, đó là sân để tổ chức kéo chữ trong các ngày hội và nơi đây để các quan lại ra nghỉ ngơi và xem kéo chữ.
Từ hồ bán nguyệt vào ngũ môn nơi có chứa những tấm bia cổ từ thời Tự Đức đến thời Bảo Đại. Trên năm cổng là năm toà lầu, mà ba toà giữa kết lại như tượng "tam sơn" nhằm tụ linh  tụ phúc. Trên đầu các cột trụ là những con phượng kiểu lá lật, chúng tượng trưng cho sự độ trì của thánh nhân, rồi những con lân hiện thân của sự minh triết trong sáng.
Phủ Vân Cát kiến trúc cũng theo kiểu "nội trung thiềm ngoại chữ quốc". Hai bên tả hữu có hai dãy nhà giải vũ để tiếp khách. Cung đệ nhất và cung đệ nhị đều có ba gian làm thời Tự Đức. Cả hai cung này bị Pháp phá huỷ, đến năm 1959 dân làng xây dựng lại cung đệ nhất theo kiểu cuốn và cung đệ nhị mới được tôn tạo lại năm 1992. Tại cung đệ nhất thờ Tam toà Thánh Mẫu, bao gồm Thánh Mẫu Thượng Thiên ngồi ở giữa, ngồi bên trái là Thánh Mẫu đệ nhị, bên phải là Thánh Mẫu đệ tam. Ở cung đệ nhị thờ Tứ vị chầu bà và Tam toà quan lớn và hai khám thờ quan Hoàng Mười (bên phải) và quan Hoàng Ba (bên trái).
Cung đệ tam bao gồm năm gian gỗ lim, với sáu hàng xà, ba hàng cột, hai hồi xây bít đốc, các cột có đường kính 0,3m đều rực rỡ bởi màu vàng son. Các (?) ở đây chạm rồng, long hoá và vân ám với một kỹ thuật cao. Tại đây thờ Công đồng tứ phủ cùng Bà chúa bản đền. Cung đệ tứ còn gọi là toà tiền bái gồm năm gian, làm theo kiểu thượng mễ hạ mễ, hoành vuông cột tròn đường kính 0,35m. Cung này lòng nhà rộng nhất lại được tôn cao trùng thềm với hai cung phía trong để tạo nên một không gian rộng mở. Hàng chấn song con tiện nối giữa hai lớp mái làm cho nơi đây luôn chan hoà ánh sáng. Mái làm theo kiểu chồng diêm, hai lớp gồm tám mái với các đao góc uốn cong lên. Tại đây có nhiều mảng chạm khắc rất công phu. Đó là hình hổ phù trong hình thức biểu diễn tượng cầu được mùa, những con rồng ở nhiều tư thế với cách tạo dáng rất sống động như người xưa gửi vào đó ước vọng cầu mưa, hình ảnh phượng hàm thư biểu hiện sự cao quý của thánh nhân và cầu thành đạt. Những cành mai thanh tao, những cành trúc quân tử, những quả đào đôi biểu hiện sinh sôi và trừ tà ma đưa con người hướng tới điều thiện. Những vì, những cốn, những quá giang với nét chạm ken nhau có tính chất hoành tráng là những mảng chạm nghệ thuật chắc khoẻ, nét chạm không thừa, không thiếu đã thể hiện được bàn tay tài hoa tuyệt diệu của người thợ xứ Sơn Nam.Phủ Vân Cát


          Phủ Vân Cát là một di tích quan trọng thuộc quần thể di tích Phủ Dầy. Phủ nằm trên vùng đất cao rộng trên hai mẫu đứng biệt lập phía Tây Bắc làng, không bị thổ cư che khuất cảnh quan rất đẹp. Ba phía đông, bắc, nam là ruộng, phía tây có con đường cái nên không gian thoãng dãng và bề thế.
Toàn bộ công trình nằm theo trục đối xứng đông – tây
với các toà phương du, đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ làm cân đối hài hoà.Tổng công trình có tới 10 toà lớn nhỏ đẹp về bình diện và cả không gian.
          Hai bên phủ có đền thờ Tiền vua Lý Nam Đế và chùa thờ Phật, được làm thụt vào sau, khiến phủ thờ Mẫu vẫn giữ vị trí trọng yếu.
          Trước Phủ Vân Cát là một phương du được làm giữa hồ nước mà nền được bó đá cẩn qui đẹp mắt, xung quanh có hành lang với nhiều mảng hoạ tiết như hoa chanh, voi chầu, các mảng trạm đá trúc mai..kì công. Hai phía bắc – nam có cầu đá mà dầm cầu có hoạ tiết trạm bầu rượu túi thơ, mặt cầu là những phiến đá xanh viền kép theo dáng cong cong, càng làm cho phương du thêm đẹp đẽ.

          Toà Đệ Tứ gồm 5 gian lớn làm theo kiểu chồng diêm hai tầng, 8 mái  cong cong như cánh hoa sen vươn đều hình dung đây là bông sen vươn lên thật đẹp. Những hàng bẩy vừa có dáng cong cong, trạm trổ các đề tài thông mai, cúc, trúc hoá long sống động.
          Xà ngang, xà nách, trụ non, đấu rế cùng các mảng mê cốn của công trình có chỉ soi công phu, tạo dáng các chú nghê đội trụ rất tụe nhiên, từng cấu kiện trạm tứ linh. Phần nội thất tượng pháp, ngai, kiệu, cửa võng đồ thờ hoành phi câu đối phong phú từ thế kỉ 19 - 20 là những di sản vô giá.

          Các toà hác cũng làm theo phong cách cổ truyền, thờ Tam Toà Thánh Mẫu, Ngũ Vị Tôn Quan, Quan Hoàng, câc Cô, các Cậu… đầy đủ và lộng lẫy.
          Hệ thống văn bia ở Phủ Vân Cát rất có giá trị về lịch sử đặt dưới ngũ vân lâu ba tầng ở mặt tiền. Cùng với hệ thống đồng trụ tường hoa khiến tổng công trình nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc ở đây bố cục chặt chẽ - là di tích xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.
          Trong Phủ còn lưu giữ được nhiều câu đối, đại tự, hoành phi có giá trị. Bức đại tự trên vòm cổng có ghi;
                   “ Vạn cổ trạch
Giáng sinh từ ”
          Trong cung đệ Tứ có nhiều đại tự sơn phủ rất đẹp và ý nghĩa
                   “Đản sinh cố trạch”  
          Và     “ Tiên nhân cựu quán 
          Đôi câu đối làm kiểu lòng máng treo ở cung đệ tứ có đề như sau:
 Thiên Bản lục kỳ, đệ nhất kỳ, vân lý lâu dài duy Thần thị trạch
Xuân vương tam nguyệt, tối hảo nguyệt, cát thiên thế giới hữu mẫu chi tâm thân
Duy Tân Giáp Dần xuân
Tứ Tân Sửu khoa, đệ tam giáp đồng tiến sĩ, nguyên hải Phòng đốc học Nguyễn Văn Tĩnh bái soạn “.
          Tạm dịch:
Sự lạ thứ nhất trong 6 sự lạ đất Thiên Bản, toà lâu đài ở trong mây là nơi nhà cũ của Thần.
Ba tháng Xuân có tháng này là đẹp nhất. tại bầu trời Vân Cát `       có Mẫu là thân cận hơn.
Mùa xuân năm Giáp Dần (1914) niên hiệu Duy Tân. Cho đõ đệ tam đồng tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu, vốn quan đốc học tỉnh Hải Phòng Nguyễn Văn Tĩnh lạy viết.
           Phủ Vân Cát có 9 tấm bia chữa Hán vừa ghi lịch sử, vừa tán dương công đức và ghi việc nhân dân đóng góp công sức tu sửa, làm gác chuông phục vụ ngày kỵ Mẫu. Tấm bia “ Nhị xã hoà hội phụng sự bi ký ” làm năm 1857, trên văn bia như sau:
          Bia ghi việc cùng phụng sự hội của hai xã:
          Vân Cát Thiên Bản là nơi có nhà cũ sinh ra Tiên Chúa. Sở tại do thấy thiêng thì thờ, hiện tại lâu đài xiêu vẹo, bùi ngùi với chốn linh từ, xã Thái La là xã tiếp giáp với đất sở tại, từ xưa tới lệ phụng sự vẫn coi như đền làng vậy. Nghĩ rằng thần vốn vô tư phù hộ không riêng đâu cả. Trước đây xã này đã đem trùm trưởng viên chức bàn với sở tại, đức lớn cuả Thần rất tốt, đền Tiên Chúa cực anh linh, người lễ nhà thờ, ở khắp nơi còn được huống chi tại nơi lân cận, nên có ước với nhau, hàng năm cứ tới ngày kỵ mồng 3 tháng 3 thì tới làm lễ, đến ngày 7,8,9 ba ngày ấy theo lệ cũ có cung phụng thì đưa người tới đền nói cho nhau biết về các đồ tế lễ, rồi cùng nhau phục vụ hội để nêu sự kính thành. Lấy đó làm đàu của tình hoà hiếu, nói rõ điều Thần ban sự tốt lành, đó chẳng phải là điều siểm nịnh thánh Thần, mà để cho người qua lại trông vào coi cảnh hương lân vui vẻ hoà bình hưởng phúc trên ban. Phải chăng không xuất phát từ đây, do vậy khác vào đá để ghi lại.
                   Nay viết bài ký:
          Bồng Hồ nào phải đâu xa,
          Dấu xưa tốt đẹp, thực là nơi đậy?
          Ngôi đền cao ngất mây bay,
          Non xanh như vẽ trông đầy cỏ cây.
          Thiêng liêng còn đến hôm nay,
          Khói nhang thờ phụng tháng ngày đông vui,
          Nghiêm trang khi bước tới nơi
          Vọng cầu ai dám buông lơi kính thành
          Làng ta lân cận mái tranh
          Với nơi sở tại cũng tình anh em
          Lấy tâm lấy lẽ suy xem
          Lại qua gần gũi thân quen lạ thường
          Thần minh soi xét thiện lương,
          Ban cho phúc lộc thọ trường trăm năm
Khắc bia để lại điều răn,
          Làm gương mãi mãi xa gần coi qua.
          Ngày giữa tháng 5 năm Đinh Tị, niên hiệu Tự Đức muôn muôn năm, năm thứ 10 (1857) người làng là Vân Song cư sỹ soạn lời văn.
3. Lăng mộ Thánh Mẫu.
Theo Khiếu Năng Tĩnh: Tại cồn cá chép xã Tiên Hương có ngôi mộ cổ, xung quanh cây cối xanh tươi, tương truyền là mộ Liễu Hạnh. Nhân dân trong làng mỗi khi có bệnh thường ra đây hái lá bẻ cành về sao vàng rồi sắc uống và rất nhiều người đã khỏi bệnh. Thời Minh Mệnh (1820 - 1840) quan huyện Vụ Bản cho người xây gạch quanh mộ và xây một bệ nhỏ cho mọi người đến đặt lễ[6]. Đó là lăng mộ Liễu Hạnh nằm trên cồn cá chép ở xứ Cây Đa thôn Tiên Hương.
Người ta kể rằng năm 1937, vua Bảo Đại lấy vợ lâu không có con nên Nam Phương hoàng hậu (vợ Bảo Đại) đến cầu tự ở đền Sòng (Hà Trung - Thanh Hoá) sinh ra hoàng tử Bảo Long. Sau đó Thánh Mẫu báo mộng cho biết mộ của Mẫu ở ngôi miếu xứ Cây Đa, phủ Dầy để trả ơn Mẫu. Năm 1938 vua Bảo Đại đã cho "Hội Xuân Kinh" triều đình Huế tiến hành khởi công xây dựng khu lăng Mẫu hoàn toàn bằng đá xanh và 60 búp sen hồng.
Lăng được xây dựng trên một khu đất cao với diện tích 652m². Trung điểm của lăng là một ngôi mộ hình bát giác, mỗi cạnh xấp xỉ 1,05m với đồ hình bát quái. Xung quanh có đường viền tạo những núm vú hình quả lựu mà dân gian vẫn gọi là bầu sữa mẹ biểu hiện về sức sinh sôi. Phía ngoài vào tới mộ có năm vòng tường, cạnh ngoài cùng là 24m và khoảng cách giữa các lớp tường đá như nhau: 3,6m - 3,6m - 1,2m - 1,2m. Hướng chính của lăng là hướng Tây quay về phía núi Tiên Hương, các phía còn lại đều có cửa, cửa được bổ trụ, trên đặt các nụ sen bằng đá. Tất cả búp sen nhấp nhô, xa trông như một hồ sen hoa đang chớm nở. Sau mỗi trận mưa búp sen hồng trông rất đẹp mắt. Mỗi mặt tường có bốn cột đồng trụ vuông, cao bằng nhau, hai cột chính có khắc câu đối ở ba mặt còn hai cột phụ ngoài khắc câu đối ở hai mặt. Như vậy từ ngoài vào trong có tất cả 60 cột đồng trụ to nhỏ khác nhau. Chính trên các cột đá này có mặt một đấu vuông và trên cùng là những  nụ sen.
Bốn cửa đều có bậc tam cấp bằng đá để lên xuống. Lăng được xây dựng cao dần. Từ lớp tường thứ nhất ngoài cùng vào đến lớp tường thứ hai thì nằm trên một mặt phẳng nhưng đến lớp tường thứ 3 trở vào mặt nền cứ được nâng dần và đỉnh cao nhất là khu lăng mộ. Tính từ mặt đất nền ngoài cùng cho đến phần mộ ở trên độ cao đã được nâng lên là 4,4m. Ngôi mộ được đặt ngay chính trung tâm và ở độ cao nhất của khu lăng đã tạo nên một sự bề thế trang trọng cho cả tổng thể kiến trúc.
Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Các bức bình phong này làm như một cuốn thư, hai đầu cuộn lại ở phía trên một bên là chuôi gươm và một bên là đầu một cán bút lông còn phía dưới trang trí chữ thọ với hoa lá. Ở chính giữa là hình ảnh một con phượng đang tung bay giữa bầu trời. Đối xứng từng cửa phong cách chạm giống nhau nên là những cuốn thư nhưng ở những cửa lệch nhau tuy cùng trang trí phượng và hoa lá nhưng phong cách khác hẳn. Con phượng ở cửa chính được chạm khắc cầu kỳ  hơn trên một diện tích rộng và với đường nét chau chuốt nghệ thuật. Ngược lại con phượng trên cuốn thư cửa bên, chạm với đường nét đơn giản không cầu kỳ và có phần đơn điệu.
Hoa văn ở mỗi lớp tường mang những phong cách khác nhau như những chữ thọ, khắc nổi chữ vạn trong những khối lục lăng, những hình tròn tạo thành những móc xích... Đằng sau cửa chính, nằm về phía hai góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia với bốn cột vươn lên để đỡ bộ mái được uốn cong về phía các góc đao.
Lăng Mẫu Liễu Hạnh xây dựng năm 1938. Toàn bộ khu lăng, từ nền, tường, nhà bia hoàn toàn làm bằng đá xanh, riêng 60 búp sen được làm bằng đá đỏ. Tuy kiến trúc khu lăng hoàn toàn bằng đá nhưng do cách bố cục hợp lý, chạm khắc đường nét tinh xảo nên vẫn không gây cảm giác nặng nề. Cấu trúc lăng gần gũi với một đài tế trời đất. Đây là một công trình mang tính tượng niệm, kiến trúc nghệ thuật có giá trị cao trong quần thể kiến trúc ở Phủ Dầy.
Bao quanh khu lăng mộ có nhiều cây bóng mát và bốn cột đồng trụ cao to ở bốn góc, tạo cho cảnh quan nơi đây thêm trang nghiêm bề thế.
Hiện nay, cảnh quan khu vực lăng Mẫu đang có nhiều thay đổi. Khu vực lăng Mẫu vốn trước đây không có nhà cửa, những năm gần đây địa phương đã xây nhà cho thủ từ ở, rồi đã biến nơi ở của thủ từ thành nơi thờ bố mẹ Mẫu Liễu, xây nhà vệ sinh, lắp đặt hàng rào sắt. Cảnh quan khu vực lăng Mẫu đang vị phá vỡ.Lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh Phủ Dầy


Thánh Mẫu Liễu Hạnh có ba độ sinh hoá nhưng giai đoạn giáng sinh lần hai ở Phủ Dầy làm con gia đình họ Lê lấy tên Lê Thị Thắng, còn gọi là Giáng Tiên là anh linh hơn cả có sự anh linh hỉên hiện, kì dị bất thường nổi trội  hơn cả và cũng để lại nhiều huyền thoại, ấn tượng trong dân gian hơn cả.
    Trong sách Nam Định địa dư chí của đệ tam giáp tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, là quan quốc tử giám tế tửu biên soạn năm Tự Đức thứ 32 (1879), Khiếu Năng Tĩnh thi đỗ làm quan, ông đã đề tâm tra cứu mảnh đất, con người quê hương, phải mất mấy thập kỉ sau mới thành sự. Niên hiệu Duy Tân thứ 9 (1915),Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược mới được ra đời . Phần giới thiệu Huyện Vụ Bản có ghi :
          - Tại xã Tiên Hương có ngôi mộ cổ, bốn phía cây cối xanh tốt, không khí mát mẻ, cảnh sắc u tịch. Tương truyền là mộ Công Chúa Liễu Hạnh, có bia mộ nhỏ nhưng không có chữ. Nhân dân trong vùng, làng xóm  các nơi mỗi khi có tật bệnh thường ra khu lăng mộ này hái lá, bẻ cành, hoặc đào rễ cây về sao sắc uống. Thường thì khi đến hái lá phải thắp hương trên mộ, khấn vái cầu xin sẽ khỏi bệnh. Nếu tự tiện hái lá, lại đem lời nhạo báng tất bị ốm đau. Nhưng nếu đem lễ vật ra mộ sám mối thì bệnh tất lại bình thường. Lễ vật chủ yếu là hương hoa, cốt tâm thành là được.
Có một viên quan ra mộ nghịch ngợm, về nhà bị ốm  lại sửa lễ rất to rồi khấn vái vẻ kiêu căng ngạo mạn, do đó bệnh không khỏi, mà cả vợ y cũng bị sốt cao, sau viên quan đó phải thân hành ra mộ làm lễ xám mối bệnh tình mới lui.
Khu mộ này bằng đất, đến thời vua Minh Mệnh quan huyện cho xây viền khu mộ lại xây bệ bằng gạch cho mọi người đến đặt lễ cầu may, tại cổng có câu đối ghi:
          “ Hoa thảo sao chiên năng liệu bệnh
Kính thành tuỳ phục tức an khang ”.
( Lấy cỏ hoa sao sắc mà dùng khi đau ốm
Tâm thành cầu khấn lại khoẻ như xưa ) .
Những tình tiết trong Nam Định địa dư chí  để thấy thêm về sự thể rõ ràng của người con gái họ Lê, lấy chồng họ Trần và 21 tuổi qua đời, có mộ phần an táng tại cánh đồng Quan xứ Cây Đa thuộc Tiên Hương. Từ phần mộ bằng đất qua ảnh chụp Lăng Mẫu 1936 đã dược hoàn chỉnh vào năm 1938.
          Lăng hoàn toàn bằng đá xanh, trên khu đất rộng hơn ngàn mét vuông ở cánh đồng màu xứ Cây Đa cách núi Tiên Hưong khoảng 1km và bên kia núi là mộ tổ họ Trần Lê. Khi lăng hoàn thành, Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã giáng bút, lời thơ giáng bút có bốn câu thơ chữ hán và 23 câu thơ lục bát, được Hội Xuân Kinh phổ hoá Đào chi đệ tử nam nữ phụng lập trên bia đá ngày tốt tháng Ba, Niên hiệu Bảo Đại Mậu Dần (1938):
          Vạn vật đo tòng tạo hoá công
          Bạch đầu thương nhĩ phúc du đồng
          Thông minh tự ngã hoàng thiên phú
          Vô loan liễu tục dữ đào hồng.
          ( Muôn vật từ xưa tạo hoá xây
Trẻ già đều hưởng phúc vui đầy
Trời cho thông sáng lòng ta được
Liễu biếc đào hồng cảnh đẹp thay ).
                
Dưới bốn câu thơ chữ hán, còn có bài thơ lục bát nói lên việc xây dựng lănglà do tình cảm tốt đẹp, hay nói khác là có duyên của mọi người, việc làm tốt đẹp này sẽ làm vui lòng Mẹ và Mẹ sẽ độ trì cho đàn con có cuộc sống yên vui hạnh phúc :
          “ Khen người mài sắt có công
Nên kim chẳng quản những công dùi mài
Có duyên mà cũng có tài
Năm trăm năm lẻ lâu dài là đây
Đội ơn trời đất cao dầy
Lập đền sửa mộ xưa nay mấy người ?
Phen này mẹ cũng lòng vui
Vui non vui nước vui trời bao la
Tiên Hương Vụ Băn quê nhà Mẹ đây
Đời xưa cho đến đời nay
Lê Triều kim thượng gần rày sáu trăm
Đố ai tính được mấy năm
Sáu ngàn có lẻ vầng trăng  vẫn tròn
Xuân kinh Phổ Hoá đàn con
Đàn con Phổ Hoá là con hữu tình
Hữu tình mẹ cũng thương tỉnh
Đắp xây Lăng mộ chứng minh có trời
Tiên hương linh tích muôn đời
Trường xuân phúc quả thảnh thơi lâu dài
Có duyên ở cũng có tài
Thực là tình mẹ lâu dài nghĩa con
Khá khen một tấm lòng son ”.
Tấm bia lưu giữ bài giáng bút đựoc đặt trong nhà bia làm kiểu bốn mái cong cong, đỉnh mái là búp sen, bốn đầu kìm góc đao là chim phượng. Nhà bia làm rất công phu, lại hài hoà duyên dáng. Hệ thống cột vuông lại có đấu thượng và bệ được soi chỉ kép công phu, Đặc biệt là trên mặt hai cột chính diện được khắc nổi  câu đối chữ Nôm, nổi lên thân thế ba lần sinh hoá, nêu tấm gương rất hiếu nghĩa, rất mực chung thuỷ với Mẫu.
          Lăng xây theo kiểu hình vuông mỗi cạnh 24m, từ ngoài vào trong tạo năm lớp tường hoa theo cấp độ khác nhau, tường trong cao hơn tường ngoài, tuy chiều cao tương hoa đều 1m mà vẫn thấy rõ sự vươn dần lên phần mộ, và bốn mặt tường hoa đều có cửa lên mộ, mỗi cửa lại có một bình phong làm kiểu cuốn thư, đục trạm hoa lá cách điệu nghệ thuật.
          Mỗi cạnh tường hoa có hai trụ góc, hai trụ công do vậy mỗi vòng tường có 12 trụ, trên mặt đấu và 1 búp sen khiến 5 vòng tường có 60 búp sen, đây là con số tròn trĩnh một hội  ( 60 ) mà thuyết âm dương đã đề cập.
          Hoạ tiết trang trí trên các tường hoa cũng không đơn giản, lớp ngoài tạo chấn song, lớp thứ hai tạo chữ  “thọ ”, lớp thứ ba tạo nổi chữ “ vạn ” và nền là kiểu trang trí “cẩn qui ” ( hình mai rùa ) đều đặn. Lớp thứ tự trạm các vòng tròn lồng vào nhau và lớp trên cùng tạo hình ống hương bao quanh phần mộ. Các trụ cổng cửa 5 vòng tường hoa đều trạm chỉ, tạo đấu, chạm câu đối mà nét chữ thật tài hoa, gợi cảm. Hoạ tiết và chữ ở vòng tường hoa cũng toát lên ý nghĩa trường tồn và từ thiện.
          Từ bốn cửa đông, tây, nam, bắc đều lên được phần mộ. Mộ tạo hình bát giác, mỗi cạnh dài 1m. Thân mộ trên có miệng loe ra, rồi vát lên thành mái, nhưng cẫn để lộ phần đất trống có đường kính 2.6m. là đường thông âm dương. Mỗi cạnh ở phần mái vát lại được soi chỉ và tạo 21 bông hoa nhỏ  và tất cả quanh mộ có 168 bông hoa nhỏ .
          Đăc biệt các trụ cổng lên mộ đều khắc câu đối nội dung tán dương công đức Mẫu:
-         Câu đối cửa phía Đông:
Từ ái nhất tâm nhân phụ mộ
Hiếu trinh thiên cổ nữ anh phong 
( lòng từ một lòng người kính mộ
Hiếu trinh ngàn thủa đẹp tiếng thơm )
-         Câu đối cửa phía Tây:
Diệu pháp huy chương chương bác quận
Vân phàm phố tế tế Nam Phương .
               ( phép lạ sáng ngời, ngời đất Bắc
               Mây lành che chở giúp dân Nam ).
-         Câu đối cửa phía Nam :
Bất tử sinh linh sơn hà tịnh thọ
Như sinh khí phách thiên địa trường tồn .
( Không thể mất, sự tốt đẹp và anh linh còn mãi với non sông
Chết như sống, khí tiết hào hùng tồn tại lâu dài cùng trời đất ) .
-         Một câu đối khác như sau :
Trắc dĩ nan đàn sơn thốn thảo
Ảm hà bội giác thuỷ chi nguyên .
( Uống giọt nước sông càng nghĩ về nguồn nước chảy
Trèo lên núi Dĩ ( núi Mẹ ) khó đền tấc cỏ tươi xanh ) .
          Lăng Mẫu gần đây cũng được tu sửa lại thêm khang trang và hoành tráng. Ví như xây thêm nhà thờ Mẫu khá đồ sộ và khang trang, hay tu sửa lại sân ở Lăng cho rộng rãi và lối vào thật hoành tráng.
Lăng Mẫu hiện nay đã trở thành một di tích không thể thiếu được khi mỗi khách hành hương vê với lễ hội Phủ Dầy.Và ngày càng nhiều các du khách về thăm quan dâng hương lên mộ phần bày tỏ tấm lòng thành kính đối với Mẹ.
IV. Mối quan hệ giữa các di tích ở Phủ Dầy.
Quần thể di tích Phủ Dầy nằm ngay trên quê hương của vị nữ thần chủ đạo Mẫu là Liễu Hạnh nên hệ thống thờ tự trong đạo Mẫu được sắp xếp tương đối hoàn chỉnh ở các phủ Tiên Hương và Vân Cát. Trên các điện thờ ở đây, cao nhất có Ngọc Hoàng Thượng Đế, sau đến các vị Thánh Mẫu, ngũ vị vương quan, tứ vị chầu Bà, các ông Hoàng rồi đến hàng Cô và hàng Cậu. Cuối cùng là bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng và chồng của Mẫu Liễu Hạnh cũng được thờ ở đây.
Trong những năm vừa qua tại tất cả các điện thờ ở Phủ Dầy đều được trang hoàng tô điểm rất rực rỡ. Trước hết là phần nội thất bên trong liên quan đến kiến trúc, đặc biệt là hệ thống cột, xà, các cửa võng, rèm cửa được sơn son thếp vàng lộng lẫy. Trên các bàn thờ rất nhiều đồ thờ và tượng các vị thánh của đạo Mẫu được bổ sung.
Hiện nay không chỉ trong các phủ mới thờ Thánh mẫu mà tại các ngôi chùa thờ Phật, các đền thờ danh nhân danh tướng, các vị thánh trong đạo Mẫu ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Tại đền Đức Vua, đền Công Đồng, đền Thượng, đền Công Núi, đền Giếng Găng... trước đây chỉ thờ nhân thần hay thần tự nhiên thì nay tất cả đều thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Tam toà Thánh Mẫu, thờ các quan... Nhiều di tích như đền làng Vân Cát trước có thời Lý Nam Đế nay nhân vật này không còn thờ ở chính cung mà đưa ra thờ ở cung thứ 3. Đền Đông Cuông nguyên là nơi thờ ông bà Trần Thái Tông thì nay không còn được thờ nữa mà trở thành nơi thờ Chầu bà đệ nhị tức Đông Cuông Thánh Mẫu. Đặc biệt một số di tích nguyên trước là từ đường của các dòng họ nay cũng đã chuyển sang thờ những vị thánh trong đạo Mẫu. Việc chuyển đổi phong cách thờ tự này một phần do ảnh hưởng của đạo Mẫu, nếu các di tích này không thờ đạo Mẫu chắc chắn sẽ có ít người đến lễ.
Ở xã Kim Thái các di tích tôn giáo nằm trong một tổng thể hoàn chỉnh và lấy phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát, lăng Mẫu làm trung tâm. Việc hoà nhập của tín ngưỡng đạo Mẫu vào các đền chùa ở địa phương vốn đã có từ lâu đời, chứng tỏ đạo Mẫu đã biết dựa vào tín ngưỡng của các vị thần đã được thờ tự từ trước, bao gồm nhân thần và thiên thần để tồn tại và phát triển. Trên điện thờ đạo Mẫu ở phủ Tổ, phủ Nguyệt Lãng, đền Công Đồng có cả tượng Phật Bà Quan Âm. Việc thờ chung này không có gì mẫu thuẫn vì chính đức Phật đã trợ giúp khi Mẫu Liễu Hạnh bị gặp hiểm nguy và đã đưa Mẫu Liễu quy y Phật. Lịch lễ hộ hàng năm của đạo Mẫu là "Tháng 8 hội cha tháng 3 hội mẹ". Đạo Mẫu lấy mẹ làm thần chủ thì bên cạnh mẹ phải có cha. Ở đây rất chú ý đến Đức Thánh Trần và nhiều nơi đã thờ Trần Hưng Đạo. Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần là hai trong bốn vị thánh đã được dân gian phong tặng. Hội Phủ Dầy vào tháng 3 và hội Bảo Lộc vào tháng 8 ở Nam Định là hội lớn đã nổi tiếng từ lâu. Vì vậy hai nhân vật này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tại đền thờ làng Vân Cát người ta đã đưa tượng Lý Nam Đế ra khỏi chính cung để thay vào đó là tượng Đức Thánh Trần.
Hiện nay ở xã Kim Thái Vụ Bản số lượng các kiến trúc tôn giáo tương đối nhiều. Trong toàn xã có tới 21 di tích, bao gồm các loại hình khác nhau. Căn cứ vào lịch sử các nhân vật được thờ thì nhiều di tích đã xây dựng rất lâu đời, có cái đã làm cách đây hàng nghìn năm. Vì nhiều lý do như chiến tranh, thiên nhiên ác nghiệt như bão tố lụt lội, công trình lại được xây dựng bằng những nguyên vật liệu như tre gỗ hay hư hỏng nên các kiến trúc này được sửa chữa và xây dựng lại nhiều lần. Tất cả những lần đại tu đó, dấu vết xây dựng của các lần trước để lại rất mờ nhạt và gần như không còn gì. Trong khoảng gần chục năm trở lại đây nhiều di tích bị chiến tranh, thiên nhiên tàn phá đã dần dần được khôi phục. Một số công trình như đền Đông Cuông, Phủ Bóng, Phủ Bà đều sử dụng các nguyên liệu hiện đại là xi măng và sắt thép để xây dựng. Có những kiến trúc mới được bổ sung như ở khu vực lăng Mẫu đã phá vỡ toàn bộ tổng thể kiến trúc ở đây.
Hiện nay các di tích ở xã Kim Thái đều được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX cho đến nay. Phủ Vân Cát xây dựng vào năm 1900. Di tích này vừa kỷ niệm 100 năm đại tu vào tháng 3 năm 2000. Phủ Tiên Hương hoàn tất các công trình xây dựng vào năm 1914 và lăng Mẫu được khánh thành vào năm 1938. Ngoài ba di tích chủ yếu trên, các công trình kiến trúc khác như chùa Cao nhìn bề ngoài trông rất cổ kính nhưng chỉ có cây cửu phẩm được xây dựng vào năm 1873 còn lại đều được sửa chữa lớn trong vòng 100 năm trở lại đây. Theo một câu đối ghi lại thì đền Thượng được xây dựng vào năm 1578 nhưng thực tế đền làm lại vào năm 1933 và gần đây mới xây cung thứ 4.
Công việc sửa chữa và xây dựng các di tích có ảnh hưởng nhiều của kiến trúc cung đình Huế. Đó là phong cách kiến trúc nhiều lớp nối tiếp nhau để có một không gian sử dụng rộng rãi hơn, thông thoáng hơn nhưng vẫn tạo nên một sự thâm nghiêm, bề thế. Hầu hết các di tích ở đây đều xây 4 hoặc 3 cung trùng thiềm nối tiếp nhau. Chỉ có một vài di tích vẫn mang được phong cách truyền thống như xây dựng theo kiểu chữ đinh phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ như chùa Cao, chùa Tiên Hương, đình ông Khổng.
Nhìn chung phong cách xây dựng ở các di tích thuộc xã Kim Thái mang rõ bản sắc kiến trúc dân tộc. Phong cách xây dựng bên ngoài cũng như cấu trúc chạm khắc bên trong các di tích đã được những người thợ tài hoa trên đất Nam Định ứng dụng những kinh nghiệm quý báu của cha ông, kết hợp với những tìm tòi sáng tạo để có những công trình phong phú đa dạng, tạo nên một phong cách kiến trúc tôn giáo Nguyễn muộn nhưng rất tiêu biểu trong Phủ Dầy.
Quần thể di tích Phủ Dầy là một vùng tín ngưỡng mang sắc thái độc đáo riêng của một vùng quê văn hiến Nam Định. Các hoạt động về tôn giáo, về văn hoá tại Phủ Dầy không chỉ phản ánh nhu cầu về tâm linh trong tâm hồn người dân mà còn đòi hỏi ở các nhà nghiên cứu xã hội nhân văn khẳng định đạo Mẫu là một tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc Việt. Bài nghiên cứu nhỏ này mong góp một phần vào sự nghiệp đó.

Chú thích:
[1] Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc. Các nữ thần Việt Nam. HN. Nxb Phụ Nữ 1984.
[2] Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, Sự tôn thờ các vị thánh bất tử ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên,Việt điện u linh của Lý Tế Xương, Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính...
[3] Theo bản Giới thiệu lịch sử phủ Tiên Hương do Bùi Văn Tam biên soạn
[4] Nam Định tỉnh địa dư chí mục lục của Nguyễn Ôn Ngọc. Bản dịch của Bảo tàng Nam Định.
[5] Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lục của Khiếu Năng Tĩnh. Bản dịch của Bảo tàng Nam Định.
[6] Nam Định tỉnh địa dư chí lược. Khiếu Năng Tĩnh. Bản dịch của Bảo Tàng tỉnh Nam Định.
- Lịch sử: Khu di tích Phủ Dầy (Phủ Giầy, Phủ Giày) hiện còn các công trình như phủ Tiên Hương, phủ Vân Các, Công Đồng từ, đền thờ Lý Nam Đế, chùa Linh Sơn, lăng bà chúa Liễu Hạnh. Trong đó, 3 di tích chính là Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và Lăng mộ Thánh Mẫu (bà chúa Liễu Hạnh).
          Phủ Tiên Hương: Vào cuối thế kỷ XVI, di tích chỉ làm bằng tranh tre, đến giữa thế kỷ XVIII, được xây bằng gạch. Đời Cảnh Trị (1663-1671) được mở rộng. Trải qua nhiều lần tu sửa, phủ cũ vẫn còn dấu tích gọi là phủ Cổ có bốn gian. Năm Duy Tân thứ 8 (1914), tổng đốc Nam Định là Đoàn Triển sai lính cùng nhân dân địa phương xây dựng và mở rộng quy mô của phủ Tiên Hương to lớn như hiện nay.

          Phủ Vân Các: Quá trình xây dựng và tu sửa phủ Vân Cát đã được tấm bia Thánh Mẫu cố trạch linh từ bi ký soạn năm Thành Thái Tân Sửu (1901) ghi như sau: “ …chọn đất dựng nền từ thời Lê Cảnh Trị (1663-1671) làm đơn giản mà đẹp. Khoảng đời Cảnh Thịnh (1794-1800) Hội nguyên Trần Gia Du, thiếu tả giám Trần Công Bản đã mở rộng ra. Đến năm Kỷ Mão (1879) đời Tự Đức, quan huyện Lê Kỳ đã sửa lợp lại. Năm Thành Thái thứ 10 (1898), đền phủ bị hư hại nhiều vì mưa gió nên các quan huyện… cùng các bậc thân hào đứng ra sửa. Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900) thì hoàn thành”.
          Lăng mộ bà chúa Liễu Hạnh: theo Khiếu Năng Tĩnh trong Nam Định dư địa chí lược Tại Cồn Cá Chép xã Tiên Hương có ngôi mộ cổ, xung quanh cây cối xanh tươi tương truyền là mộ Liễu Hạnh. Nhân dân trong làng mỗi khi có bệnh thường ra đây hai lá bẻ cành về sao vàng rồi sắc nước uống nên rất nhiều người đã khỏi bệnh. Thời Minh Mệnh (1820-1840) quan huyện Vụ Bản cho người xây gạch quanh mộ và xây một bệ nhỏ cho mọi người đến đặt lễ. Đó là lăng mộ Liễu Hạnh nằm trên cồn Cá Chép ở xứ Cây Đa thôn Tiên Hương. Năm 1938, vua Bảo Đại đã cho “ Hội xuân kinh” triều đình Huế tiến hành hưng công xây dựng khu lăng Mẫu.

- Không gian: Quần thể di tích Phủ Dầy gồm hơn 20 đền, phủ, chùa, lăng,... nằm trải đều trong một không gian đẹp với cảnh quan thiên nhiên phong phú, có núi có sông xen giữa ruộng đồng màu mỡ.
- Đặc điểm nổi bật:
 Phủ Dầy là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng truyền thống của người Việt tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản. Trong đó, kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh(phủ chính), ngay sát chợ Viềng.
Hội Phủ Dầy được tổ chức hàng năm vào tháng 3 âm lịch. Lễ hội nhằm tổ chức nghi lễ, thắp hương biết ơn bà chúa Liễu Hạnh. Cùng thời điểm này, bà Chúa Liễu Hạnh cũng được thờ tại nhiều lễ hội khác trên Việt Nam, nhưng hội Phủ Dầy thuộc vào loại long trọng nhất, với sự tham gia của đông đảo dân chúng.
- Các dịch vụ liên quan: Ngày nay, khu di tích Phủ Dầy đã trở thành một điểm đến không thể thiếu cho những chuyến du lịch vùng đất Nam Định. Chính điều đó đòi hỏi các dịch vụ cần thiết được cung cấp ngày càng đầy đủ và chất lượng hơn từ ăn uống, nghỉ ngơi, thư giãn cho đến vui chơi, đi lại,… 
- Các địa điểm du lịch ở gần: Chợ Viềng, Đền Vĩnh Lại, Đền Bảo Lộc, Chùa Phổ Minh, Chùa Đại Bi, Đền Trần, Biển Quất Lâm, Bãi biển Thịnh Long, Vườn quốc gia Xuân Thủy,…

http://farm3.staticflickr.com/2316/2334370264_64ca6de615_o.jpg

http://farm3.staticflickr.com/2253/2334371190_988affef42_o.jpg

http://vns360.vn/upload/files/279/du-lich-tam-linh-phu-giay-nam-dinh%20(4).jpg

http://mytour.vn:8080/pictures/tours/bwn1357889624.jpg

http://static.panoramio.com/photos/large/36666382.jpg





















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét