Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Khi anh lấy em, cháu lấy dì

- Hôn nhân cận huyết là vấn đề nhức nhối trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên. Hôn nhân cận huyết không chỉ làm suy thoái giống nòi mà những hệ lụy sinh học (trẻ mắc bệnh dị tật di truyền) còn kéo theo hệ lụy kinh tế xã hội (đói nghèo, bệnh tật, thất học…).

Những cuộc hôn phối loạn luân
Với quan niệm con cháu cùng nhà kết hôn với nhau sẽ gần gũi, đoàn kết hơn, không phải phân chia tài sản cho người ngoài và không sợ mất con, anh Vàng A Chua (Suối Bu, Văn Chấn, Yên Bái) đã lấy em họ của mình là Mùa Thị Chia. Bà Nguyễn Thị Tư, Vụ trưởng Vụ Dân tộc thiểu số (Ủy ban dân tộc) cho biết, cặp vợ chồng Chua - Chia là một trong số rất nhiều cặp vợ chồng hôn nhân cận huyết thống theo phong tục của người Mông. Cũng theo bà Tư, thống kê của Trung tâm nghiên cứu và phát triển dân số (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế), tại một số dân tộc như Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê đê, Chu Ru, Pu Péo, Mông, Brâu… cứ 100 trường hợp kết hôn có 10 cặp là hôn nhân cận huyết.
Hôn nhân cận huyết không phải là chuyện mới. Nó đã tồn tại trong mạch ngầm của đời sống xã hội từ thuở sơ khai của loài người. BS Dương Minh Hiền, Phó chi cục trưởng Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Cao Bằng cho biết: Mặc dù Nhà nước đã cấm kết hôn cận huyết nhưng tình trạng trên vẫn diễn ra. Ở Cao Bằng, hôn nhân cận huyết thường gặp ở dân tộc Dao (64%), Mông (61%) và Tày (23%). Do là quan niệm lâu đời nên thủ tục rất đơn giản. “Có trường hợp, anh vừa sinh con gái, em sang chơi mang cho vuông vải phần để mừng đứa cháu mới chào đời, phần cũng là “miếng trầu bỏ ngõ”, đánh dấu cô cháu gái tương lai sẽ trở thành nàng dâu của mình”, BS Hiền trao đổi.
Theo TS Lê Cảnh Nhạc, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), chuyện mình là thông gia của chính mình tương đối phổ biến ở các dân tộc thiểu số. Khảo sát của Tổng cục DS-KHHGĐ cho thấy trung bình mỗi năm cả nước có thêm ít nhất trên 100 cặp hôn nhân cận huyết. Tình trạng này diễn ra khá mạnh mẽ tại các tỉnh Hòa Bình, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Kạn…
Trẻ vị thành niên vùng cao có nhiều thiệt thòi trong tiếp cận kiến thức hôn nhân gia đình. Ảnh minh họa: Phan Hải
Nỗi đau dai dẳng
Hôn nhân cận huyết phổ biến ở việc con bác lấy con dì, con chị gái lấy con em trai, cháu lấy dì, thậm chí có trường hợp đứa lớn được cho đi làm con nuôi khi lớn lên lại quay về lấy em gái mình.
Theo PGS TS Trần Đức Phấn (Trưởng bộ môn Sinh y học và di truyền, ĐH Y Hà Nội), hầu hết những đứa trẻ sinh ra từ các cặp vợ chồng hôn nhân cận huyết dễ có nguy cơ mắc các bệnh di truyền do sự ảnh hưởng của môi trường đối với sự kết hợp các gen lặn mang bệnh. Các bệnh thường gặp là hồng cầu hình liềm, rối loạn chuyển hóa, tan máu bẩm sinh, bạch tạng, mù màu…
Theo TS Đặng Dũng Chí, Viện trưởng Viện nghiên cứu quyền con người, với số con trung bình của phụ nữ dân tộc là 3 thì tổng số trẻ được sinh ra từ những cặp hôn nhân cận huyết sẽ rất nhiều. Với tỷ lệ trẻ bị khuyết tật và chết khoảng 11% thì hàng ngàn trẻ sẽ bị loại khỏi nguồn nhân lực trong tương lai. Bên cạnh đó, còn là số trẻ bị suy dinh dưỡng (khoảng 70%), đây là nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái giống nòi, làm ảnh hưởng đến chất lượng dân số và nguồn nhân lực các tỉnh miền núi.
Ở rất nhiều bản làng, người dân chưa hề nghe đến khái niệm Luật Hôn nhân và Gia đình và cũng không nhận thức được việc con cô, con cậu lấy nhau làm vợ chồng là kết hôn cận huyết thống. Vì vậy, khái niệm về hậu quả của hôn nhân cận huyết đối với họ lại càng mù mờ.(Lò Thị Vương, Phó Trưởng ban Dân tộc tỉnh Lai Châu).










































Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Làng Đình Bảng

Đình Bảng là một phường thuộc thị xã Từ Sơntỉnh Bắc Ninh, được thành lập từ làng Đình Bảng gồm có 9 xóm. Sau này thêm phố Chùa Dận, xóm Mới và 4 Nông khu.
Phường rộng 8,3 km2 và có 16.771 dân (tháng 9/2008). Phía Đông giáp phường Tân Hồng, phía Tây và phía Nam giáp huyện Gia Lâm, phía Bắc giáp phường Trang Hạ.
Làng Đình Bảng trước đây được khai khẩn từ rừng Báng nên gọi là làng Báng, sau được đổi tên thành thôn Cổ Pháp. Khi đình Báng được xây dựng và nổi tiếng mọi người biết đến Cổ Pháp qua đình Báng và được gọi lái đi là làng Đình Bảng.
Đình Bảng xưa vốn thuộc hương Cổ Pháp (hương là đơn vị hành chính cổ gồm nhiều xã, làng), huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn. Hương Cổ Pháp và rộng hơn là vùng hai bờ sông Thiên Đức vàsông Tiêu Tương nối từ Gia Lâm ngày nay qua Đình Bảng tới Tiêu Sơn chính là nơi phát tích của nhà Lý.
Đình Bảng được coi là vùng quê địa linh nhân kiệt. Đây là nơi phát tích vương triều Lý, là quê hương của Lý Thái Tổ – người khởi lập triều Lý, khai sáng Thăng Long Hà Nội.
Đình Bảng giáp Hà Nội là cửa ngõ mở thông lên phía Bắc nên nơi đây có phong trào cách mạng sôi nổi, là an toàn khu của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ, tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám (1940- 1945). Nơi tổ chức Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII đã họp tại nhà Đám Thi ở Đình Bảng từ ngày 9 đến 11/11/1940. Làng Đình Bảng đã vinh dự được Bác Hồ về thăm 3 lần (lần 1 ngày 13/9/1945, lần 2 ngày 5/2/1946 – tức mồng 4 Tết Bính Tuất, lần 3 ngày 30/10/1946) và các cán bộ cách mạng như Trường Trinh (Nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Đông Dương), Hoàng Quốc Việt (Ủy ban thường vụ Trung Ương Đảng), Hoàng Văn Thụ,...
Nhân dân Đình Bảng được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bằng “ CÓ CÔNG VỚI NƯỚC “, lá cờ THIẾU NIÊN ANH DŨNG do chính phủ và Trung Ương đoàn thanh niên cứu quốc, lá cờ ủy ban Kháng chiến chiến khu 12 tặng dân quân xã Đình Bảng, lá cờ TUỔI TRẺ VÌ HÒA BÌNH của liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới tặng đội thiếu niên du kích xã Đình Bảng
Ngày nay ở Đình Bảng còn có di tích lịch sử đền Lý Bát Đế (hay còn gọi là Đền Đô (nơi lớn nhất thờ 8 vị vua nhà Lý), đình Đình Bảngchùa Xuân Đài– hay còn gọi là Kim Đài (nơi Lý Công Uẩn từng đi tu), Thọ Lăng Thiên Đức (nơi chôn cất các vị vua nhà Lý), chùa Cổ PhápĐền Rồng thờ Lý Chiêu Hoàng – vị vua thứ chín của thời Lý, nhà Tam Tự đường họ Nguyễn Thạc.
Đình Bảng nổi tiếng với rượu nấu từ nếp cái hoa vàng, bánh phu thêgiò lụathịt chuột.
Nghề săn chuột tại làng rất phát triển và món thịt chuột cũng rất phổ thông trong thực đơn của nhà. Người Đình Bảng săn chuột không phải để kiếm sống như nhiều nơi khác. Còn người “chén” chuột cũng không phải vì nghèo mới phải ăn. Món thịt chuột xuất hiện thậm chí cả trong mâm cỗ cưới, ngày nay thì không còn dùng nữa.
Theo người trong làng, Đình Bảng săn chuột không phải để kiếm sống như nhiều nơi khác và thịt chuột cũng không phải là món ăn chỉ dành cho người nghèo. Nó xuất phát từ việc giúp mùa màng bội thu.
Về Đình Bảng Bắc Ninh ăn đặc sản thịt chuột
Sau vụ gặt, bạn có thể theo chân trai làng Đình Bảng đi săn chuột. Ảnh: vnphoto

Ở Đình Bảng, người dân bắt chuột đồng để ăn quanh năm nhưng nếu muốn theo chân người làng đi săn chuột thì du khách nên tới đây sau vụ gặt bởi chuột nhiều và béo. Nếu đang hình dung về những chú mèo lang thang ngõ xóm thì khi bước chân vào làng, khách du lịch sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thay vì mèo, ở đây nhà nào cũng nuôi chó để bắt chuột.

Người Đình Bảng dùng chó để săn chuột chứ tuyệt đối không dùng cách đào hang. Cách này giúp bắt được nhiều chuột và vẫn còn sống sau khi bị bắt. Dùng bẫy cũng là cách phổ biến để bắt chuột ở đây, nhưng chuột thường bị gãy chân, chết trước khi người làng kịp thu gom. Ngoài ra, bắt chuột theo cách truyền thống vẫn được áp dụng vào mùa rơm rạ. Người làng đốt rơm rồi quạt cho khói xông vào các cửa hang chỉ chừa lại cửa duy nhất buộc chuột phải chạy ra ngoài và chui vào rọ.

Chuột bắt về bẻ răng rồi sơ chế bằng cách lột da, cắt bỏ tứ chi, đuôi, hạch cổ hạch bẹn, vứt ruột chỉ lấy tim gan cật, treo lên cho ráo nước.Vì thế thành ngữ “ướt như chuột lột” cũng bắt nguồn từ đây. Ở một số nơi thuộc Đình Bảng, chuột còn được thui vàng lột da nên khi chế biến rất thơm và béo.
Về Đình Bảng Bắc Ninh ăn đặc sản thịt chuột
Thịt luộc ép lá chanh là món phổ biến nhất. Ảnh: vespaviet

Thịt chuột đồng có màu trắng và thơm ngon như thịt gà, được sử dụng như một nguyên liệu chính, kết hợp với các phụ gia để chế biến nhiều món ăn từ đơn giản đến cầu kỳ. Trong đó, phổ biến nhất là thịt luộc ép lá chanh. Thịt luộc chín, vớt ra ép thớt cho chảy bớt nước mỡ, để vài giờ lấy ra chặt nhỏ, rắc lá chanh chấm với muối chanh tiêu, ăn sẽ giòn và đậm đà hơn thịt gà.

Thông dụng không kém là món chuột đồng nấu đậu. Thịt được chặt thành miếng rang trên bếp với nước mắm đến khi dậy mùi thơm thì cho đậu phụ vào om, lúc bắc ra cho thêm ít hành răm ăn với bún.

Với những thực khách sành đồ nhậu, chuột xào xả ớt là món không thể bỏ qua khi đến Đình Bảng. Sau khi ướp tỏi, gia vị, ngũ vị hương, nước tương, thịt được xào trong chảo mỡ phi hành, tỏi và sả ớt giã nhuyễn. Khi chín múc ra đĩa, hương thơm của sả và vị cay nồng của ớt sẽ hòa quyện cùng vị béo ngậy của thịt, ăn lúc còn nóng thì có lẽ không món nào bằng.
Về Đình Bảng Bắc Ninh ăn đặc sản thịt chuột
Ăn chuột nướng trong mùa lạnh ngon nhất. Ảnh: dlna

Ngoài ra, chuột đồng còn được chế biến thành các món chuột nấu đông, chuột giả cầy, chuột rán, chuột xào chua ngọt hay sốt cà chua, khiến không ít người phải ứa nước miếng khi các món được bày ra trước mắt. Người dân ở Đình bảng cho biết, ăn thịt chuột đồng rất lành, có tác dụng mạnh khí, giảm đau, liền xương.

Ngày nay thịt chuột ở Đình Bảng tuy không còn thịnh như ngày trước khi có mặt ở nhiều nơi, nhưng những người sành ăn Hà Nội vẫn thường tìm về Đình Bảng để thưởng thức món ăn dân dã. Đến đây, không quá khó để tìm được hàng quán bán các món ăn từ chuột đồng ở các thôn Xuân Đài, Thịnh Lang, thôn Hạ, Thượng, Đình.

Nếu có dịp đến với Đình Bảng và chưa từng một lần thưởng thức đặc sản của quê hương Kinh Bắc, hãy bỏ qua nỗi sợ hãi ban đầu và nếm thử các món ngon từ thịt chuột, chắc chắn sẽ nghiền và muốn ăn lại lần hai.
Cỗ Đình Bảng
Làng Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 20km về phía bắc. Đặc điểm: Làng Đình Bảng có mười lăm xóm họp lại thành một làng, cả làng thành một xã.
Theo chiều dài lịch sử, Đình Bảng là một làng trù phú, kinh tế văn hoá phát triển, thuận lợi giao thông thủy và bộ. Nằm ở vị trí tiếp giáp, nối liền miền đồi núi đông bắc với đồng bằng phía nam cho nên Đình Bảng là nơi hội tụ và đón nhận ảnh hưởng của cả phương bắc, phương nam, phía đông và phía tây. 
Bước chân vào làng Đình Bảng, ta như vào một đô thị sầm uất, nhộn nhịp nhưng vẫn thấy cái riêng của một làng quê có truyền thống lịch sử và văn hoá. Mỗi tên xóm, tên thôn, tên đất đều mang một dấu ấn lịch sử. Đình Bảng là đặc trưng tiêu biểu của làng xã Việt Nam vừa mang đậm tính dân tộc, vừa có vóc dáng của làng xã văn minh hiện đại.
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ THĂM ĐÌNH BẢNG :
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và dự Lễ kỷ niệm Lý Bát Đế tại làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, ngày 13-9-1945.
2.  Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm ngôi đình làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, địa điểm họp dự bị của Quốc hội, tháng 2-1946.
3. Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cụ Nguyễn Phụ Doãn, làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tháng 10-1946*.
4. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị tổng kết công tác cải cách ruộng đất Đoàn Bắc - Bắc tại làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, ngày 17-12-1955.
Đình làng Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đặc điểm: Đình làng Đình Bảng là một ngôi đình cổ kính và nổi tiếng nhất của đất Kinh Bắc.
Là quê hương của Lý Công Uẩn (tức Lý Thái Tổ) người lập ra triều Lý và khai sáng kinh đô Thăng Long (năm 1010).
Đình Bảng có cụm di tích văn hóa, nhất là những di tích về thời Lý, tạo thành một khu lưu niệm độc đáo, âm vang lịch sử, có tầm cỡ quốc gia, đủ cả: Đình, đền, chùa, lăng, tẩm,... đặc trưng của một văn hóa làng Việt Nam.
Đình Bảngtên Nôm là đình Báng là một ngôi đình nằm ở làng Đình Bảng (xưa là làng Cổ Pháp hay tên Nôm là làng Báng), thị xã Từ Sơntỉnh Bắc Ninh. Đình được xây dựng vào cuối thế kỷ 18, thờ các vị thành hoàng gồm Cao Sơn Đại vương (thần Núi), Thủy Bá Đại vương (thần Nước) và Bách Lệ Đại vương (thần Đất) đồng thời thờ sáu vị có công lập lại làng vào thế kỷ 15.
Đình Bảng là một trong những ngôi đình có kiến trúc đẹp nhất còn tồn tại đến ngày hôm nay. Người xưa đã có câu:
Thứ nhất là đình Đông Khang,
Thứ nhì đình Bảng, thứ ba đình Diềm.
Đình Đông Khang đã bị tàn phá, đình Diềm trước có năm gian hai chái nay chỉ còn ba gian hai chái. Chỉ còn đình Bảng là tương đối nguyên vẹn.
Đình làng Đình Bảng được xây dựng năm 1700 và đến năm 1736 mới được hoàn thành, do công đầu của của quan Nguyễn Thạc Lương, người Đình Bảng và bà vợ rất đảm đang Nguyễn Thị Nguyên quê ở Thanh Hóa đã mua gỗ lim về dâng làng, xây dựng ngôi đình có thế trường tồn. Đình thờ 3 vị thành hoàng: Cao Sơn đại vương (Thần Đất), Thuỷ bá đại vương (Thần Nước) và Bạch lệ đại vương (Thần Trồng Trọt).
Toà Bái Đường của đình có hình chữ nhật, dài 20m, rộng 14m, chia làm bảy gian, hai chái nằm trên nền cao bó đá xanh có bậc cấp. Vẻ đồ sộ của đình thể hiện qua phần mái toả rộng và những cột lim hiếm thấy ở những ngôi đình khác. Có khoảng 60 cột lim lớn nhỏ có đường kính từ 0,55 - 0,65m.
Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc rất đa dạng, chạm trổ tinh vi, chau chuốt, hài hoà. Kết cấu bộ khung đình khá vững chắc, gắn với nhau bằng các loại mộng. Mỗi bức chạm khắc ở đình là một tác phẩm nổi tiếng độc nhất vô nhị. Càng chiêm ngưỡng, càng thêm bị cuốn hút: Bức Bát mã quần phi, tám con ngựa nhởn nhơ chơi trên đồng cỏ, đất nước thanh bình, con vật cũng vui. Bức lưỡng nghê phục chầu, con đực, con cái, mỗi con một vẻ. Những bức chạm rồng tuyệt xảo: Long vân đại hội, Ngũ long tranh châu, Lục long ngự thiên... từng bức, từng bức gợi tả bao điều.
Đình Bảng gồm tòa đại đình đồ sộ nối với hậu cung phía sau theo dạng mặt bằng hình chuôi vồ, còn gọi theo dạng chữ Nho là kiểu "chữ đinh" 丁. Toà đại đình dài 20 m, rộng 14 m, cao 8 m, phần mái rủ xuống đẹp đẽ chiếm tới 5,5 m tổng chiều cao.
Vẻ độc đáo của ngôi đình thể hiện ở không gian mái đình tỏa rộng, nét đồ sộ của những đầu đao, quy thức thích nghi với khí hậu gió mùa, và trang trí điêu khắc dày đặc.[1]
Đình Bảng có kết cấu hệ kèo chồng rường, gồm bảy gian hai chái (gian phụ). Đình được dựng trên nền cao có thềm bó bằng đá xanh. Đặc biệt, đình mang kiến trúc nhà sàn với sàn gỗ bề thế cao 0,7 m so với mặt nền, sáu hàng cột ngang và mười hàng cột dọc bằng gỗ lim có đường kính từ 0,55m (với cột con) đến 0,65m (với cột mẹ) được kê trên các tảng đá xanh.
Nóc đình cao tới 8 mét với tỷ lệ mặt đứng của phần mái lớn hơn phần thân (mái chiếm hai phần ba chiều cao của đình) tạo nên cảm giác bề thế. Đình lợp ngói mũi hài và có các đầu đao vươn xa nhất trong các các công trình kiến trúc gỗ cổ truyền tại Việt Nam. Đình có cửa bức bàn bao quanh.






Nội thất đình được trang trí với rất nhiều chủ đề phong phú như rồngphượngtùngmaitrúc, bầu rượu, thanh gươm. Đặc biệt, hình tượng rồng chiếm một tỷ lệ lớn với số lượng khoảng 500 hình. Gian chính điện (gian giữa) có sàn thấp, lát gạch lá nem. Gian này thấp nhất, thuật ngữ là "lòng thuyền". Sàn ván các gian hai bên cao dần, tổng cộng là hai cấp, phân biệt địa vị của các hương chức khi họp việc làng để người ngồi "chiếu trên", kẻ ngồi "chiếu dưới" tùy theo vai vế trong làng.[2]
Bức cửa võng và tấm trần che của gian chính điện được chạm trổ công phu. Trên ván nong, phía dưới bao lơn của hàng cột cái và cột con có một bức chạm hình "Bát mã quần phi" (Bầy ngựa tám con đang phi) với các đáng điệu rất sống động. Trong đình có nhiều bức hoành phicâu đối được sơn son thếp vàng.
















Lời tiên tri

Đình làng Đình Bảng thuộc thôn Đình, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh (xưa là hương Cổ Pháp). Vùng địa linh này là quê hương Lý Công Uẩn, người lập ra triều Lý và khai sáng kinh đô Thăng Long (năm 1010).

Đình làng Đình Bảng là một ngôi đình cổ kính nổi tiếng nhất của đất Kinh Bắc, được xây dựng năm 1700 và đến năm 1736 mới hoàn thành, do công đầu của quan Nguyễn Thạc Lượng, một người làng Đình Bảng.

Nếu như không có đợt đại trùng tu khi phải mổ xẻ gần như toàn bộ kiến trúc của ngôi đình thì những bí mật không bao giờ được khám phá. Và người nắm rõ những điều im ỉm hàng trăm năm nay không ai ngoài ông Đặng Đình Luân- Trưởng ban quản lý đình Đình Bảng. Sau ngày về hưu, năm 1990 ông Luân làm Bí thư chi bộ thôn Đình, năm 1995 vào ban quản lý đình và năm 2007 đến nay, ông giữ cương vị Trưởng ban quản lý. Gần 22 năm gắn bó, đó cũng là quãng thời gian xảy ra nhiều biến cố đối với ngôi đình, đó là lý do tại sao ông nắm nhiều bí mật về ngôi đình đến vậy.

Theo ông Luân, bối cảnh lịch sử sau chiến tranh, cũng như các đình chùa khắp cả nước, đình Đình Bảng bị xuống cấp nghiêm trọng. Ông Luân kể rằng ở làng Đình Bảng, từ lâu người ta vẫn truyền nhau lời tiên tri của ông Nguyễn Thạc Lượng căn dặn con cháu rằng 300 năm sau ngôi đình sẽ hư hỏng nặng nhưng không thế mà bị phá bỏ. Sẽ có một bè gỗ lim nổi lên lấy đó để sửa lại đình. Ở thời điểm gần 300 năm sau, lời sấm truyền cứ văng vẳng bên tai, nhưng nghĩ đến chuyện có bè gỗ lim tự dưng "nổi lên" hoàn toàn là chuyện hoang đường trong khi ngôi đình ngày càng bị mối mọt làm hư hỏng đi rất nhiều.

Ông Luân kể: "Thế rồi đầu năm 2000, một đoàn khảo sát của Trung ương về nghiên cứu việc trùng tu. Đến khi gỗ lim được đưa về để trùng tu người ta mới giật mình bởi lời tiên tri của cụ Nguyễn Thạc Lượng cách đây 300 năm cực kỳ chính xác. Thêm nữa, trên các xà của đình có khắc những dòng chữ Hán. Ngày trước các cụ biết chữ Hán, nhưng chẳng ai trèo lên để đọc. Thế là những bí mật về những dòng chữ đó cứ theo năm tháng không được hé lộ.Một đoàn khảo sát của Nhật về Đình Bảng làm việc. Tôi mới nhờ họ dịch những dòng chữ này. Nhìn vào bản dịch mới biết những dòng chữ đó khắc tên những người cung tiến của cải để xây đình. Trong đó có người là sinh đồ, có xã trưởng, hương cống... Dòng chữ khắc ghi công đức cụ Nguyễn Thạc Lượng sau ngày trùng tu đã không còn giữ được vì gỗ đã quá mục nát. Âu cũng là lời tiên tri của cụ sau 300 năm sẽ có biến cố. Không ai bác bỏ công lao của cụ, nhưng đó có lẽ là sự chuyển giao thời kỳ". Qua đó cũng sáng tỏ việc xây đình Đình Bảng là do sự góp sức của cả dân chúng, trong đó công đầu thuộc về vợ chồng ông Nguyễn Thạc Lượng.
 
Hàng nghìn chi tiết cột, kèo, họa tiết không hề giống nhau.
Giờ đây, ông Luân đã có toàn bộ danh sách người công đức xây đình.

Hàng nghìn chi tiết không giống nhau
 
 
Kiến trúc tinh xảo
 
Ngôi từ đường dòng họ Nguyễn Thạc được xây dựng trong 14 năm, dưới triều vua Lê Hy Tông, ban đầu là tư gia của cụ Diệu Đình Hầu Nguyễn Thạc Lượng. Ngôi nhà cổ được xây dựng theo kiến trúc cổ Kinh Bắc với vật liệu chủ yếu là gỗ lim được chạm khắc tỷ mỉ, công phu và có những hoa văn, họa tiết gần giống với đình làng Đình Bảng. Người Đình Bảng cho rằng việc xây dựng ngôi từ đường này để cụ Nguyễn Thạc Lượng tuyển thợ để xây đình Đình Bảng.
Theo kết quả khảo sát, phải thay thế 28 cột đình. Nhưng khi hạ giải toàn bộ ngôi đình người ta phát hiện thêm 32 chiếc cột khác cũng bị hư hỏng. "Có một chi tiết chẳng mấy ai để ý, nhưng nó vô cùng trùng khớp lạ lùng là có tất cả 60 chiếc cột phải sửa. 60 là con số của một vòng quay tính theo âm lịch và ứng với 60 vì sao. Mà theo các nhà thiên văn học công bố cũng có 28 vì sao đã biến mất, 32 vì sao còn lại bị thương", ông Luân cho biết.

Ông Luân công nhận rằng đó chỉ là chiêm nghiệm riêng của bản thân. Nhưng đó một điều rất độc đáo mà trước nay không ai ngờ đến, khi tháo gỡ ra mới biết hàng nghìn chi tiết trong ngôi đình không có chi tiết nào giống nhau. "28 bộ long và hàng chục bộ ly, quy, phượng được chạm trổ không một bộ nào giống nhau về ngoại hình, kích cỡ. Đó là những đường chạm trổ cực kỳ tinh xảo. Kể cả những vẩy phía trong thân rồng cũng được các thợ chạm trổ ngày trước luồn lách đục đẽo để làm nên những kiệt tác có một không hai. Điều đặc biệt, mỗi con long, ly, quy, phượng đều mang hình hài, sắc thái khác nhau", ông Luân cho biết.

Điều đặc biệt đó chưa hết. Trong tổng số 84 cột đình - gian đại bái 60 cột, cung thờ 24 cột - không một chiếc cột nào có chu vi bằng chiếc cột nào. Mỗi cột mang một con số khác nhau. "Điều này nhìn bằng mắt thường chúng ta cũng có thể phân biệt được một số cột lớn. Tôi cứ nghĩ do ngày trước xây dựng cần phải một số lượng gỗ lớn dẫn đến việc khó tìm cho bằng được những khối lim bằng nhau. Nhưng đến khi hạ giải xuống nhận ra chẳng cái nào bằng cái nào, thì giả thiết của tôi có lẽ là không phải", ông Luân cho biết. Bước vào gian giữa đại bái, nhìn những chiếc cột trụ chính, chúng tôi cũng có thể nhận thấy chúng không có kích thước bằng nhau. Nhưng không hề nhận thấy sự khập khiễng trong kiến trúc một chút nào.

Năm 2009, công việc dựng lại đình một lần nữa được tiến hành. "Thay vì đặt bệ đá trên mặt đất mềm như các cụ ngày trước. Đội thi công đã tiến hành đổ bê tông phía dưới làm phần nền. Sau đó kê bệ đá làm chỗ đứng cho 84 chiếc cột. Tất cả đều lấy cốt 0 làm chuẩn. Sau khi dựng cột lên, mọi người mới sửng sốt, chẳng có chiếc cột nào có chiều cao giống nhau cho dù chúng cùng một vị trí. Nhìn cột thấp cột cao mọi người mắt tròn mắt dẹt nhìn nhau. Cuối cùng đành phải đổ lại bê tông với cốt phù hợp cho mỗi cột. Từ đó mới luận ra cách làm của các thợ xưa. Chỗ nào đất lún thì đóng sâu, chỗ nào chắc thì để nông, rất linh hoạt", ông Luân kể.

Từ việc trùng tu đình ngày hôm nay mà mọi người vẫn chưa biết bằng cách nào để người thợ xưa dựng được ngôi đình với những cột gỗ nặng hàng chục tấn. "Ngay chiếc trần giữa của gian đại bái đã nặng xấp xỉ 3 tấn, mà phải đưa từ trên xuống, thì không hiểu cách đây 3 thế kỷ các cụ đưa lên bằng cách gì?", ông Luân băn khoăn. Ở làng Đình Bảng, các cụ cao niên 80 - 90 tuổi kể lại rằng, trước đây khi làng mạc còn thưa thớt vẫn còn rất nhiều ao hồ, hố sâu quanh đình. Người nay cho rằng, người xưa đã lấy đất đắp cao để đưa những tấn gỗ nặng đó lên cao.




























Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Các quan niệm vềnguồn gốc loài người

Các quan ni
ệm về
ngu
ồn gốc lo
ài ngư
ời
Các v
ấn đề về nguồn gốc sự sống, nguồn
g
ốc lo
ài ngư
ời v
à ngu
ồn gốc vũ trụ đ
ã t
lâu luôn luôn đư
ợc xem l
à nh
ững vấn đề
thư
ờng xuy
ên lôi cu
ốn sự quan tâm của
nhân lo
ại.
Quan ni
ệm thần thoại v
à tôn giáo:
Chuy
ện thần thoại về nguồn gốc lo
ài
ngư
ời từ thời Trun
g Qu
ốc cổ đại đ
ã k
ể về
bà N
ữ Oa d
ùng đ
ất sét nặn ra con ng
ư
ời
và th
ổi v
ào đó linh h
ồn để tạo n
ên s
s
ống. Trong
các
huy
ền
tho
ại
Ai
C
ập
chuy
ện
th
ần
Hanuman
c
ũng
dùng
đ
ất
t
ạo
ra
con ngư
ời tr
ên các bàn xoay
làm đ
ồ gốm, rồi đ
ưa linh h
ồn cho c
on
ngư
ời “Đất sét” m
à th
ần đ
ã sáng t
ạo, v
à
nhi
ều chuyện khác nữa,... Ng
ư
ời Việt cổ
t
ừ xa x
ưa c
ũng giải thích theo huyền
tho
ại cho rằng nguồn gốc dân tộc m
ình là
“Con R
ồng, cháu Ti
ên”. R
ồi đến kinh
thánh c
ủa Thi
ên chúa giáo thì gi
ải thích
ngu
ồn gốc các lo
ài
v
ật v
à loài ngư
ời một
cách có h
ệ thống, điển h
ình là chuyên
th
ần Ađam v
à Eva ch
ỉ trong một tuần lễ
đ
ã sáng t
ạo ra tất cả muôn vật, muôn lo
ài,
k
ể cả lo
ài ngư
ời. Theo kinh thánh th
ì
ngày th
ứ 5, Tạo hoá đ
ã hoàn thành vi
ệc
sáng t
ạo các động vật thuỷ sinh v
à c
him,
đ
ến ng
ày th
ứ 6 th
ì xu
ất hiện các lo
ài
đ
ộng vật khác v
à con ngư
ời.
Quan ni
ệm của Linnaeus về vị trí phân
lo
ại lo
ài ngư
ời:
C
ần phải nói ng
ư
ời Cổ Hy Lạp lần đầu
tiên đ
ã
đưa ra các quan ni
ệm khoa học về
ngu
ồn gốc sự sống từ h
ơn 500 năm trư
ớc
Công nguyên.
Nhà phân lo
ại học
Linnaeus là ngư
ời đầu ti
ên x
ếp con ng
ư
ời
vào h
ệ thống phân loại của thế giới sinh
v
ật. Năm 1758, cuốn sách “Hệ thống tự
nhiên” xu
ất bản lần thứ 2, trong đó
Linnaeus đ
ã x
ếp ng
ư
ời v
ào b
Linh
trư
ởng
(Primates).
Ông
đ
ã
đ
ặt
tên
cho
gi
ống
ngư
ời
Homo
g
ồm
2
loài: Homo sapiens và Homo
troglodytes. Riêng H. troglodytes theo
mô t
ả của các nh
à du l
ịch l
à loài ngư
ời
ch
ỉ hoạt động ban đ
êm và có đ
ặc tính gần
gi
ống đ
ư
ời
ươi và h
ắc ti
nh tinh. Đ
ến năm
1760, Carl Hoppius, là m
ột học tr
ò c
ủa
Linnaeus, đ
ã mô t
ả một lo
ài ngư
ời gọi l
à
H. caudatus
-
ngư
ời có đuôi. Điều đó gây
nên dư lu
ận xôn xao. Tuy nhi
ên,
Linnaeus
ch
quan
ni
ệm
m
ột
loài
H.
sapiens
ch
y
ếu,
4
ch
ủng
ng
ư
ời
khác nhau: Ngư
ời Âu da trắng,
ngư
ời Mỹ da đỏ, ng
ư
ời A da v
àng và
ngư
ời Phi da đen. Nh
à bi
ến
hình
lu
ận
Buffong
không
đ
ồng
ý
v
ới
Linnaeus
cho
r
ằng
ch
m
ột
gi
ống ng
ư
ời
duy nh
ất. Đến thế kỷ XVIII con ng
ư
ời đ
ã
có v
ị trí xác định trong
h
ệ thống phân
lo
ại sinh giới.
2. V
Ị TRÍ PHÂN LOẠI CỦA LO
ÀI
NGƯ
ỜI TRONG GIỚI ĐỘNG VẬT
Loài
ngư
ời
thu
ộc
ngành
dây
s
ống
(Chordata),
phân
ngành
xương
s
ống (Vertebrata),
l
ớp
Thú
(Mammalia),
phân
l
ớp
Thú
b
ậc
cao
(Eutheria),
b
ta
y (Primates), h
Homonidae, gi
ống Homo. Lo
ài ngư
ời (
Homo sapiens) thu
ộc lớp Thú đ
ã
đư
ợc
xác đ
ịnh, mô tả, có 3 lớp phụ: Prototheria
(có thú m
ỏ vịt), Theria (có kanguru) v
à
Eutheria (Đây là l
ớp phụ có bộ Primates.
B
ộ n
ày l
ại chia l
àm 2 b
ộ phụ l
à Prosimii
(c
ó
ợn
cáo)
Anthropoidea
g
ồm
các
siêu
h
ọ,
như
Ceboidea
(Kh
đuôi
dài), Cercopithecoidea
(Kh
Mandrill)
Hominoidea.
Siêu
h
Hominoidea
2
h
là Pongidae (Có các vư
ợn
ngư
ời, nh
ư kh
ỉ đột v
à h
ắc tinh tinh) v
à
Hominoidae (ch
ỉ có
loài ngư
ời).
B
ộ có tay phân hoá th
ành hàng trăm loài,
trong đó có loài ngư
ời (Homo sapiens).

V
ề các giống v
ư
ợn ng
ư
ời ng
ày nay, thì
h
ọ khỉ dạng ng
ư
ời gọi tắt l
à vư
ợn ng
ư
ời,
g
ồm các giống chính: v
ư
ợn, đ
ư
ời
ươi,
gorila và tinh tinh. Nhi
ều nghi
ên c
ứu cho
th
ấy
trong các gi
ống v
ư
ợn ng
ư
ời th
ì tinh
tinh có quan h
ệ họ h
àng g
ần nhất với
ngư
ời.