Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

NGUYỄN TRÃI

















ĐẠI TIỆC BỐN PHỦ HẰNG NIÊN

ĐẠI TIỆC BỐN PHỦ HẰNG NIÊN

Ngày 9/1: Tiệc Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế và Cửu Thiên Huyền Nữ Công Chúa
+ Ngày 12/1: Tiệc Trần Triều Đệ Nhất Vương Cô Quyên Thanh Công Chúa
+ Ngày 15/1: Đại Lễ Thượng Nguyên

- Tháng hai:


+ Ngày Mão đầu: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Đông Cuông
+ Ngày 3/2: Tiệc Trần Triều Đức Ông Đệ Tam Đông Hải Đại Vương Cửa Đông Cửa Suốt Trần Quốc Tảng
+ Ngày 6/2: Tiệc Tứ Vị Vua Bà Đền Cờn Môn
+ Ngày 12/2: Tiệc Mẫu Tuyên Quang
+ Ngày 14/2: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh
+ Ngày 15-16/2: Tiệc Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ (Chúa Bói)
+ Ngày 21/2: Tiệc Sòng Sơn Quốc Mẫu ( tiệc Mồng 2 /2 : sửa bởi hien_dongphu )

- Tháng ba:

+ Ngày 2/3: Tiệc Trần Triều Cô Bé Cửa Suốt Tĩnh Huệ Công Chúa Cặp Tiên Linh Từ
+ Ngày 3/3: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên Phủ Dày
+ Ngày 7/3: Tiệc Cậu Bé Quận Đồi Ngang
+ Ngày 14/3: Tiệc Chầu Đệ Tứ Khâm Sai
+ Ngày 17/3: Tiệc Chầu Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân

- Tháng tư:

+ Các ngày trong tháng: Đại Lễ Nhập Hạ
+ Ngày 12/4 : Tiệc Chúa Thác Bờ

- Tháng năm:

+ Ngày 5/5: Tiệc Trần Triều Đệ Nhị Vương Cô Đại Hoàng Công Chúa
+ Ngày 10/5: Tiệc Đản Nhật Chầu Lục Cung Nương Chín Tư Hữu Lũng
+ Ngày 25/5: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh Ninh Giang Kì Cùng

- Tháng sáu:

+ Ngày 10/6: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Tam Thoải Cung Thác Hàn
+ Ngày 12/6: Tiệc Mẫu Thác Đền Hàn và Đản Nhật Cô Bơ Bông
+ Ngày 16/6: Tiệc Chúa Bà Năm Phương Bản Cảnh Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa Cấm Giang
+ Ngày 24/6: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Tam Thuỷ Quốc Bơ Phủ Vương Quan Lảnh Giang Xích Đằng

- Tháng bảy:

+ Các ngày trong tháng: Đại Lễ Tán Hạ
+ Ngày 7/7: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
+ Ngày 13/7: Tiệc Quan Triệu Tường Tống Sơn Thanh Hoá
+ Ngày 17/7: Tiệc Ông Hoàng Bảy Bảo Hà

- Tháng tám:

+ Ngày 20/8: Tiệc Trần Triều Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Kiếp Bạc Linh Từ
+ Ngày 22/8: Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình Thoải Phủ Đồng Bằng Linh Từ

- Tháng chín:

+ Ngày 2/9: Tiệc Cô Bé Suối Ngang Phố Vị Lạng Sơn
+ Ngày 9/9: Tiệc Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu và Cô Chín Giếng Sòng Sơn Linh Từ
+ Ngày 13/9: Tiệc Cô Đôi Cam Đường
+ Ngày 19/9: Tiệc Cô Chín Đền Sòng
+ Ngày 20/9: Tiệc Công Đồng Bắc Lệ và Tiệc Chầu Lục Cung Nương

- Tháng mười:

+ Ngày 10/10: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Mười Nghệ An

- Tháng mười một:

+ Ngày 1/11: Tiệc Trần Triều Đức Ông Điện Suý Phù Ủng Đại Vương Phò Mã Phạm Ngũ Lão
+ Ngày 10/11: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Thanh Tra Giám Sát

- Tháng mười hai:

+ Các ngày trong tháng (trước ngày 23 tháng chạp): Đại Lễ Tất Niên
+ Ngày 10/12: Tiệc Đản Nhật Đức Ông Trần Triều Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
+ Ngày 25/12: Tiệc Chúa Đệ Tam Lâm Thao (Chúa Ót, Chúa Chữa)

MỞ PHỦ THEO LỐI CỔ

- Là những người có phúc (nghĩa là có con cái Nam Nữ)
- Có lộc (nhà cửa cơ bản đàng hoàng)
- Có thọ và an, là người khoẻ mạnh, vợ chồng hạnh phúc sống hoà nhã, từ bi, không tham lam độc ác, dã tâm, hiểu về đạo được thánh ngự ban, được mọi người tôn xưng kính trọng.
- Mở phủ theo lối cổ
+ Một thầy sau khi hầu mẫu và cô đại hoàng về soát đàn thì hầu 5 quan
+ Quan đệ Nhất chứng đàn
+ Quan đệ Nhị (mở phủ đệ nhất và đệ nhị nhận đồng)
+ Quan đệ Tam (mở phủ đệ tam và đệ tứ nhận đồng)
+ Quan đệ Tứ về nhận 4 phủ, nhận đồng
+ Quan Tuần về tiễn đàn
+ Chầu bà đệ Nhị chứng đàn chúa trình trầu cau cho đồng
+ Chầu lục, cung nương tiễn đàn chúa, trình trầu cau, sang khăn cho đồng.
- Đây gọi là mở phủ chéo
* Nếu tân đồng có căn kim chi, đôi nước (nghĩa là cả nhà trần lẫn 4 phủ)
- Một thầy hầu ba giá mẫu, giá đức ông về soát đàn, cô đệ nhị đại hoàng chứng đàn, chứng lễ, mã nhà trần tiễn đàn nhà trần, cho đồng đội lệnh nhà trần
- Hầu 5 quan: quan nào về mở phủ quan ấy
- Hầu chầu bà đệ Nhị, chầu Lục (như trên)
* Bốn thầy
- Cả 4 thầy ngồi ngay ngắn trước công đồng, mỗi người loan giá về một vị quan, tiến hành khai đàn mở phủ, vị mở phủ quan đệ tứ là người tiếp tục hầu quan tuần tiễn đàn và hầu chầu sang khăn cho đồng
- Nhà Trần được hầu riêng kiểm soát đàn lễ, nếu căn kim chi thì một trong 4 vị đồng thầy hoặc thêm 1 vị nữa hầu chứng đàn nhà Trần cho đội lệnh nhà Trần ở điện thờ nhà Trần, sau đó mới xuống phủ hoặc đền mở phủ.

CĂN ĐỒNG BỐN PHỦ

CĂN ĐỒNG BỐN PHỦ

1- Tìm hiểu về chữ căn

[IMG]

Căn vốn có nghĩa là gốc rễ (rễ cây),nó còn có nghĩa để chỉ căn do (nguyên nhân) của sự vật hiện tượng.Số là số mệnh,số phận của con người.Quả là kết quả có được theo Luật Nhân quả.Dân gian cho rằng số mệnh con người do con tạo xoay vần,do thiên cơ định sẵn ,nghĩa là do trời định.Đạo Phật không có quan niệm số mà chỉ có quan niệm về luật nhân quả :gieo nhân nào gặt quả đó, không có chuyện số phận do một thế lực siêu nhiên nào tạo ra.Thông thường người Việt Nam vẫn tin cả số mệnh và luật nhân quả.Vậy căn số có thể hiểu là số phận con người không phải ngẫu nhiên mà đã được định trước bị chi phối bởi quy luật nhân quả ( người ta còn gọi là căn quả). Luật nhân quả xét tới cả tiền kiếp và hậu kiếp. Khi xem xét tam kiếp (ba sinh): tiền kiếp-hiện kiếp- hậu kiếp (kiếp trước , kiếp này và kiếp sau gọi chung là ) Phật giáo giải thích được chuyện có người ăn ở lương thiện mà vẫn nghèo khổ, xui xẻo ,kẻ phá bĩnh làm việc ác mà vẫn sung sướng chưa bị quả báo là do họ vẫn còn nghiệp báo từ kiếp trước và quả báo chưa hiện ra trước mắt nhưng chắc chắn sẽ hiện ra2 Căn đồng số lính, căn tứ phủ..Căn đồng số lính có thể hiểu là số phận của 1 người đã được định sẵn là phải ra hầu thánh để làm lính,làm đồng bốn phủ.dĩ nhiên điều đó cũng tuân theo quy luật nhân quả:gieo nhân nào thì gặp quả đấy,dĩ nhiên cũng như gieo hạt giống thì đến lúc hạt nẩy mầm thành cây cây ra hoa kết quả thì cũng còn phụ thuộc vào hoàn cảnh vào tay người chăm sóc,Hạt giống đc chọn để gieo tuy ko phải giống tốt nhưng ngày nay bạn chăm sóc tốt cây vẫn có thể ra trái ngon và ngược lại.Bạn nghĩ xem nói về căn đồng số lính cũng có thể có trường hợp 1 người kiếp trước báng bổ thần thánh, phá hoại đền chùa ,không tin vào nhân quả,không thành tâm biết ơn các vị thần thánh..hay chế giễu những người đi lễ thành tâm nơi cửa thánh,cũng có thể họ thấy nam giới đi lễ họ chê cười thì kiếp này có thể họ lại phải đèn hương phụng sự,ra bắc ghế hầu thánh,.Điều gì cũng có thể sảy ra .Cũng có thể tiền kiếp tuy ta nhất tâm phụng sự cửa thánh nhưng chưa trọn vẹn thì kiếp này ta lại tiếp tục phụng sự.Và còn muôn ngàn căn do khác mà ta ko biết dc.Nhưng như mình đã nói dù hạt giống ko tốt nhưng nếu kiếp này ta sống tốt chăm sóc tốt cho cây của chúng ta thì nó cũng có thể ra hoa thơm quả ngọt.3, Mở phủ:Mở là mở đầu, phủ là nói về tín ngưỡng thờ tam tứ phủ. Tín ngưỡng thờ tam tứ phủ đặc trưng bởi nghi thức hầu đồng. Mở phủ chính là nghi lễ mở đầu để cho một người trở thành một đồng tử (con đồng).Thưc tê vẫn có những người mở phủ mà không hầu và không mở phủ nhưng vẫn hầu.Nhiều người làm lễ trình đồng tiễn căn, tức là trình lên tứ phủ để xin thần thánh xem xét về căn đồng của mình và xin tiễn căn ( thải đồng) hay nói nôm na là trả nợ tứ phủ rồi và xin trở lại là người bình thường không có đồng bóng gì nữa.Kết luận: căn mở phủ, căn đồng cũng có nghĩa như nhau

[IMG]
4, Vị thánh cai đầu đồng và cầm bản mệnh . Người ta cho rằng mỗi người có một vị thần cai quản số mệnh của mình ( vị thần cầm bản mệnh). Mỗi tín ngưỡng, tôn giáo..lại có những vị thần khác nhau. Có thể vị thần cầm bản mệnh lại là chư Phật và Bồ Tát, hay các vị thần trong đạo giáo trung hoa như ngọc hoàng, nam tào tinh quân.....Cũng nhiều sách viết về vị thần cầm bản mệnh nhưng lại nói danh hiệu về các loài hoa như quế hoa công chúa, mai hoa công chúa..Trong tín ngưỡng thờ Mẫu tam tứ phủ các vị thần cầm bản mệnh hiển nhiên là các vị thần thuộc hệ thống tam tứ phủ.Các vị đó gồm quan lớn, chầu bà, thánh hoàng,thánh cô, thánh cậu...Các vị thánh Mẫu được coi là thần chủ của tín ngưỡng này và với hình tượng uy nghi các ngài được quan niệm là không cai bản mệnh của ai cả ( mặc dù thực tế vẫn có số ít các thầy bói phán căn mệnh của một người là căn Thánh Mẫu , hay có người tự nhận là căn Mẫu được Mẫu báo mộng này nọ...).Các vị thần cầm bản mệnh là cai quản căn số của một người. Các vị chấm đầu đồng cũng có vai trò tương tự nhưng là cai quản về căn đồng số lính của một đồng tử. Chấm đồng cũng giống như chấm lính bắt lính. Hình dung một người được các quan lại thời xưa chấm lính ( biên tên vào sổ đi lính) rồi sau đó đến thời hạn các quan lại bắt lính.Về đồng bóng các cụ xưa có câu:
Chấm đồng từ thủa mười baĐến năm mười bảy phải ra trình đồng
Các con số có tính chất thí dụ không mang tính cố định, người ta có thể hát khác đi như:
Chấm đồng từ thủa lên baĐến năm muời tám phải ra trình đồng
Nhiều người quan niệm về mối liên hệ giữa vị thánh căn mệnh của mình và số phận bản thân mình.Những quan niệm đó đa phần là truyền miệng và cũng không thuyết phục. Thí dụ như ghế cô bơ thì tình duyên trắc trở, căn ông bảy thì mê cờ bạc, căn chầu bé thì tính đành hanh, căn ông mười thì đỗ đạt làm quan to...Nếu xét về luật nhân quả thì quan niệm trên không đúng. Nhưng thưc tế rất nhiều người sau khi đi xem bói nghe nói mình căn ông bảy thì bắt đầu tập hút thuốc, căn cô chín thì muốn học tử vi để sau này bói, căn chầu lục thì tập ăn trầu... Mọi người đều muốn chững tỏ mình là căn vị thánh đó. Nhiều người nói là họ đua đòi là kệch cỡm. Nhưng xét cho cùng con nào cũng muốn giống mẹ giống cha. Nếu một người mộ một vị thánh nào đó thì cũng rất có thể vị thánh đó là vị thần cầm bản mệnh của họ, bởi lẽ đó cũng là nhân duyên.Mọi người rất muốn biết vị thánh căn mệnh của mình.Có người được mơ thấy thần thánh, đi xem bói, được người ngồi đồng phán bảo, xem trong sách, hay tự cảm nhận...Đối với riêng tôi để tìm vị thánh bản mệnh nên tìm hiểu hai chữ tâm linh có tâm thì ắt có linh5. Chữ đồng: Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ( tôi không dùng từ đạo Mẫu) thì nghi lễ hầu đồng ( hầu bóng, hầu thánh, lên đồng...) là một nghi lễ quan trọng và mang tính đặc trưng. Từ đồng thường được viết dưới dạng chữ hán nôm là 
[IMG]

. Có nhiều cách giải thích về chữ đồng ( trong đồng bóng) và hầu hết đều cho rằng đồng là người được bóng thánh (hoặc linh hồn) ốp vào .Giải thích chữ đồng ở đây giống chữ đồng trong từ chỉ đứa trẻ con là vì khi hầu đồng thì người ngồi đồng giống như chiếc ghế để thánh ngồi ( từ cốt có nghĩa là xác, có thể quan niệm khi hầu thánh người ngồi đồng chỉ là xác để chư thánh điều khiển ).Khi đó người ngồi đồng không còn là chính mình nữa mà mang hình bóng của thần thánh (không quan niệm hồn thần thánh nhập vào và chỉ quan niệm bóng thánh ảnh vào mà thôi). Người ngồi đồng giống như đứa trẻ con thơ ngây trong sáng , quên đi cái tôi của mình mà hóa nhập vào hình bóng thần thánh.6.Các nghi lễ :tôn nhang bản mệnh-trình đồng tiễn căn- trình đồng mở phủ ( còn có trình đồng rồi khất một khỏag thời gian rồi mới ra hầu)Việc tôn nhang bản mệnh có thể làm với tất cả mọi người, những ai muốn tôn thờ vị thần bản mệnh để vị đó che chở có thể làm nghi lễ này. Cuốn lục thập hoa giáp có ghi vị thần bản mệnh theo 60 hoa giáp. Ứng với mỗi người tra năm sinh thì sẽ ra và không phân biệt hay ghi chú về việc có căn đồng hay không. Hơn nữa chữ đồng đâu liên quan khi một người tôn nhang bản mệnh. Thông thường khi làm lễ mở phủ người ta cũng làm lễ tôn nhang bản mệnh cho tân đồng, thường có một bát nhang để tân đồng mang về hương khói hoặc có thể gửi ở đền , điện..Nhưng cũng có người mở phủ mà không làm lẽ tôn nhang- họ cho rằng mở phủ là đã tôn thờ huơng khói tất cả chư vị tiên thánh rồi. Về căn đồng nhiều người giải thích là nợ tứ phủ và phải ra trình đồng để giả nợ. Nôm na là nợ đồng thì phải trình đồng.

Có người trình đồng mở phủ và có người trình đồng tiễn căn. Trình đồng tiễn căn áp dụng với những người có đồng nhưng không có điều kiện để mở phủ ( vì sau lễ mở phủ người ta còn phải hầu đồng tiếp) hoặc không muốn mở phủ, hay quan niệm về nhẹ căn nhẹ số nên có thể không cần phải hầu còn người nặng căn nặng số thì bắt buộc phải ra. Trình đồng mở phủ xong thì người đó được gọi là tân đồng sau ba năm thì được coi là một thanh đồng thật sự thường thì trong ba năm đầu người ta có thể thay thầy đổi chủ, và khi đủ ba năm kể từ ngày mở phủ thì có thể coi là yên ổn và không nên mở phủ lại nữa. Các cụ có câu ba năm thử lính chín năm thử đồng có lẽ vì vậy mà sau mười hai năm ( một giáp đồng) thì người có khả năng hay gọi là có căn số làm quan thầy có thể làm một buổi lễ nhận sắc ấn để làm thầy thiên hạ. Nghi lễ trình đồng mở phủ và trình đồng tiễn căn tương đối giống nhau.Người ta thường bày bốn chum nước có dán giấy 4 màu đỏ xanh trắng vàng , tương ứng với bốn phủ thiên nhạc thủy địa ( dán vào thân chum hoặc nắp chum) .Lễ mở phủ thì có mở nắp chum còn lễ tiễn căn thải đồng thì không mở nắp.

tam toà thánh mẫu

Tứ phủ” là từ để chỉ các loại điện Mẫu trong tín ngưỡng thờ tự dân gian vốn có từ rất lâu đời, nay đang tồn tại và phát triển tại các làng xã, các nhà tư (điện Mẫu tư gia), hình thành nên loại hình điện thần trong nhiều khuôn viên kiến trúc khác nhau.
Điện thần là một kiến trúc độc lập giành riêng cho việc thờ Mẫu Tứ Phủ, được vinh danh là các ngôi đền thờ Mẫu ngoài Mẫu thần theo thiết chế Nho giáo.
Điện thần là một kiến trúc nhỏ trong khuôn viên chùa làng, hình thành nên cấu trúc đặc biệt trong chùa “Tiền Phật, hậu Mẫu” (ban thờ Phật phía trước theo hướng chùa, ban thờ Mẫu phía sau, nằm trên cùng trục thần đạo, nhưng ngược hướng).
Điện thần là kiến trúc độc lập trong tổng thể khuôn viên nhà chùa, thường gặp ở hầu hết các chùa trong nhiều làng xã ở Vĩnh Phúc hiện nay.
Điện Mẫu là một kiến trúc nhỏ độc lập trong khuôn viên của một gia đình ở thôn xóm mà chủ nhân là các ông đồng, bà đồng, những người có “căn” với loại hình tín ngưỡng về Mẫu Tứ Phủ, về các bà Chúa, ông Hoàng, là những nhân vật trong nội dung điện thần về Mẫu. ở trường hợp này, khi mới khởi nghiệp, các ông đồng, bà đồng thường dễ dãi ép điện Mẫu vào gian chái nhà ở, trong khi ấy gian giữa nhà chính đường có bàn thờ gia tiên.
Trong các bộ phận kiến trúc “điện Mẫu” nêu trên, thường tại đó được bài trí ban thờ “Mẫu Tứ Phủ”. Vậy thì, Mẫu Tứ Phủ là gì mà lại được nhiều người tôn sùng như thế?
Mẫu Tứ Phủ xuất phát là một tín ngưỡng thờ âm - Dương. Biểu hiện cụ thể là thờ Mẹ, thờ Cha. Mẹ, Cha là hai khái niệm về âm dương. Sự hoà hợp âm dương để sinh ra muôn loài, trong tư duy “Dương sinh - âm thành”: Cha sinh ra, Mẹ nuôi dưỡng. Cụ thể:


- Mẹ là: Một tư duy về bốn miền vũ trụ. ở đó mỗi miền có một nữ thần cai quản ở vị trí cao nhất, được suy tôn là Mẹ. Chữ Hán Việt đọc là Mẫu.
Có Mẹ cai quản vùng trời, được gọi là Mẫu đệ nhất Thượng Thiên.
Mẹ cai quản miền núi rừng, được gọi là Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn.
Mẹ cai quản miền sông bể được gọi là Mẫu đệ tam thuỷ cung. Gọi nôm là Mẫu Thoải (do chữ Thuỷ mà ra).
Mẹ cai quản miền đất đai được gọi là Mẫu đệ tứ địa Phủ.
Trong tâm thức dân gian, các “Mẹ” (Mẫu) đó đều thuộc dòng các tiên nữ.
Cha là vua cha Bát Hải động đình, thuộc dòng rồng, là long vương ở dưới nước, thuỷ cung.
Đây là một tích hợp văn hoá cha Rồng - mẹ Tiên, hồi cố (hoặc là hiện thân) của huyền thoại Lạc Long Quân - âu Cơ, vị thuỷ tổ khai sinh dòng Bách Việt, trong đó Lạc Việt và âu Lạc là lớp dân cư (tộc người) Việt cổ, Việt Nam. Đó là do đã tiếp thu những ảnh hưởng của tục thờ cúng tổ tiên. Một tín ngưỡng có vai trò quan trọng hàng đầu trong tín ngưỡng của dân tộc Việt.
Mẫu Tứ Phủ được hình thành trước hết xuất phát từ tín ngưỡng thờ nữ thần trong dân gian phạm vi ảnh hưởng là ở làng xã, hình thành nên các nữ thần điện (tức là điện thờ các nữ thần). Từ thần điện các nữ thần, không gian văn hoá tâm linh vượt ra ngoài làng xã, cộng cảm với niềm ao ước xa xôi, bao quát không gian vũ trụ, về sự sinh thành đang có nhu cầu một sự quy tụ. Sự quy tụ ấy để thế gian gửi gắm niềm tin và hi vọng, ấy là một Bà Mẹ. Bà Mẹ ở muôn nơi: ở trên trời, ở dưới đất, ở bốn phương, nghĩa là ở khắp mọi miền của đất nước được bao bọc. Từ chữ “Mẹ”, đến chữ “Mẫu” (âm Hán Việt) được định hình, được khái quát hoá, mang ý nghĩa thiêng liêng về nguồn cội.
Con người từ khi xuất hiện, đã cần có những nhu cầu vật chất để duy trì sự sống. Cùng với sự phát triển của ý thức, của tư duy thì cái ăn được quy về vị trí thứ nhất của sự sống theo trình tự: ăn, mặc và ở.
Người nguyên thuỷ dựa vào phương thức săn bắt hái lượm để đảm bảo cái no. Dùng vỏ cây để làm quần áo mặc để bảo toàn cái ấm. Dùng cây cao làm nhà ở để chống thú dữ. Trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình chế độ tư hữu và nhà nước”, F.Engels đã chỉ rõ: ít nhất con người còn sống trên cây một phần, thì mới có thể giải thích được rằng họ có thể sinh tồn cùng thú dữ.
Cây rừng cho quả ăn, cho áo mặc, cây rừng che chở con người, từ đó một khái niệm về một bà “Mẹ Dưỡng” xuất hiện, đó là bà mẹ cây (hay “Mẹ rừng”), đi vào tâm thức:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Cây và Rừng trong tổng thể không gian miền thượng du (miền núi), làm nên một tư duy huyền thoại về bà mẹ Rừng xuất hiện, cùng một ý nghĩa với câu ngạn ngữ đã được Nho hoá: “tam mộc thành sâm” với nghĩa: Một cây không nên được rừng, chứ 3 cây gộp lại thì đủ nên được rừng.
Việc thờ Mẫu mang tính chất là thờ Mẹ Cây Rừng hiện nay còn thấy rõ nét ở nhiều nơi, và đó là xuất xứ của Mẫu Thượng Ngàn.
Thượng Ngàn của tỉnh Vĩnh Phúc là dãy Tam Đảo, dãy núi chủ sơn thuộc đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Bà Quốc Mẫu ở núi Tam Đảo, cũng có xuất xứ từ bà Mẹ Rừng, vì vậy triều đình phong chức tước cho bà là Tam đảo sơn trụ Quốc Mẫu đại vương. Chữ Trụ có bộ mộc là cây, là sự thừa nhận ý nghĩa của rừng “Tam mộc sâm đình”, một sự thờ Mẫu ban đầu là Mẫu Sơn Lâm, tức Mẫu Thượng Ngàn.
Vậy, Bà Mẹ rừng hay Mẫu Thượng Ngàn là hệ Mẫu sớm nhất trong hệ Mẫu Tứ Phủ về sau, có ở Vĩnh Phúc.
Chính vì vậy, mà cho đến nay, trong một số điện Mẫu ở làng xã Vĩnh Phúc, trên Mẫu điện, vừa có tượng Quốc Mẫu Tây Thiên theo thiết chế thờ thần, có tàn che và được tôn vinh là Mẫu Mẹ (Đền Đại Lữ thờ Quốc Mẫu Tây Thiên được gọi là Đền Mẹ). ở ban dưới có sự tịnh dung ba pho tượng Tam Toà Thánh Mẫu. Có thể dẫn chứng cụ thể:
- Trong khuôn viên chùa Vàng làng Hoàng Đan, huyện Tam Dương. Tên chùa là “Kim Phúc tự” có lập một điện Mẫu riêng, gồm có Mẫu Tây Thiên và hệ Mẫu Tứ Phủ.
Hàng trên là tượng Quốc Mẫu Tây Thiên - Lăng Thị Tiêu, tượng có tàn che theo thiết chế thờ “thần”.
Hàng dưới là 3 pho tượng Tam Toà Thánh Mẫu gồm:
ở giữa: Mẫu Thượng Thiên. Y phục màu đỏ, bên trên treo nón Mẫu màu đỏ.
Bên phải: Mẫu Thượng Ngàn. Y phục màu xanh, bên trên treo nón Mẫu màu xanh.
Bên trái: Mẫu Thoải (Thuỷ). Y phục màu trắng, bên trên treo nón Mẫu màu trắng.
- Điện Mẫu trong khuôn viên chùa Linh Cảm làng Đan Trì xã Hoàng Đan, huyện Tam Dương, bài trí một pho tượng Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu, cùng hàng một pho Sư Tổ ở bên phải. Đó là sự bài trí thờ tự của chùa cũ tồn tại đến trước năm 2005, là năm tu bổ lại chùa.
Năm 2008, lập 3 gian điện Mẫu mới. Sự bài trí có thay đổi, theo sơ đồ vẽ tại chỗ hiện nay:

- Điện (Đền) Mẫu trong khuôn viên chùa Hà Tiên, thành phố Vĩnh Yên. Nguyên bài trí thờ Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu.
Nay xây mới ngôi điện Mẫu trong chương trình tôn tạo chùa. Bài trí thờ Mẫu được chia làm hai ban:
+ Nội cung (cung trong): Bài trí tượng Quốc Mẫu trang trọng đặt trong khám thờ, vàng son lộng lẫy. Đây là pho tượng mới tạo, có biển chỉ dẫn tiếng Việt là Quốc Mẫu (Tây Thiên).
Đó cũng là phương thức thờ tự theo thiết chế thờ thần Tượng Mẫu thay bài vị. Biển đề thay cho thánh tâm bài vị.
Hai bên cũng có tượng Cậu, tượng Cô, phảng phất như thờ Quốc Mẫu Tây Thiên núi Tam Đảo.
+ Ngoại cung (cung ngoài): Ngăn cách bởi bức tường gỗ, có hai cửa tả hữu để thông hai cung.
Trên ban ở cung ngoài, bài trí thờ tự một điện Mẫu, gồm 3 hàng tượng:
- Hàng trên cùng: Ba pho tượng Mẫu đặt toạ lạc trong khám thờ.
Giữa: Mẫu Thượng Thiên. Y phục sắc đỏ.
Bên trái: Mẫu Thượng Ngàn. Y phục sắc xanh.
Bên phải: Mẫu Thoải (Thuỷ). Y phục sắc trắng.
- Hàng giữa: Năm vị quan lớn (ngũ vị tôn ông). Đều đội mũ cánh chuồn. Y phục cũng sắc đỏ.
- Hàng thứ 3: Hàng các ông Hoàng, đầu đội khăn xếp sắc đỏ.
Giữa: ông Hoàng Cả (đệ nhất). áo sắc đỏ.
Bên phải: ông Hoàng Đôi (đệ nhị). áo sắc xanh.
Bên trái: ông Hoàng Bơ (đệ tam). áo sắc trắng.
Điểm qua như vậy, cả ba nơi thờ tự kể trên, đều thuộc địa hạt huyện Tam Dương đời Lê Cảnh Hưng (1740-1786), là vùng đồi quy tụ nhiều di tích thờ Quốc Mẫu Tây Thiên núi Tam Đảo, cũng là miền đồi rừng nơi xuất phát thờ tự mẫu rừng thời sơ sử.
Quốc Mẫu Tây Thiên được tôn làm Mẫu Mẹ: Mẹ Cây - Mẹ Rừng.
Một bà mẹ cây - mẹ rừng theo thiết chế thờ thần Nho giáo.
Từ đây lại cũng có một Bà Mẫu (Mẹ) - Thượng Ngàn, song song cai quản miền núi rừng trong hệ Mẫu Tứ phủ, bắt đầu một thiết chế ảo trong điện Mẫu.
Để rồi khi xã hội phát triển, người Việt cổ tiến xuống khai thác vùng đồng bằng, sống bằng nghề cấy trồng cây lúa nước, thì cây lúa, hạt gạo trở thành thức ăn chính nuôi sống con người.
Có 2 yếu tố để cây lúa sinh sống và phát triển.
Thứ nhất: Là đất trồng.
Thứ hai: Là nước tưới.
Cũng như sự tư duy về một Bà Mẹ Cây Rừng, người Việt cổ đã hình tượng ngay cùng một giai đoạn nên hai bà mẹ đặc trưng cho một phương thức sản xuất mới được hình thành:
Mẹ Đất: Làm nên một tư duy về Mẫu Địa.
Mẹ Nước: Làm nên một tư duy về Mẫu Thuỷ (còn gọi là Mẫu Thoải).
Hai Bà Mẹ này cùng xuất hiện sau Mẫu Thượng Ngàn, và gia nhập vào hàng ngũ Mẫu được tôn thờ, xuất xứ từ nghề nông trồng cây lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ.
Cây lúa đã có đất để nảy mầm, bám rễ. Có nước để phát triển, sinh sôi.
Tuy nhiên nước vì đâu mà có, thì con người lại nảy sinh một tư duy mới, đòi hỏi sự giải đáp.
Có một cuộc sống vật chất no đủ, con người trở nên có cuộc sống tinh thần phong phú. Các nhận thức về sự chuyển vận của thời tiết, của vũ trụ như ngày đêm, mưa và nắng, sấm, chớp, bão, dông… người ta quy tụ về một đấng thần linh ở trên cao. Đó là bầu trời, chứa đựng mọi sự thay đổi trong đó.
Một tư duy về vị Mẫu sản sinh ra các quy luật vận động sinh ra nước từ trên cao trút xuống, làm cho con người sống được, cây cối xanh tốt được, cây lúa cho hạt thóc, hạt gạo… Mẫu từ trên cao ra đời. Trên cao chính là bầu trời. Một tư duy về vị Mẹ Trời (Mẫu Thiên) xuất hiện, rồi cũng gia nhập vào hàng Mẫu được tôn thờ.
Như vậy, qua sự phát triển của tư duy, một phức hệ Mẫu xuất hiện bảo trợ cho con người nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, mà Vĩnh Phúc ngày nay toạ lạc ngay ở phần đỉnh của đồng bằng châu thổ ấy.
Bốn Mẫu, tuy có quá trình xuất hiện trong tư duy của con người khác nhau, song đều được xếp theo thứ tự bằng sự quan trọng mùa vụ của cây lúa nước.
- Thứ nhất: Mẫu Thiên. Còn gọi là Mẫu Thượng Thiên hoặc Mẫu Đệ Nhất.
- Thứ hai: Mẫu Thượng Ngàn. Còn gọi là Mẫu Đệ Nhị.
- Thứ ba: Mẫu Thuỷ. Còn gọi là Mẫu Thoải, hoặc Mẫu Đệ Tam.
- Thứ tư: Mẫu Địa. Còn gọi là Mẫu Đệ Tứ hoặc Địa Tiên Thánh Mẫu.
Hợp lại thành “Tứ phủ Thánh Mẫu”.
Sở dĩ có sự hoán đổi như vậy, vì Mẫu Tứ Phủ đã bị trật tự của Nho giáo can thiệp. Với Nho giáo, thì Trời là đức chí tôn, là vị hoàng đế cao hơn hết trong mọi tinh thể của vũ trụ. ở trong quốc gia Đại Việt thì Hoàng đế là con trời, mệnh danh là “Thiên tử”. Cho nên bất cứ cái gì thuộc về Trời, thì đều đứng ở bậc cao nhất. Mẫu Thượng Thiên do vậy, xếp vào hàng thứ nhất trong hàng Mẫu. Trong bài trí thờ tự, tượng Mẫu Thượng Thiên bao giờ cũng xếp ở giữa (trung tâm) với những điện chỉ thờ có 03 pho tượng Mẫu.
Điện Mẫu trong khuôn viên chùa Thần Tiên, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, có thời gian tạo lập ngang với thời gian xây dựng ngôi chùa, khởi lập từ thế kỉ XIII, hoàn tất thế kỉ XVIII, với 2 cây tháp vào niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) triều Lê (nay còn 1 cây ở bên đầu hồi trái chùa chính). Là những pho tượng Mẫu vào hàng cổ nhất ở Vĩnh Phúc hiện nay. Có thể có trước cả pho tượng Mẫu Thượng Thiên còn ở chùa Vĩnh Phúc (chùa Am) thôn Quan Tử, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch. Vì ngôi chùa kiến trúc bị tiêu huỷ trong thời Pháp xâm chiếm, nhân dân chỉ còn cất giấu được một số tượng cổ, nay đem bày ở nhà điện mới xây dựng lại

THẦN TIÊN

THẦN TIÊN 
VIỆT NAM ĐẤT NƯỚC CON RỒNG CHÁU TIÊN  
Bảng danh sách các vị Thần Tiên, Tướng, Thần y, Thần Số, Tổ Phụ, Tổ Mẫu....có công với nước được dân gian lưu truyền và biết ơn cho tới
ngày nay.
THẦN NÔNG VIÊM ĐẾ
HOÀNG ĐẾ
KINH DƯƠNG VƯƠNG
LẠC LONG QUÂN
ÂU CƠ


HÙNG VƯƠNG
TẢN VIÊN SƠN THÁNH
BẠCH MÃ THẦN
PHỔ AM CHÂN NHÂN
THÔNG HUYỀN CHÂN NHÂN
KINH DƯƠNG VƯƠNG
ĐẾ MINH
VỤ TIÊN
ĐỘNG ĐÌNH QUÂN
THẦN LONG
HY HÒA
HY THÚC
HY TRỌNG
CAO LỖ

BÀ CHÚA LIỄU HẠNH
TRẦN TOÀN (phục ma thượng đẳng phúc thần)
PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
CHỬ ĐỒNG TỬ
TIÊN DUNG
NAM VIỆT VƯƠNG
THÁI VI TINH QUÂN
KHAI THIÊN THỂ ĐẠO THÁNH VŨ THẦN TRIẾT HOÀNG ĐẾ
BẠCH Y MÁN
VĂN DU TƯỜNG pháp sư (đời Đinh Tiên Hoàng)
LƯU ĐẠO HUYỀN (đạo sỹ, SỰ TÍCH TRẦU CAU)
LANG LIÊU
TRIỆU QUANG PHỤC
MAI AN TIÊM (TÂY QUA PHỤ MẪU)
AN VƯƠNG (ĐỊA PHỦ QUÂN)
MA CÔ (lĩnh nam chích quái)
THÔI VỸ
ỨNG HUYỀN đạo sỹ
DƯƠNG QUAN NHÂN
THANH GIANG SỨ GIẢ (KIM QUY)
SÓC THIÊN VƯƠNG
BẠCH HẠC GIANG THẦN
LONG ĐỖ THUẬN DỤ TỰ ỨNG ĐẠI VƯƠNG
VUA MÂY KHAI THIÊN THÀNH HOÀNG ĐẠI VƯƠNG
TRINH LIỆT TÁ LÝ PHU NHÂN
ỨNG THIÊN HẬU THỔ THẦN KỲ NGUYÊN QUÂN
VỌNG PHU SƠN THẦN
VƯƠNG CHẤT
THẦN CHÂU LONG QUÂN
LONG ĐÀM
PHÙNG HƯNG
HỒNG LĨNH SƠN THẦN
MINH LINH CẢM ỨNG BẢO HỰU ĐẠI VƯƠNG
MỤC THẬN
THƯỢNG ĐẲNG LINH SẢNG BẤT DẪN NHẤT PHƯƠNG PHÚC THẦN
TRINH LINH NHỊ PHU NHÂN
LÊ TOÀN NGHĨA
TRẤN THIÊN VƯƠNG
TỪ ĐẠO HẠNH (10 năm học đạo giáo, LÝ THẦN TÔNG)
TINH MẪN ĐẠI VƯƠNG
KHƯỚC MẪN ĐẠI VƯƠNG
HÀ BÁ

  
LÝ THỜI TRÂN
NGUYỄN BỔ (đường lang tử y)
HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

TRẦN ĐỨC HUY
TRẦN CAO VÂN (đạo sỹ)
PHAN XÍCH LONG
MẠC CỬU
MẠC ĐÌNH PHÚC
VÕ TRỨ
NGUYỄN HỮU TRÍ
TRẦN QUỐC KIỆT
TẢ AO
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
NGUYỄN THIẾP
HUYỀN VÂN
TỪ THỨC
TÔ LỊCH GIANG THẦN
THẦN ĐỘC CƯỚC
LÝ ÔNG TRỌNG (LÝ THÂN)
TRẦN HƯNG ĐẠO
TRẦN TU
PHẠM VIÊN
NGUYỄN HOÃN
PHAN HUY ÍCH
NGUYỄN CÔNG TRỨ
TAM GIANG PHÚC THẦN

 ( Các vị đều là những thần tiên của Việt Nam, là nguyên khí tinh túy của các vì sao trên trời đầu thai xuống nhân gian. Là những người trần do tu luyện mà thành. Có công với đất nước, với dân tộc Việt Nam, lập nên những chiến công hiển hách và được phong vương, phong thánh, phong thần. Đã từng nghiên cứu ra những văn minh, tri thức bất hủ để lại cho đời mà chỉ có những bậc tối cao, thần thánh cao nhân mới có được. Nên được người đời lưu truyền sử sách, nơi nơi lập điện thờ,  là tấm gương sáng để lại cho các thế hệ sau noi theo. Con cháu muôn đời hương hỏa. )

THẦN TIÊN VIỆT NAM

 ĐẠO QUÁN THẦN TIÊN VIỆT NAM
ĐỀN ĐẠO THẦN TIÊN ĐANG THỜ