Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

chuyện cười

 

 

 

 

 

Trả lời quá chuẩn

Đứa em hỏi chị :
+ Tại sao mọi người thích làm "chuyện ấy" thế ?
- Thì cũng giống như mày thích ngoáy mũi mà

+ Thế con trai sướng hơn, hay con gái sướng hơn?
- Thế mày ngoáy mũi thì mũi sướng hay ngón tay mày sướng ?

+ Thế tại sao khi con gái bị cưỡng.....thì sao lại không sướng ?
- Thế có kẻ chọc tay vào mũi mày thì mày có sướng nổi không ?

+ Thế tại sao con gái đến tháng thì không làm chuyện đấy ?
- Mày chảy máu cam thì có muốn ngoáy mũi nữa không ?

Tuổi trẻ tài cao

Trong một trường mẫu giáo, thằng bé hỏi cô giáo:
- Cô ơi, con nít có bầu được không cô?
Cô giáo nói:
- Con nít không có bầu được con ạ!

Thằng bé quay sang con bé bên cạnh:
- Đó, cưng thấy chưa. Cứ lo lắng lung tung

Khám phá mới về đàn ông

1. người đàn ông không mặc gì nằm úp xuống nền đất thì gọi là gì? “Đất lành chim đậu”.

2. Nằm úp xuống 1 hòn đá? “trứng chọi đá”.

3. 2 người đàn ông không mặc gì cõng nhau? “Gậy ông đập lưng ông”.

4. Người đàn ông không mặc gì nhảy xuống bể cá cảnh? “Chim sa cá lặn”.

5. 1 người đàn ông không mặc gì ngồi sau xe đạp? “Chọc gậy bánh xe”.

6. Người đàn ông không mặc gì nằm đắp chăn bông ngủ: CHIM CHÍCH BÔNG!!

Khai lý lịch

Một bác người Raklay đi khai lý lịch, mục nơi sinh khai xong bác phàn nàn "người Kinh sao nhiễu sách thế, ai chẳng sinh ra từ "nơi đó" mà cũng bắt khai", mục quan hệ gia đình, bác khai "một tuần 2 lần", mục quan hệ xã hội, bác viết "thất thường, chỉ khi có điều kiện thuận lợi", nộp lý lịch, cán bộ bảo khai không đúng rồi, bác giật mình "quái, người kinh sao nó giỏi thế, mấy chuyện đó mà cũng biết, bác bèn khai lại "quan hệ gia đình: 1 tuần 5 lần, quan hệ xã hội: 1 tuần 3 lần"!

Định nghĩa về học

Học cách tắm rữa =>học kỳ.
Học những điều vô ích, làm phí phạm thời gian tiền của => học phí.
Học những điều bậy bạ vô bổ =>học bạ.
Học cách trò chuyện trong giao tiếp =>học trò.
Học nếm thức ăn là học vị.
Học cách dậy đúng giờ, chống ngủ gục =>học thức.
Học cách làm đồ giả =>học giả.
Người già đi học =>học cụ.
Học đang vô, tiếp thu tốt gọi là vô học.
Học lâu dài => trường học.
Bỏ, ko chịu học =>bác học

Hết thuốc chữa

Một cậu bé mắc bệnh biếng ăn. Dỗ dành mãi không ăn thua, người mẹ bèn đưa cậu tới bác sĩ tâm lý. Ông cũng tiến hành khá nhiều phương pháp trị liệu mà không có kết quả. Cuối cùng, bác sĩ nghĩ ra một cách...
... bèn để cậu bé nhịn đói cả ngày rồi đưa cậu tới phòng ăn.
- Cháu muốn ăn gì? - Bác sĩ hỏi.
- Cháu muốn ăn giun đất! - Cậu bé đáp.
Mừng quýnh, bác sĩ bê cả đĩa giun đất đến, con nào con ấy to như ngón tay.
- Đây, giun đây, cháu ăn đi!
- Cháu muốn ăn giun luộc cơ! - Cậu bé nũng nịu.
Cô y tá đem đĩa giun đi luộc rồi mang vào. Nhưng bệnh nhân nhí lại làm nũng:
- Cháu không muốn ăn nhiều đâu!
Bác sĩ chọn lấy một con giun béo căng và dỗ dành:
- Ừ! Cũng được, cháu chỉ cần ăn con duy nhất này thôi! Ăn đi cháu!
Thằng bé lưỡng lự:
- Cháu chỉ muốn ăn một nửa thôi! Bác ăn một nửa cho cháu!
Bác sĩ nhẫn nại nhắm mắt nhắm mũi nuốt một nửa con giun và đưa nửa còn lại cho thằng bé nhưng nó bắt đầu khóc thét lên.
- Sao vậy! Có chuyện gì nữa đây? - Bác sĩ gằn giọng.
- Bác phải ăn nửa đuôi cơ! Bác ăn nửa kia mất rồi huhuh

Quà 8-3

Một thầy giáo đến một tiệm bánh đặt chiếc bánh ga-tô để mừng ngày 8/3 của vợ. Thầy nghĩ ra một câu "Em không già đi mà em còn trẻ lại" rồi nói với những người làm bánh:
– Tôi đặt chiếc bánh có viết dòng chữ để mừng sinh nhật vợ đấy nhé.
– Trình bày như thế nào ạ? – thằng bé, con của chủ tiệm bánh hỏi.
– Viết thế này: "em không già đi”, phía trên, "mà em còn trẻ lại", phía dưới.
Thằng bé lấy bút ghi chép cẩn thận rồi nói:
– Chiều thầy ghé lại lấy, con sẽ làm thật đẹp và cẩn thận cho thầy.
Buổi tối, khi mở hộp bánh ra và tất cả mọi người trong buoi tiec nhìn thấy dòng chữ: "Em không già đi phía trên mà em còn trẻ lại phía dưới".

 

Đen hay trắng

Khách du lịch dừng chân tại một nông trại và trao đổi với nông dân: "Hai con bò sữa của ông mỗi ngày cho bao nhiêu lít sữa?"

- Con đen hay con trắng - người nông dân hỏi lại.

- Ví dụ con trắng.

- Mười lít.

- Còn con đen?

- Cũng mười lít.

- Thế ông cho chúng ăn gì?

- Con con đen hay con trắng?

- Con trắng chẳng hạn.

- Cỏ linh lãng.

- Còn cho con đen?

- Cũng cỏ linh lãng.

- Này, nếu đối với 2 con bò, cái gì cũng giống nhau, tại sao lần nào ông cũng hỏi tôi rằng tôi nói về con đen hay con trắng? - du khách tỏ vẻ khó chịu về màn đối thoại.

- Vì con trắng là của tôi.

- À, ra thế! Còn con đen?

- Cũng của tôi.

...Khách du lịch đơ @#@

Đào hoa và lăng nhăng

Thưa thầy vì sao đàn ông quan hệ với nhiều người phụ nữ thì được gọi là đào hoa, còn phụ nữ quan hệ với nhiều người đàn ông thì bị coi là lăng nhăng, là cave...
GS Lê Kim Hùng : Các em thân mến ! Thế này cho dễ hiểu nhé ! Cái chìa khóa mà mở được nhiều ổ khóa thì ta gọi nó là chìa khóa vạn năng nhưng cái ổ khóa mà dùng cái chìa nào mở cũng ...được thì nó chỉ là cái ổ khóa vứt đi thôi các em ạ!
Còn thắc mắc gì không?

Nguồn gốc người Nhật

Người Nhật đi tìm tổ tiên của mình. Anh đi khắp thế giới tìm nhưng vô vọng. Cuối cùng anh đến ga xứ Huế ở Việt Nam. Anh nghe người ta nói
chuyện:
- Mi đi ga chi ?
- Tau đi ga ni .
- Ga ni ga chi ?
- Ga chi như ri ?
- Ga như ri mi lo ra đi .
- Tau đi nghe mi !
Anh mừng rỡ reo lên "Đây chính là tổ tiên của người Nhật !"

 

Sự chung thủy

Chuyên mục "Tìm ẩn ý sau từng câu hát" của một kênh truyền hình cáp ra câu đố: Hãy tìm một câu hát ngắn nhất thể hiện sự chung thủy của vợ chồng.
Vượt qua hàng trăm thí sinh gửi đáp án về, cô L.M.T đã giành được giải nhất với phần trả lời:
Đó là bài hát: "Giọt nắng bên thềm của nhạc sỹ Thanh Tùng" với câu hát: "Chim vẫn hót trong vườn nhà em..."!

Bí quyết sống lâu

Thống kê của Viện Sức Khỏe Trung Quốc

- Chỉ hút thuốc, không uống rượu: Lâm Bưu thọ 63 tuổi.
- Chỉ uống rượu, không hút thuốc: Chu Ân Lai thọ 73 tuổi.

- Vừa uống rượu, vừa hút thuốc: Mao Trạch Đông thọ 83 tuổi.

- Vừa uống rượu, vừa hút thuốc, vừa đánh bài: Đặng Tiểu Bình thọ 93 tuổi.

- Vừa uống rượu, vừa hút thuốc, vừa đánh bài lại có cả vợ bé: Trương Học Lương thọ 103 tuổi.

- Không uống rượu, không hút thuốc, không đánh bài cũng không có bạn gái, chỉ làm người tốt việc tốt: Lôi Phong hưởng dương 23 tuổi.

Tốc độ của báo chí

Có con khỉ rất dâm đãng, nó hiếp biết bao nhiêu con vật trong khu rừng.

Một hôm, khỉ bí quá chơi chiến thuật du kích hiếp luôn cọp đang uống nước suối và biến rất nhanh.
Cọp lồng lộn đi kiếm.
...
Tới bìa rừng, gặp 1 con khỉ đang ngồi đọc báo (thực ra là con khỉ láo cá kia), cọp hỏi:

- Mày có thấy con khỉ dâm đãng đâu không?

- Có phải con khỉ vừa mới chơi con cọp không?

Cọp nghe thế bèn cúp đuôi bỏ đi, miệng lẩm bẩm:

"Mẹ nó, nhục quá! Mới đây mà đã lên báo rồi"

 

Cai sữa

Một cặp vợ chồng ở Tiền Giang, cai sữa mãi cho đứa con 2 tuổi không được, hết bôi cao con hổ, dán băng keo thậm chí xát ớt vào ti vợ đều không cản được ham muốn của đứa bé. Ma xui quỷ khiến thế nào, anh chồng đã thử bôi thuốc trừ sâu vì nghĩ đơn giản rằng, thuốc phun vào lúa thì con sâu không dám cắn lúa, trẻ con cũng vậy. Ai ngờ bôi được 2 hôm thì thấy tay hàng xóm lăn đùng ra chết. Hiện công an đang tiến hành điều tra vụ việc.

Ăn Gì ?

- Khi còn bé thì " Ăn Học "
- Lớn thêm chút thì " Ăn Chơi "
- Lúc có bạn giá thì chăm chăm " Ăn Thịt "
- Ăn thịt xong thì phải " Ăn Hỏi "
- Hỏi xong mấy ngày thì " Ăn Cưới "
- Cưới về phải tiến hành " Ăn Nằm "
- Khi vợ đến kỳ nguyệt san đành phải " Ăn Chay "
- Sau khi vợ sinh con thì phải " Ăn Kiêng "
- Chán chê thì lại thèm " Ăn Phở "
- Đến chốn công sở " Ăn Chả, Ăn Nem "
- Nhưng đừng để mang tiếng là " Ăn Chực "
- Vì như thế rất dễ " Ăn Đòn "
- Cuộc sống không nên " Ăn miếng , Trả miếng "
- Làm việc dở thì có mà " Ăn Cám "
- Với lãnh đạo thì không nên " Ăn Thua "
- Nếu không thì coi chứng đi " Ăn Mày "
- Về già rụng răng phải " Ăn Cháo"
- Chết lên đầu tủ ngồi thì "Ăn xôi gà"

Chịu được mùi hôi

Có ba người thi xem ai chịu được mùi hôi của heo lâu nhất:
-Người thứ nhất: vào chuồng heo được hai ngày thi chạy ra bảo:" hôi quá chịu không nổi"
-Người thứ hai: vào được ba ngày thì chạy ra không nói được gì
-Người thứ ba: vào được một tuần thi chú heo chạy ra và bất tỉnh nhân sự

Khi biết vợ mang thai

Sau khi biết vợ mang thai
Người chồng khi biết vợ có thai thì vô cùng vui mừng. Anh muốn cho tất cả mọi người biết tin này nên lấy điện thoại của vợ nhắn tin: "Tôi đã có thai" gửi đi cho tất cả mọi người trong danh bạ.
Được một lúc thấy mẹ vợ trả lời: "Sao nói là chồng không sinh được, con lại quan hệ với thằng nào?".
Anh rể trả lời: "Cô tính xử lí thế nào?".
Tiếp theo là bạn thân bán nhắn:tao đã khuyên mày bao nhiêu lần rồi bảo đừng đi chơi bậy nữa mà mày không nghe tao, thế chồng mày biết chưa?
Tiếp theo một người bạn thân nhắn tin: "Chúng ta đã nửa năm không gặp nhau, cô đừng đổ lên đầu tôi".
Đồng nghiệp nhắn: "Không phải chứ? Mới 2 ngày mà".
Cấp trên trả lời: "Tôi cho cô 10 triệu, cô nghỉ ngơi một thời gian đi".
Khách hàng nhắn tin: "Được rồi, cô đừng hù dọa tôi, ngày mai cô tới nhà tôi, chúng ta sẽ kí hợp đồng".
Một người lạ nhắn: "Cô li dị, chúng ta sẽ giữ đứa bé".
Một người lạ khác nhắn: "Hôm đó còn có giám đốc, không phải cô tính nói là của tôi chứ?".
Và một người lạ khác nhắn: "Đừng đùa chứ, tôi đã phẫu thuật triệt sản.

Ai lấy?

Anh chồng nọc mấy đứa con ra khảo:

- Đứa nào lấy tiền trong túi của bố?

Cô vợ nóng ruột đến can và nói đùa:

- Sao anh không nghĩ là em lấy?

- Mất như thế, chắc chắn không phải là em lấy!

- Tại sao?

- Bởi vì vẫn còn lại một ít.

Biết hết sự thật rồi!

Một chú bé được một cậu bạn cùng lớp rỉ tai rằng tất cả người lớn đều có những bí mật riêng và rất dễ tống tiền họ bằng câu: "Tôi biết tất cả sự thật". Về nhà, chú bé quyết định sẽ thử điều này với mẹ:

- Con đã biết tất cả sự thật.

- Đừng nói gì với bố nhé!

Mẹ cho cậu 10 nghìn đồng. Hiệu nghiệm quá, bố đi làm về, cậu lại đọc "thần chú" vào tai ông. Ông bố ngay lập tức rút ví cho cậu 50 nghìn đồng cùng một đề nghị giữ kín chuyện. Vô cùng hài lòng với phương pháp kiếm tiền mới của mình, hôm sau, khi gặp bác đưa thư trước cửa nhà, cậu nói ngay:

- Bây giờ tôi đã biết tất cả sự thật rồi!

Bác đưa thư đứng lặng người, cặp kính trắng mờ đi, ông giang hai tay ra và nghẹn ngào nói với cậu bé:

- Nếu con đã biết hết sự thật rồi thì... lại đây với bố đi con!

Chơi bowling

Sau khi đi làm về John ghé một quán bar gần nhà, ở đó anh gặp một cô gái rất đẹp và bắt chuyện với cô ta. Họ uống với nhau một vài ly bia, và trò chuyện vui vẻ với nhau, cuối cùng hai người đi về nhà của cô gái. Đến 3 giờ sáng, John bật dậy thốt lên:

- Ôi không, trễ quá rồi, vợ anh sẽ giết anh mất. Em có phấn thơm không?

Cô gái kia liền đưa cho John hộp phấn, John xoa nó lên tay rồi vội vã đi về nhà. Cô vợ đang đứng đợi trước cửa trông rất giận dữ, trông thấy John cô vợ hét lên:

- Anh đã ở đâu suốt từ tối đến giờ hả?

- Em yêu, chuyện là thế này - John trả lời - Anh đã ghé quán bar và gặp một cô gái rất đẹp, bọn anh đã uống với nhau một vài li rồi sau đó bọn anh đã vui vẻ với nhau ở nhà cô ấy.

- Ồ vậy à? Đưa tay anh cho em xem nào!

Trông thấy bàn tay dính đầy phấn của John, cô vợ bảo:

- Đồ dối trá! Anh lại đi chơi bowling nữa phải không?!!

Những lầm tưởng về vợ Á chồng Tây


Nhiều đàn ông da trắng tin rằng phụ nữ Á đông ngây thơ, dễ bảo nhưng thực tế lại khác. Không ít cô gái vỡ mộng khi nghĩ lấy chồng Tây là đổi đời.
Sau 5 năm nghiên cứu, bao gồm cả phỏng vấn nhiều đàn ông Tây phương và phụ nữ Á đông, cũng như tìm hiểu tại các câu lạc bộ "mai mối" giữa họ, một tác giả của Askmen đã phát hiện nhiều bất ngờ về mối quan hệ giữa hai giới, ở hai nền văn hóa khác nhau:
webding-jpg-1361938841_500x0.jpg
Ảnh minh họa: Linkrandom.blogspot.com.
Lầm tưởng 1: Phụ nữ châu Á là mẫu người vợ hoàn hảo. Họ coi gia đình là trên hết và luôn phục tùng chồng.
Khoảng 500 năm trước công nguyên, Khổng Tử đưa ra khuôn mẫu về mối quan hệ vợ chồng theo kiểu "tòng phu" tức là người vợ hoàn toàn chiều theo ý chồng. Thời gian đã thay đổi nhưng những huyền thoại về phụ nữ châu Á biết vâng lời và tận tụy vẫn còn dai dẳng.
Julia Ma, chủ sở hữu và là "bà mai" của câu lạc bộ Kết nối châu Á, cho biết, những nam giới tham gia câu lạc bộ của cô thường tìm kiếm "hình ảnh cũ về người phụ nữ châu Á truyền thống biết chăm sóc chồng con, nấu ăn, dọn nhà". Nhiều anh chàng hy vọng vào điều đó, nhưng thế hệ phụ nữ ngày nay đã khác.
Có trụ sở tại Cupertino, California (Mỹ) - nơi có hơn 60% dân cư là người gốc Á, câu lạc bộ của Julia Ma giới thiệu phụ nữ châu Á với đàn ông phương Tây cho mục đích kết hôn hợp pháp. Những người phụ nữ được giới thiệu được giáo dục tới nơi tới chốn, hiểu biết công nghệ và nhiều người từng ly hôn. Những phụ nữ này cũng kén chọn và kỳ vọng cao ở người đàn ông họ muốn lấy làm chồng.
Với họ, hôn nhân phải là một cam kết hai phía. Người vợ giữ thể diện cho chồng nơi công cộng nhưng muốn có được sự tôn trọng thực sự của vợ, đàn ông phải coi gia đình là trên hết (chứ không phải bản thân anh ta), chung thủy và ở nhiều nước như Trung Quốc hay Nhật Bản, phụ nữ phải là người giữ tay hòm chìa khóa.
Lầm tưởng 2: Phụ nữ châu Á ngọt ngào, ngây thơ và dễ bảo.
Những người tin vào điều này có lẽ chưa bao giờ hẹn hò với một phụ nữ châu Á. Một điển hình là Steven, nhân vật chính của một chương trình tên là Tìm kiếm phụ nữ châu Á, người từng thấy hình ảnh những phụ nữ Việt Nam trong các bộ Phim như Mùi đu đủ xanh và tự hỏi, người vợ tương lai của mình sẽ là như cô hầu gái, nấu những bữa ăn thật ngon?
Du lịch từ California đến Trung Quốc để hẹn hò vài lần đầu, Steven nhận ra phụ nữ nước này có thái độ kiêu căng, thực dụng và khiến anh vỡ mộng.
Cuối cùng, sau 10 năm tìm kiếm, anh gặp Sandy (tỉnh An Huy, Trung Quốc) - một cô gái trẻ bằng nửa số tuổi của anh. Sau khi chuyển tới Mỹ với tư cách vị hôn thê của Steven, vẻ ngây thơ, trẻ con của cô gái đã biến mất.
Ở một khía cạnh khác, đàn ông Mỹ được đánh giá là mềm mỏng và ngây thơ. Nhiều phụ nữ châu Á nghĩ vậy. Theo Jenny, một người Đài Loan chuyển tới Mỹ sống khi 30 tuổi và từng ly hôn một ông chồng Mỹ thì "những nam giới Tây thích phụ nữ châu Á thường có tính cách mềm mỏng và không được nam tính lắm". Trong một buổi phỏng vấn khác, người phụ nữ này cho rằng họ "đơn giản" và "ít tinh vi" hơn đàn ông châu Á..
Lầm tưởng 3: Một người đàn ông Mỹ là "tấm vé đổi đời" cho một phụ nữ Á châu.
Một số phụ nữ da vàng tin rằng điều hoang đường này sẽ là sự thật, nhưng tương tự như lầm tưởng thứ nhất, những người này không có mối quan hệ nào với nam giới phương Tây.
Julia Ma nhấn mạnh: "Những cô gái sống ở một đất nước khác, họ nghĩ Mỹ là thiên đường với những người có nhiều tiền, nhưng thực tế không giống như vậy. Nhiều phụ nữ châu Á sống ở những nền kinh tế phát triển trên thế giới nhận ra rằng kết hôn với đàn ông Tây không còn là sự đảm bảo một tình hình tài chính tốt. Đôi khi những phụ nữ này nghĩ kết hôn với đàn ông Tây để được "tự do" hơn nhưng lại gặp ngay những người muốn tìm kiếm một người phụ nữ châu Á truyền thống thực sự. 
Lầm tưởng 4: Phụ nữ châu Á hoang dại trên giường và dễ dàng có thể sex với họ.
Nhiều người nghĩ rằng "phụ nữ châu Á làm tình tốt hơn" hay "phụ nữ châu Á gợi tình, hoang dại hơn". Thực tế, châu Á sở hữu nền “công nghiệp tình dục” lớn vào bậc nhất thế giới. Nhưng nói “tình dục với phụ nữ châu Á dễ dàng” chỉ khi bạn trả tiền để có sex. Sự thật là, vấn đề tình dục còn là một điều gì đó khá "khó nói" với nhiều phụ nữ châu Á.

Thần đồng vấn Khổng Tử

Thần đồng là đứa trẻ nhỏ tuổi thông minh vượt bực, có năng khiếu đặc biệt hơn hẳn các trẻ cùng tuổi. Vấn là hỏi.
Thần đồng vấn Khổng Tử là câu chuyện Thần đồng Hạng Thác hỏi Đức Khổng Tử nhiều điều mà Ngài không trả lời được, nên chịu phục Hạng Thác làm thầy.
“Đức Khổng Tử khi còn nhập thế, chưa xuất thế, ở Nhơn đạo chưa học Thiên đạo. Ngài học văn chương mà giáo huấn Nhơn đạo, dạy cang thường luân lý, sửa đương Nhơn đạo, sau Ngài học lễ với Lão Đam, cũng giáo huấn môn đồ về Nhơn đạo. Trong lúc ấy, Ngài có vợ con, thịt ăn rượu uống.
Vậy nên có câu rằng : “ Khổng Tử, Thiên sanh chơn kỳ trí, Tánh mạng công phu thỉ bất minh.Nghĩa là : Đức Khổng Tử, Trời sanh người trí lạ, Tánh mạng phép công phu, Ngài còn chưa rõ đặng.
Sau Ngài qua nước Trần, gặp Hạng Thác, chừng đó mới học qua Thiên đạo, lúc ấy mới cấm răn rượu thịt, dâm dục, y theo qui giới mà tu Thiên đạo. Nên có câu : “ Trai minh thạnh phục, Yết dục dưỡng tinh.”
Mấy lời đó, sao người học Nho không nhắc lấy mà so sánh thí cập.
Còn khi chưa xuất thế tu hành thì Ngài để kinh sách dạy theo Nhơn đạo, sửa mình mà thôi. Như vậy lấy sách dạy Nhơn đạo thí cập so sánh với Thiên đạo, sao phù hiệp đặng.
Khi Đức Khổng Tử học đạo rồi, sau Thầy Tử Cống có nói rằng : Đức Phu Tử nói văn chương thì ta hiểu rõ, còn nói qua Thiên đạo, ta nghe không hiểu.
Đó chẳng phải Đức Khổng Tử Ngài ở Nhơn đạo, sau tu qua Thiên đạo hay sao ? Nên mới nói Nhơn tâm, Đạo tâm, là 2 nẻo khác nhau.” (Trích trong Hội Lý Xiển Chơn Luận trang 42 của Ông Nguyễn văn Kinh)
Đức Khổng Tử cùng một số học trò, trên đường đi qua nước Trần, gặp một đám trẻ nhỏ chơi đùa giữa đường. Ngài ngồi trên xe nhìn đám trẻ, thấy có một cậu bé cặm cụi lấy cát đắp một cái thành nhỏ mà không đùa nghịch. Đức Khổng Tử dừng lại hỏi cậu bé :
- Sao cậu không chơi đùa với mấy đứa trẻ kia ?
Cậu bé đáp :
- Đùa giỡn thì vô ích. Sự đùa giỡn có thể làm rách quần áo, nhọc công mẹ vá khâu và làm buồn lòng đến cha, nên tôi không đùa nghịch.
Nói xong, cậu tiếp tục đắp thành. Đ. Khổng Tử lại hỏi :
- Cậu không tránh cho xe của tôi đi sao ?
Cậu bé thản nhiên đáp :
- Từ xưa đến giờ, xe phải tránh thành, chớ có bao giờ thành tránh xe.
Đức Khổng Tử nghe cậu bé trả lời hay quá, thấy cậu bé nầy có vẻ khác lạ, liền xuống xe đến gần cậu bé bàn luận nhiều việc xa xôi. Cậu bé đều trả lời xuôi rót, nhưng có tánh cách biến trá. Đức Khổng Tử trách rằng :
- Cậu hãy còn bé mà sao đã biến trá lắm vậy ?
- Người ta sanh ra 3 ngày đã biết tìm vú mẹ, con thỏ sanh ra 3 ngày đã chạy tung tăng trên đồng nội, con cá sanh ra 3 ngày thì biết xuôi ngược khắp sông hồ. Đó là tánh tự nhiên, sao gọi là biến trá ?
- Cậu ở xóm nào, làng nào, cha mẹ ở đâu ?
- Tôi sanh tại đây, họ Hạng tên Thác, chưa có tên tự.
- Ta muốn cậu cùng đi chơi với ta, ý cậu thế nào ?
- Trong nhà tôi còn có cha, cần phải phụng, còn có mẹ cần phải dưỡng, có anh để phụ tùng, có em phải dạy dỗ, còn có thầy để học hỏi, đâu có rảnh để đi chơi với ông.
- Trong xe ta có sẵn 32 con cờ, ta muốn cùng cậu đánh cờ, cậu có bằng lòng không ?
- Thiên tử mê cờ thì bốn biển không người gìn giữ, chư Hầu mê cờ thì chính sự không an, nho sĩ mê cờ thì việc học đình trệ, nông phu mê cờ thì quên việc cày cấy, vì thế tôi không đánh cờ.
- Ta muốn cùng cậu đàm luận việc bình trị thiên hạ, cậu có bằng lòng không ?
- Chuyện thiên hạ khỏi phải bình, vì hoặc như núi cao, hoặc như sông hồ, hoặc như vương hầu, hoặc như nô tỳ. Nếu san bằng núi thì chim chóc không nơi trú ngụ, lấp bằng sông hồ thì cá nhờ đâu bơi lội, bỏ chức vương hầu thì dân không người trị, bỏ nô tỳ thì chủ nhân không có người để sai khiến, thế nên tôi không bình luận việc thiên hạ.
Đức Khổng Tử lại hỏi :
- Lửa nào không khói ? Nước nào không cá ?
Núi nào không đá ? Cây gì không cành ?
Người nào không vợ ? Ai kẻ không chồng ?
Trâu nào không nghé ? Ngựa nào không con ?
Trống nào không mái ? Mái nào không trống ?
Ai là quân tử ? Ai kẻ tiểu nhân ?
Vật gì không đủ ? Vật gì có thừa ?
Thành nào không chợ ? Người nào không con ?
Cậu bé Hạng Thác liền đáp :
- Lửa đôm đốm không khói. Nước giếng không cá.
Núi đất không đá. Cây khô không cành.
Tiên Ông không vợ. Ngọc Nữ không chồng.
Trâu đất không nghé. Ngựa gỗ không con.
Trống độc không mái. Mái độc không trống.
Hiền là quân tử. Kẻ dại tiểu nhân.
Ngày Đông không đủ. Ngày Hạ có thừa.
Hoàng thành không chợ. Đứa trẻ không con.
Sau khi Hạng Thác trả lời xong, Đức Khổng Tử hỏi tiếp :
- Cậu có biết gì về lẽ Đạo hằng của Trời Đất ?
Sự cuối cùng của Âm Dương ?
Đâu là phải ? Đâu là trái ?
Đâu là trong ? Đâu là ngoài ?
Ai là Cha ? Ai là Mẹ ?
Ai là chồng ? Ai là vợ ?
Gió từ đâu đến ? Mây từ đâu ra ?
Sương từ đâu có ? Trời Đất xa nhau mấy dặm ?
Cậu bé Hạng Thác liền trả lời :
- 9 lần 9 chu kỳ là 81. Ấy là đạo của Trời Đất.
8 lần 9 là 72. Ấy là Âm Dương cùng cuối.
Tây là phải. Đông là trái.
Trong là lý. Ngoài là biểu.
Trời là Cha. Đất là Mẹ.
Mặt Trời là chồng. Mặt Trăng là vợ.
Gió từ cây xao động. Mây trong núi bay ra.
Sương từ đất dậy. Trời Đất xa nhau ngàn ngàn
vạn vạn dặm.
Cậu bé Hạng Thác đã trả lời đầy đủ các câu hỏi của Đức Khổng Tử. Bây giờ cậu bé xin thỉnh giáo Đức Khổng Tử đôi điều :
- Thưa Ngài, vịt ngỗng sao nổi trên mặt nước ?
Chim hồng chim nhạn sao lại kêu to ?
Tùng bách sao ngày Đông vẫn xanh lá ?
Đức Khổng Tử đáp rằng :
- Vịt ngỗng vì chân nó banh mà nổi bơi trên mặt nước.
Chim hồng chim nhạn kêu to là vì cổ nó dài.
Tùng bách ngày Đông xanh lá là vì ruột nó đặc.
Cậu bé Hạng Thác cười nói rằng :
- Chắc không hẳn như vậy đâu.
Tôm cá vẫn nổi trên mặt nước mà chân nó có banh đâu.
Ễnh ương, ếch nhái kêu to mà cổ của nó có dài đâu.
Cây trúc rổng ruột mà ngày Đông vẫn xanh lá.
Sau khi bắt bẻ các câu trả lời của Đức Khổng Tử, Thần đồng Hạng Thác hỏi tiếp :
- Trên bầu Trời có sao lấp lánh, vậy thưa Ngài có tất cả bao nhiêu vì sao ?
- Chuyện dưới đất không thiếu gì sao lại hỏi chuyện trên Trời.
- Vậy dưới đất nhà cửa san sát có bao nhiêu ngôi nhà ?
Đức Khổng Tử lại nói rằng :
- Ta nên nói ngay chuyện trước mắt có phải là thực tế hơn không, cần gì nói chuyện Trời Đất.
- Vậy thưa Ngài nếu bàn chuyện trước mắt thì Ngài cho biết lông mày có bao nhiêu sợi ?
Đức Khổng Tử không trả lời, chỉ biết cười mà thôi.
Ngài quay lại nói cùng các học trò rằng : “ Hậu sanh khả úy.” (kẻ sanh sau đáng sợ thật). Đó là kẻ rất khó tìm thấy trong thiên hạ. Nói xong Ngài trở lên xe đi thẳng.
Bài thi : Thần đồng vấn Khổng Tử :
Hưu khi niên thiếu thông minh tử,
Quảng hữu anh tài trí quá nhân.
Đàm luận thế gian vô hãn sự,
Phân minh Cổ Thánh hiện kỳ thân.
Tạm dịch :
Đừng khinh tuổi trẻ bậc Thần đồng,
Có lắm anh tài trí quảng thông.
Luận việc thế gian không giới hạn,
Thánh xưa hiện rõ thể vừng đông.
Tối hôm ấy, Đức Khổng Tử ngồi thẩn thờ trước án, ngọn đèn bạch lạp lụn tàn. Tử Lộ mạo muội vào hỏi thầy :
- Thầy trầm tư về cuộc tranh luận với Hạng Thác ? - Phải.
- Thầy không vui vì mình yếu lý ? - Không.
Thấy Tử Lộ có ý hồ nghi, nên Đức Khổng Tử nói tiếp :
- Nầy Do, bình sanh ta đi chu du thiên hạ để truyền bá Nhơn đạo, mặt luôn luôn hướng thẳng, lòng sáng tợ gương, ý thành, ngôn chánh. Còn miệng lưỡi của Hạng Thác là miệng lưỡi của phường biện sĩ, nên có thể chứng minh ngựa trắng không phải là ngựa trắng. Khi xướng thuyết Liên Hoành cũng thuận, mà bày kế Hợp Tung cũng thông. Xét từ bản chất của ngôn ngữ, cuộc tranh luận vừa qua cũng như nước chảy dòng đôi, xa trăm ngàn đợt sóng nhấp nhô, nhưng kỳ thật không lượn lớn lượn nhỏ nào va chạm. Do làm sao hiểu được !
(Tử Lộ là học trò giỏi của Đ. Khổng Tử, tên Trọng Do, kêu tắt là Do)
Tử Lộ hỏi : - Vậy cớ nào thầy buồn ?
- Ta buồn vì có Khổng Khâu mà còn phường biện sĩ. Hạng Thác nhắc cho ta nhớ đến vai trò của kẻ biện sĩ. Biện sĩ chỉ thuyết cho sự lợi ích mà không thuyết cho Chơn Lý. Khắp thiên hạ, kẻ cầu lợi đông như kiến cỏ, người hướng về Chơn Lý đốt đuốc khó tìm.Thế sự trôi chảy không ngừng. Chánh đạo của ta liệu truyền lưu được bao lâu nữa ? Đó chẳng phải là điều đáng buồn hay sao ?
Tử Lộ toan lui ra, Đức Khổng Tử kêu lại hỏi :
- Trò Do, trò còn nhớ người hiền nước Sở ?
- Bẩm, có phải là Sở cuồng Tiếp Dư ca hát nghêu ngao.
- Trò còn nhớ 2 ẩn sĩ họ Kiệt, họ Tràng ?
- Bẩm, có phải 2 lực điền ở giáp ranh Sở, Thái ?
- Họ khuyên ta bỏ đi việc chính sự lụy phiền, để làm người tỵ thế. Khuyên ta : Trời không hề nói gì mà vạn vật điều hòa. Ta cũng muốn êm lời, nhưng gặp việc nghĩa mà không làm, biết Chơn Lý mà không nói thì phải sống với đồng loại hay sống với chim muông !
Tử Lộ ra ngoài nói với các bạn : Thầy nói : Hậu sinh khả úy. Không phải sợ kẻ sanh sau tài giỏi hơn mình, mà sợ họ làm sai lạc Chánh lý bằng ngoa ngôn xảo ngữ vị lợi đó thôi.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Thăng Long Hoài Cổ


Bà Huyện Thanh Quan * đăng lúc 04:58:53 PM, Jun 19, 2008 * Số lần xem: 422
Thăng Long Hoài Cổ

Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Đối tửu ca - 對酒歌


Tào Tháo (曹操) 155 - 220 * đăng lúc 05:59:47 PM, Feb 05, 2013 * Số lần xem: 99
Hình ảnh
#1
對酒歌

對酒歌,
太平時,
吏不呼門。
王者賢且明,
宰相股肱皆忠良。
咸禮讓,
民無所爭訟。
三年耕有九年儲,
倉谷滿盈。
斑白不負載。
雨澤如此,
百谷用成。
卻走馬,
以糞其土田。
爵公侯伯子男,
咸愛其民,
以黜陟幽明。
子養有若父與兄。
犯禮法,
輕重隨其刑。
路無拾遺之私。
囹圄空虛,
冬節不斷。
人耄耋,
皆得以壽終。
恩德廣及草木昆虫。



Đối Tửu Ca

Đối tửu ca,
Thái bình thì,
Lại bất hô môn.
Vương giả hiền thả minh,
Tể tướng cổ quăng giai trung lương.
Hàm lễ nhượng,
Dân vô sở tranh tụng.
Tam niên canh hữu cửu niên trừ,
Thương cốc mãn doanh.
Ban bạch bất phụ tải.
Vũ trạch như thử,
Bách cốc dụng thành.
Khước tẩu mã,
Dĩ phân kỳ thổ điền.
Tước công hầu bá tử nam,
Hàm ái kỳ dân,
Dĩ truất trắc u minh.
Tử dưỡng hữu nhược phụ dữ huynh.
Phạm lễ pháp,
Khinh trọng tuỳ kỳ hình.
Lộ vô thập di chi tư.
Linh ngữ không hư,
Đông tiết bất đoán.
Nhân mạo điệt,
Giai đắc dĩ thọ chung.
Ân đức quảng cập thảo mộc côn trùng.

Bài hát ngồi trước rượu (Người dịch: Cổ Mộ)

Nâng chén ca,
Buổi thái hoà,
Quan không thúc thuế.
Vua chúa sáng hiền,
Trung lương tướng tá tài ba.
Cùng nhau nhường kính,
Tranh chấp không xảy ra.
Ba năm cày cấy, chín năm vẫn ấm no,
Lúa gạo đầy kho,
Việc nặng không đến người già.
Mưa thuận gió hoà,
Ngũ cốc được mùa.
Bắt ngựa hoang,
Giúp canh tác mùa màng.
Các vị công, hầu, bá, tử, nam,
Đều yêu thương dân chúng,
Thưởng phạt phân minh.
Coi dân như con em mình.
Kẻ phạm lễ pháp,
Tuỳ nặng nhẹ xử hình.
Ngoài đường của rơi không ai nhặt.
Trong lao tù vắng tanh,
Mùa đông không có án.
Người già cả,
Sống trọn tuổi trời.
Cả thảo mộc côn trùng, ân đức đều đến nơi.

Thất bộ thi - 七步詩


Tào Thực - 曹 植 (192 - 232) * đăng lúc 07:04:45 PM, Jan 19, 2009 * Số lần xem: 1943
Thất bộ thi (Tào Thực - 曹植, Trung Quốc)

Thể thơ: Cổ phong (cổ thể) (thời kỳ: Tam Quốc, Tấn, Nam Bắc, Tuỳ)

七步詩

煮豆持作羹,
漉豉以為汁,
萁在釜下然。
豆在釜中泣,
本自同根生,
相煎何太急。

Thất bộ thi

Chử đậu trì tác canh,
Lộc thị dĩ vi trấp,
Cơ tại phủ há nhiên.
Đậu tại phủ trung khấp,
Bản tự đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp.

Thơ bảy bước (Người dịch: (Không rõ))

Nấu đậu để làm canh,
Hạt bỏ vào nồi nấu,
Cành ở dưới mà đun.
Đậu ở trong nồi khóc,
Sinh ra từ một gốc,
Sao nỡ đốt thiêu nhau.
Dị bản:

煮豆燃豆箕,
豆在釜中泣。
本是同根生,
相煎何太急。

Chử đậu nhiên đậu cơ,
Đậu tại phủ trung khấp.
Bản thị đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp.

(Nấu đậu đun cành đậu,
Đậu ở trong nồi khóc.
Sinh ra từ một gốc,
Sao nỡ đốt thiêu nhau.)

Nguyễn Thị Bích Hải dịch :

Nấu đậu để làm canh
Lọc đậu chắt nước cốt
Cành đậu đốt đáy nồi
Hạt đậu trong nồi khóc
Vốn từ một gốc sinh
Đốt nhau sao tàn khốc
 

Chú thích xuất xứ của bài thơ:

Theo Thế thuyết tân ngữ, thiên Văn học thì Văn đế(Tào Phi) từng ra lệnh cho Đông A Vuơng(Tào Thực) trong bảy bước phải làm một bài thơ, không xong thì sẽ chém đầu. Lời Phi chưa dứt, Thực đã đọc bài thơ trên, vì vậy mà người ta gọi là Thơ bảy bước. Phi nghe xong, có ý thẹn liền tha tội chết cho Thực. Bài thơ này lưu truyền rất rộng, nhắc nhở người ta chớ nên "huynh đệ tương tàn". Trong quá trình lưu truyền, bài thơ được giản lược chỉ còn bốn câu (bỏ hai câu đầu).
Trong bản dịch sách Tam Quốc Chí, cụ Phan Kế Bính dịch:

Cành đậu đun hạt đậu
Hạt đậu khóc hu hu:
Cùng sinh từ một gốc
Thui nhau nỡ thế ru ?

Thuyết Nan

Hàn Phi biết cái khó trong việc du thuyết nên viết chương Thuyết Nan rất đầy đủ, được Tư Mã Thiên tóm tắt như sau:
Cái khó trong việc du thuyết không phải là ở chỗ biết những điều cần phải đưa ra nói. Nó cũng không phải ở chỗ mình không biết biện luận. Cũng không phải ở chỗ không trình bày được rõ ràng ý nghĩ của mình. Cũng không phải ở chỗ không dám nói ngang nói dọc cho hết cái ý của mình. Phàm cái khó trong việc du thuyết chính là ở chỗ làm thế nào biết được cái tim của con người mình muốn thuyết phục để dùng cái thuyết của mình mà đối phó.
Nếu con người mình muốn du thuyết chỉ nghĩ đến cái danh cho cao, mà mình lại đem cái lợi lớn ra thuyết với họ, thì họ sẽ cho mình là bọn hèn hạ, và đối xử như với bọn ti tiện. Thế là thế nào họ cũng vất bỏ ta thật xa. Nếu con người mình muốn du thuyết chỉ nghĩ đến cái lợi cho lớn, mà mình lại đem cái danh cao ra thuyết với họ thì họ sẽ cho ta không chú ý gì đến thế sự, nói chuyện viễn vông, và thế nào họ cũng không dùng. Nếu con người mình muốn du thuyết trong bụng nghĩ đến cái lợi cho lớn nhưng bên ngoài làm ra vẻ muốn cái danh cho cao, mà ta đem chuyện danh cao ra thuyêt thì bên ngoài họ làm ra vẻ dung nạp cái thân ta, nhưng thực ra thì bỏ rơi ta. Nhưng nếu ta đem chuyện lợi lớn ra nói với họ, thì trong bụng họ dùng lời nói của ta, nhưng bên ngoài họ sẽ vất bỏ cái thân của ta . Đó là những điều không biết không được.
Phàm việc làm mà thành là do chỗ bí mật; lời nói mà thất bại là do chỗ bị tiết lộ. Bản thân mình chưa chắc đã tiết lộ ra, nhưng chỉ cần nói đến cái mà người ta giấu thì đã nguy đến thân rồi. Nhà vua có điều sai mà người du thuyết lại đúng những lời sáng tỏ, dùng cái nghĩa lý hay để suy luận ra sai lầm của nhà vua thì nguy đến thân.
Nếu ta chưa được ân huệ nhà vua tưới đến mà lại đem hết những điều ta biết ra nói thì hoặc là cái thuyết của ta sẽ được dùng đem đến kết quả, nhưng ta chẳng được ơn đức; hoặc là cái thuyết không được dùng xảy ra thất bại, thế là ta bị nghi ngờ. Như thế thì nguy đến thân.
Phàm nhà vua được cái kế của ta, nhưng muốn xem đó là công lao của mình, mà người du thuyết lại muốn cùng biết, thế thì nguy đến thân. Nếu nhà vua rõ ràng muốn làm một việc gì và cho đó là công lao của mình mà kẻ du thuyết lại cùng biết điều đó thì nguy đến thân. Nếu mình cưỡng ép nhà vua bắt làm những điều nhà vua quyết không làm, bác bỏ những điều nhà vua quyết không bỏ, thì nguy đến thân.
Cho nên nói: Nếu ta đem những người tôn quí trong triều ra nói với nhà vua, thì nhà vua sẽ cho là ta ly gián; nếu ta đem những người thấp hèn ra nói với nhà vua, thì nhà vua sẽ cho ta muốn bán quyền. Ta bàn đến cái nhà vua thích, thì nhà vua sẽ cho là ta nịnh hót; ta bàn đến cái vua ghét, thì nhà vua sẽ cho ta thăm dò nhà vua.
Nếu ta nói tóm tắt, ít lời, thì nhà vua sẽ cho ta không có kiến thức gì và khinh ta. Nếu ta nói mênh mông, lời lẻ phu phiếm, thì nhà vua sẽ thấy là nhiều quá và chán. Nếu ta cứ trình bày sự việc theo ý muốn nhà vua, thì nhà vua sẽ bảo ta "nhút nhát không dám nói hết sự lý". Nếu ta suy nghĩ sự việc và nói rộng, thì nhà vua sẽ bảo ta "thô lỗ và ngạo mạn". Tất cả những điều khó này trong việc du thuyết không thể không biết đến.
Phàm việc thuyết phục là cốt ở chỗ biết tô điểm cho cái mà nhà vua quý trọng, từ bỏ cái mà nhà vua ghét. Hễ nhà vua tự cho cái kế mình là sai, thì ta chớ nêu chỗ nó sai lầm mà bắt bẻ đến cùng.
Nếu nhà vua tự cho mình dũng mãnh ở chỗ quyết đoán một việc gì, thì ta chớ đưa ý của ta ra chống lại để làm cho nhà vua nổi giận. Nếu nhà vua cho sức lực mình đủ để làm một việc gì, thì ta chớ đem chuyện khó khăn ra cản trở. Nếu nhà vua muốn mưu việc gì cùng với một người khác, hay khen một người mà nhà vua cùng bàn mưu với họ, thì ta nên tô điểm cho họ và chớ nói gì có hại cho họ. Nếu nhà vua và người ấy thất bại, thì hãy cố gắng tô điểm làm như họ không sai lầm.
Kẻ đại trung không dùng lời lẽ làm phất ý nhà vua, lời can gián cũng không cốt đả kích bài bác gì ai, lời can ngăn hợp lẽ thì thế nào cũng được nghe. Người làm tôi phải biết kiên nhẫn và lựa lời. Sau đó mới đem cái tài biện luận và cái khôn của mình ra. Như thế cho nên gần gũi với nhà vua, không bị nhà vua ngờ vực.
Biết hết cái đạo thờ vua là khó. Phải chờ đến khi nào quen biết đã lâu, đã được ân huệ nhiều, bày mưu kế sâu mà không bị nghi, cãi lại ý nhà vua mà không bị tội, lúc bấy giờ mới bày rõ điều lợi hại, để lập được công, nói thẳng điều phải điều trái để cho cái thân mình được sung sướng. Khi nào vua và tôi đối với nhau được như vậy lúc đó là lúc việc du thuyết thành công.
Y Doãn làm người nấu bếp. Bách Lý Hề làm người nô lệ đều do con đường hèn hạ mà gặp nhà vua. Cho nên họ đều thành đạt từ chỗ được nhà vua dùng. Hai người này đều là những bậc thánh nhân mà còn không thể không lấy thân mình làm tôi tớ, để bước vào đường đời một cách nhục nhã như vậy. Như thế đủ biết đó không phải là điều làm cho những bầy tôi tài giỏi phải xấu hổ. Nước Tống có người nhà giàu. Trời mưa, tường hư hỏng. Người con nói: "Nếu không xây tường thì sẽ bị kẻ trộm ăn trộm". Cha của người hàng xóm cũng khuyên như vậy. Đêm ấy, quả nhiên trong nhà mất của. Nhà ấy khen người con là khôn, mà nghi cha của người hàng xóm.
Ngày xưa, Trịnh Vũ Công muốn đánh Hồ, bèn gả con gái cho người Hồ. Nhân đấy, nhà vua hỏi quần thần:
– Ta muốn dùng binh, nên đánh ai?
Quan Kỳ Tư nói:
– Nên đánh Hồ.
Nhà vua bèn giết Quan Kỳ Tư, nói:
– Hồ là nước anh em của ta, tại sao nhà ngươi lại nói nên đánh?
Vua nước Hồ nghe tin ấy, cho nước Trịnh là chỗ thân thiết với mình nên không để phòng. Nước Trịnh đánh úp và lấy Hồ.
Hai điều nói trên chứng tỏ là hai người đều biết đúng sự thực nhưng người rủi nhất thì bị giết, người bị thiệt hại ít nhất, cũng bị nghi. Như thế đủ biết cái khó không phải ở chỗ biết, cái khó là ở chỗ dùng cái biết của mình. Ngày xưa, Di Tử Hà được vua nước Vệ yêu, theo pháp luật của nước Vệ, ai tự tiện đi xe của nhà vua là bị tội chặt chân. Được ít lâu mẹ Di Tử mắc bệnh. Có người nghe tin đang đêm đến báo với Di Tử Hà. Di Tử Hà trái lệnh, đi ra bằng xe ngựa của vua.
Nhà vua nghe tin cho là người hiền, nói:
– Thực là người có hiếu! Vì mẹ mà phạm tội bị chặt chân.
Di Tử Hà đi chơi với nhà vua trong vườn quả. Di Tử Hà ăn quả đào thấy ngon, không ăn hết, dâng nhà vua.
Nhà vua nói:
– Anh ta thật yêu ta! Quên cái miệng của mình mà nhớ đến ta.
Đến khi Di Tử nhan sắc kém, lòng vua yêu bớt đi, lại phạm tội.
Nhà vua nói:
– Nó đã có lần tự tiện đi xe ngựa của ta, lại có lần bắt ta ăn quả đào thừa của nó.
Cho nên việc làm của Di Tử không khác, nhưng lần trước được khen là hiền, lần sau lại phạm tội.
Đó là vì lòng yêu ghét hết sức thay đổi. Cho nên được nhà vua yêu thì cái khôn của mình càng làm cho mình được thân, bị nhà vua ghét thì cái tội của mình càng làm cho mình bị ruồng bỏ. Những kẻ sĩ đi du thuyết không thể không xét đến chỗ nhà vua yêu và ghét cái gì, rồi sau đó mới thuyết phục.
Rồng là một vật có thể đùa bỡn, thậm chí có thể cưỡi. Nhưng ở dưới cái cổ của nó có cái vảy ngược dài một thước. Ai động đến thì bị nó giết ngay. Các vị vua chúa cũng có cái vảy ngược, kẻ du thuyết không sờ phải cái vảy ngược của vua chúa thì ngõ hầu mới là người giỏi.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Quy hoạch chi tiết khu du lịch văn hóa sinh thái núi Trường Lệ




1.     Tên dự án: Quy hoạch chi tiết khu du lịch văn hóa - sinh thái núi Trường Lệ.
2.     Nguồn vốn: Ngân sách tỉnh hỗ trợ và ngân sách thị xã Sầm Sơn.
3.     Chủ đầu tư: UBND thị xã Sầm Sơn
4.     Chủ dự án: Ban quản lý dự án hạ tầng thị xã Sầm Sơn.
5.     Đơn vị nghiên cứu quy hoạch: Viện NCPT Du lịch.
6.     Năm thực hiện: 2001-2002
7.     Sự cần thiết phải quy hoạch
     - Sầm Sơn là một thị xã du lịch nghỉ mát của tỉnh Thanh Hóa, trong những năm qua, hoạt động du lịch phát triển mạnh nhưng chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm thị xã với hình thức nghỉ mát tắm biển là chủ yếu, các hoạt động khác để lưu giữ khách còn hạn chế, khu vực phía Bắc và phía Nam Sầm Sơn có tiềm năng du lịch sinh thái rất phong phú đặc biệt là khu núi Trường Lệ sẵn có cảnh đẹp nổi tiếng như hòn trống mái, đền Độc Cước, chùa Cô Tiên, rừng thông, bãi đá,… là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch.
     - Trong quy hoạch chung thị xã Sầm Sơn điều chỉnh năm 2001 thì khu vực núi Trường Lệ được định hướng phát triển thành khu du lịch văn hóa - vui chơi giải trí, do đó việc nghiên cứu quy hoạch chi tiết (QHCT) toàn khu vực và QHCT đợt đầu để làm cơ sở lập dự án khả thi xây dựng là rất cần thiết.
8.     Vị trí, phạm vi nghiên cứu và quy mô:
a. Vị trí, phạm vi nghiên cứu: Khu vực lập quy hoạch khu du lịch văn hóa - vui chơi giải trí núi Trường Lệ (bao gồm cả khuôn viên Độc Cứoc) thuộc phường Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nằm ở Đông Nam thị xã Sầm Sơn có ví trí cụ thể như sau: Phía Bắc giám với khu dân cư phường Trường Sơn; phía Nam và Đông giáp Biển; phía Tây giáp đường Trần Hưng Đạo đi Quảng Vinh.
b. Quy mô: 200 ha
9.     Tính chất và chức năng:
a. Tính chất: Là khu du lịch văn hóa - vui chơi giải trí
b. Chức năng:
+ Khu bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên
+ Khu du lịch sinh thái núi
+ Du lịch văn hóa
+ Khu du lịch nghỉ dướng
+ Là cầu nối không gian giữa Bắc Sầm Sơn và Nam Sầm Sơn.
10.     Mục tiêu:
          + Cụ thể hóa quy hoạch chung xây dựng thị xã Sầm Sơn
          + Làm cơ sở lập dự án đầu tư và thu hút vốn đầu tư có hiệu quả
      11.      Phân khu chức năng
          Cơ cấu tổ chức quy hoạch gồm các khu chức năng:
a. Khu vui chơi giải trí tĩnh (100ha): Nằm ở phía Đông núi Trường Lệ, bao quanh các di tích như: Đền Độc Cước, đền Cô Tiên, chùa Đệ Nhị, ... gắn với khuôn viên chân núi Độc Cước bao gồm: Khu trung tâm đón tiếp; khu di tích thắng cảnh; khu công viên đá; khu nha nghỉ thấp tầng; khu bãi tắm mini; khu cây xanh cảnh quan, cắm trại.
b. Khu vui chơi - giải trí động: Nằm ở phía Tây Bắc núi Trường Lệ bao gồm: Trung tâm đón tiếp - điều chỉnh - dịch vụ; khu công viên thú; khu đồi vọng cảnh; bến cáp treo; khu cây xanh cảnh quan cắm trại.
c. Khu làng chài truyền thống: Nằm ở dãi cát ven biển thuộc chân núi phía Tây Nam của núi Trường Lệ bao gồm: Khu trung tâm đón tiếp điều hành dịch vụ; khu nhà nhỉ thấp tầng; khu làn chài truyền thống; khu câu cá quán ăn hải sản; khu trưng bày cá cảnh; khu thể thao mặt nước; khu cây xanh cảnh quan cắm trại
d. Giao thông: bao gồm đường, bãi đỗ xe, sân bay trực thăng.
      12.      Quy hoạch hệ thống hạ tầng.
+ Giao thông: Cải tạo nâng cấp và hoàn thiện các tuyến đường hiện có, xây dựng mới mạng nội bộ nối liền các khu vực chức năng trong khu du lịch đảm bảo giao thông thuận tiện cho du khách. Tổ chức các đường đi bộ, đường dạo ngắm cảnh, các bãi đỗ xe, kết hợp với các khu công cộng, sân bay trực thăng, bến thuyền ở chân núi,.. thuận tiện cho phát triển du lịch.
+ Chuẩn bị kỹ thuật, khu đất: San nền cục cục bộ bảo đảm thoát nước tốt, không ảnh hưởng và phá vỡ cảnh quan thiên nhiên. Dựa trên cơ sở quy hoạch thoát nước của thị xã Sầm Sơn đã nghiên cứu để tính toán hoàn chỉnh hệ thống thoát nước khu vực.
+ Cấp nước: Nguồn nước cấp cho khu vực núi Trường Lệ lấy từ đường ống cấp nước chính của thị xã Sầm Sơn.
+ Cấp điện: Lấy từ hệ thống điện chung của thị xã Sầm Sơn, căn cứ vào tiêu chuẩn cấp điện để tính toán phụ tải và xác định công suất các trạm biến áp sao cho phù hợp.
+ Thoát nước và vệ sinh môi trường: Nghiên cứu các giải pháp xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn cho hệ sinh thái trong khu vực.
+ Tổng hợp đường dây, đường ống kỹ thuật: Bố trí các đường dây, đường ống kỹ thuật trên mặt bằng theo mạng lưới đường giao thông trong khu vực.
13.     Phân đợt đầu tư
- Giai đoạn 2000 - 2005: Xây dựng khu với chơi giải trí tĩnh
- Giai đoạn 2005 - 2010: Xây dựng khu làng chài truyền thống
- Giai đoạn 2010 - 2020: Xây dựng khu vui chơi giải trí động.

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

MẪU LẬP DỰ ÁN KHU TRUNG TÂM DU LỊCH SINH THÁI LONG AN




ĐỊA ĐIỂM: XÃ THẠCH LỢI – HUYỆN BẾN LỨC – TỈNH LONG AN
CHỦ ĐẦU TƯ: CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ SẢN XUẤT HIỆP ĐỨC THÀNH
NỘI DUNG
CHƯƠNG I:          GIỚI THIỆU CHỦ ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN.................................................................. 3
I.1.       Giới thiệu chủ đầu tư......................................................................................................... 3
I.2.       Mô tả sơ bộ dự án.............................................................................................................. 3
I.3.       Cơ sở pháp lý triển khai dự án........................................................................................... 3
CHƯƠNG II:         NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG................................................................................ 6
II.1.      T ỔNG QUAN VỀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.......................................................................... 6
II.1.1. Tổng Quan Về Nền Kinh Tế Vĩ Mô Việt Nam:......................................................................... 6
II.2.      ĐỊNH HƯỚNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LONG AN GIAI ĐOẠN 2006-2010          11
II.3.      PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LONG AN NĂM 2009................................................ 15
II.4.      Thị trường và mật độ dân số các tỉnh miền tây Nam bộ.................................................... 16
II.5.      Một số khu du lịch sinh thái điển hình............................................................................. 17
CHƯƠNG III:        SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH................................... 19
III.1.     Mục tiêu nhiệm vụ đầu tư................................................................................................. 19
III.2. Sự cần thiết phải đầu tư xây dựng........................................................................................ 20
CHƯƠNG IV:        ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG....................................................................................... 20
IV.1.     Mô tả địa điểm xây dựng.................................................................................................. 20
IV.2.     Điều kiện tự nhiên............................................................................................................ 20
IV.2.1.      Địa hình................................................................................................................ 20
IV.2.2.      Thủy văn.............................................................................................................. 20
IV.2.3.      Khí hậu thời tiết:................................................................................................... 21
IV.3.     Hiện trạng sử dụng đất..................................................................................................... 22
IV.5. Nhận xét chung về hiện trạng............................................................................................... 23
CHƯƠNG V:         PHƯƠNG ÁN ĐỀN BÙ GIẢI PHÒNG MẶT BẰNG................................................ 23
5.1        Tổng quĩ đất đầu tư xây dựng công trình......................................................................... 23
5.2        Chính sách bồi thường - Mô tả hiện trạng khu đất............................................................ 24
CHƯƠNG VI:        QUI MÔ CÔNG SUẤT DỰ ÁN............................................................................. 24
VI.1.     Phạm vi dự án.................................................................................................................. 24
VI.2.     Lựa chọn cấu hình và công suất....................................................................................... 24
CHƯƠNG VII:       GIẢI PHÁP QUI HOẠCH THIẾT KẾ CƠ SỞ......................................................... 35
VII.1.    Các hạng mục công trình................................................................................................. 35
Mục tiêu nhiệm vụ thiết kế............................................................................................................ 35
VII.2. Giải pháp thiết kế công trình............................................................................................... 35
VII.2.1. Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của dự án............................................................................. 35
VI.2.2. Giải pháp quy hoạch:......................................................................................................... 36
VII.2.3. Giải pháp kiến trúc:.......................................................................................................... 36
VII.2.4. Giải pháp kết cấu:............................................................................................................. 36
VII.2.5. Giải pháp kỹ thuật............................................................................................................. 36
VII.3. Qui hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật................................................................................... 37
VII.3.1. Đường giao thông............................................................................................................ 38
VII.3.2. Quy hoạch chuẩn bị đất xây dựng:................................................................................... 38
VII.3.3. Hệ thống thoát nước mặt:................................................................................................. 38
VII.3.4. Hệ thống thoát nước bẩn – vệ sinh môi trường:............................................................... 39
VII.3.5. Hệ thống cấp nước:.......................................................................................................... 39
VII.3.6. Hệ thống cấp điện – chiếu sáng công cộng:..................................................................... 39
CHƯƠNG VIII:      PHƯƠNG ÁN VẬN HÀNH VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG........................................... 41
VIII.1.   Phương án hoạt động và sử dụng người lao động........................................................... 41
CHƯƠNG IX:        PHƯƠNG ÁN THI CÔNG CÔNG TRÌNH.............................................................. 42
IX.1.     Tiến độ thực hiện............................................................................................................. 42
IX.2.     Giải pháp thi công xây dựng............................................................................................ 42
IX.3.     SƠ ĐỒ TỔ CHỨC THI CÔNG............................................................................................. 43
IX.4.     THIẾT BỊ THI CÔNG CHÍNH............................................................................................... 43
IX.5.     Hình thức quản lý dự án................................................................................................... 44
CHƯƠNG X:         ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG, AT-PCCN................................................ 45
X.1.      Đánh giá tác động môi trường.......................................................................................... 45
CHƯƠNG XI:        TỔNG MỨC ĐẦU TƯ DỰ ÁN.............................................................................. 54
XI.1.     Cơ sở lập Tổng mức đầu tư............................................................................................. 54
XI.2.     Nội dung Tổng mức đầu tư.............................................................................................. 55
CHƯƠNG XII:       VỐN ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN................................................................................. 62
XII.1.    Nguồn vốn đầu tư của dự án............................................................................................ 62
XII.2.    Phương án hoàn trả vốn vay............................................................................................ 64
CHƯƠNG XIII:      HIỆU QUẢ KINH TẾ-TÀI CHÍNH CỦA DỰ ÁN...................................................... 65
XIII.1.   Các giả định kinh tế và cơ sở tính toán............................................................................ 65
XIII.2.   Tính toán chi phí.............................................................................................................. 66
XIII.3.   Các chỉ tiêu kinh tế của dự án.......................................................................................... 70
XIII.4.   Đánh giá ảnh hưởng Kinh tế - Xã hội................................................................................ 70
CHƯƠNG XIV:      KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 71
XIV.1.   Kết luận............................................................................................................................ 71
XIV.2.   Kiến nghị.......................................................................................................................... 71