Thứ Bảy, ngày 30 tháng 3 năm 2013

Bàn thờ Gia Tiên

Bàn thờ Gia Tiên

http://ue.vnweblogs.com/gallery/18513/HV_01.gif
Quay tại nhà TS Nguyễn Nhã và nhà cụ Xoang
Xin xem tiếp các Video về Bàn thờ Tổ Tiên, Gia Tiên, Ông Bà ở phần cuối bài
Con người có Tổ có Tông, như cây có cội, như sông có nguồn. Người Việt Nam không ai không không thuộc câu ca này.  Uống nhớ nước  nhớ  nguồn, diễn đàn hân hạnh biên tập gửi đễn ACE học viên và quí đọc giả tạm tham khảo. Do sự tìm tòi của chúng tôi có giới hạn, kính mong ACE đóng góp thêm. Xin chân thành cảm ơn
Trong mỗi gia đình trong cộng đồng của người Việt từ xa xưa đều có bàn thờ tổ tiên. Ngoài bàn thờ gia tiên ở chính ngôi nhà chính, còn có nhiều bàn thờ khác như bàn thờ Thổ công (miền Nam gọi thờ ông Địa), bàn thờ Thánh sư, bàn thờ bà Cô ông Mãnh, bàn thờ Thần Tài, bàn thờ Tiền chủ…  đồng thời với những tín điều của tôn giáo đang theo, vẫn có một tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên - đó không phải là một tôn giáo, mà là do lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ kị đã khuất. Gia đình theo đạo Phật còn có bàn thờ Phật.
Mỗi bàn thờ có sự bài trí khác nhau, song đều có bình hương, bài vị và ống hương, đèn nến…

1 bàn thờ tổ tiên

http://2.bp.blogspot.com/_k1DW8w56lJk/TQM9Dw156MI/AAAAAAAAAA0/_G4cRZ0vgNg/s320/P1172000.JPGBàn thờ tổ tiên là bàn thờ chính trong mỗi gia đình Việt Nam, người ta còn có sự phân biệt giữa nhà thờ họ và nhà thờ trong từng gia đình.

- Bàn thờ họ:

Tất cả con cháu cùng một dòng họ lập chung một bàn thờ vị Thủy tổ, gọi là Từ đường của dòng họ. Ngày xưa bài vị được gh bằng chữ Hán. Nhiều dòng họ không có nhà thờ riêng thì xây một đài lộ thiên dựng bia đá, tên thụy, hiệu các tổ tiên. Mỗi khi có giỗ tổ, hoặc có tế tự của một chi họ, thì cả họ hoặc riêng chi họ đó ra đài lộ thiên cúng tế. Đài lộ thiên này là nơi để cúng tế, hoặc tổ chức các trò vui trong ngày giỗ tổ dòng họ hoặc một chi họ. Cugs tế xong sẽ về nhà tộc trưởng hoặc trưởng chi cùng ăn uống. Những dòng họ lớn, giàu có thường tổ chức trò vui vào đêm hôm Tiên thường.

Có nhiều họ có nhà thờ riêng với bàn thờ Thủy tổ để cho chi trưởng nam đời đời giữ hương hỏa, và chỉ khi nào ngành trưởng không có con trai nối dõi thì việc cúng bái mới chuyển sang chi dưới.

Có họ, ngoài bàn thờ Thủy tổ chung, con cháu luân phiên nhau thờ tổ ở nhà riêng của mình. Song chỉ là trường hợp của những người đi xa quê hương, không thuận tiện dự ngày giỗ tổ hàng năm và lễ tổ trong dịp tết được.

- Nhà thờ Chi

Nhiều họ lớn chia thành nhiều chi. Mỗi chi lại đông con cháu nên ngoài việc tham gia ngày giỗ tổ toàn họ còn có ngày giỗ tổ riêng của chi họ. Các chi đều có nhà thờ riêng, gọi là bản chi từ đường.

Hiện nay, trên bàn thờ nhiều gia đình ở nông thôn vẫn còn đặt bức hoành phi mang dòng chữ nói rõ đó là từ đường của chi họ nào. Từ đường có nghĩa là nhà thờ. Trên bàn thờ này có bài vị của ông tổ, nên gọi là Thuần chủ bản chi. Thần chủ này cũng như Thàn chủ của Thủy tổ họ sẽ được thờ mãi mãi.

Người trong chi họ có dành một số ruộng để lấy hoa lợi cúng giỗ, ruộng này gọi là Kỵ điền.

- Bàn thờ gia đình

Bàn thờ riêng của từng gia đình còn gọi là Gia từ, hay bàn thờ Gia tiên. Những gia đình giàu có mới xây nhà thờ riêng cho gia đình. Còn phần lớn, bàn thờ gia tiên được thiết lập ngay ở gian giữa nhà chính.

Những người con thứ không cần phải có bàn thờ gia tiên vì không phải cúng giỗ, nhưng vì lòng thành kính với tổ tirn, họ vẫn lập bàn thờ để cúng vọng.

2. Trang trí bàn thờ Tổ

altNhà thờ ở nông thôn thường có ba gian hai cháu hoặc một gian hai chái. Và bàn thờ tổ bao giờ cũng thiết lập ở gian hai chái. Và bàn thờ tổ bao giờ cũng thiết lập gian nhà chính, nếu không có nhà thờ riêng trong gia đình.

Bàn thờ tổ gồm hai lớp:

Lớp trong kê sát ngang tường hậu, gồm: chiếc rương hòm thật lớn cao khoảng 1m, dài khoảng trên 2m, rộng gần 2m. Mặt trước chiếc rương đóng nẹp chia làm 3 ô. Các ô này có khi là ba chữ đại tự, có khi là những bức tranh được dán trong dịp lễ tét. Trên những nẹp có những đồng tiền. Trong rương đựng bát đĩa, nồi, sanh đồng để dùng khi giỗ tết.

Những gia đình khá giả thay chiếc rương bằng một chiếc bàn thờ to, một chiếc sập sơn theeos vàng lộng lẫy được kê trên bộ mễ cao khoảng 1m. Phía trước có tấm màn đỏ che những mâm thau, đồ đồng cung bát đĩa, được xếp dưới gầm sập.

Kê giữa chiếc rương hoặc sập có ít nhất hai chiếc mâm nhỏ chân quỳ, mặt hình chữ nhật: một chiếc bề dài độ 8 tấc, bề rộng khoảng 6 tấc. Chiếc mâm thứ hai nhỏ hơn một chút kê đằng sau chiếc thứ nhất. Cả hai chiếc cao chừng 4 tấc trông giống như hai chiếc bàn nhỏ, thấp, dùng để bày đồ lễ. Trong những ngày giỗ tết, cỗ được bày trên bàn thứ nhất, còn hoa quả, trầu nước bày ở chiếc mâm thứ hai nhỏ hơn.

Bên trong cùng lớp trong là Thần chủ đựng trong long khám kê trên một chiếc bệ có độ cao bằng hai chiếc mâm. Có nhiều gia đình không thờ thần chủ, chỉ kê ở nơi đây một chiếc kỷ, hoặc chiếc ngai tượng trưng cho ngôi vị tổ tiên.

Đối với những gia đình giàu có, những đồ thờ này được sơn son thếp vàng. Riêng chiếc ngai hay tay ngai đều mang hình đầu rông. Rồng đứng đầu tứ linh được dùng trang hoàng cho đồ tự khí. Trên chiếc mâm nhỏ, kê bên trong ở trước thần chủ, hay chiếc ngai có một cái tam sơn, một thứ đồ thờ để đặt trầu, chén rượu, ly nước, đĩa hoa quả trong những khi cúng giỗ.

Lớp bàn thờ bên trong được ngăn với lớp bên ngoài bằng một bức y môn, tức là một chiếc màn thờ màu đỏ bằng the, nhiễu hay vải tùy theo gia cảnh. Chiếc y môn treo cao thõng xuống che kín toàn bộ bàn thờ lớp bên trong.

Lớp ngoài bắt đầu từ y môn trở ra, bao gồm: một hương án kê gần sát y môn. Trên giữa để cắm http://2.bp.blogspot.com/_k1DW8w56lJk/TQM9Dw156MI/AAAAAAAAAA0/_G4cRZ0vgNg/s320/P1172000.JPGhương khi cúng bái. Đằng sau bình hương là một chiếc kỷ nhỏ, cao độ 3 phân, dài 50 phân, rộng 25 phân. Đặt ba chiếc đài có nắp và trên nắp có núm cầm lên trên chiếc kỷ nhỏ này.
Khi mở nắp đài ra nắp kê xuống dưới, đài đặt lên trên. Đài làm bằng gỗ được tiện rỗng dưới để khi đặt lên trên nắp đài. Đài sẽ ăn khớp với nắp. Ba đài này dùng đựng chén rượu nhỏ lúc cúng giỗ, còn ngày thường đài được đậy nắp để tránh bụi bặm.

Hai bên thường để hai cây đèn xao khoảng 40 phân, chân tiện và lưng chừng có vành rộng ra gọi là đĩa đèn. Ngày xưa, trong những lần cúng giỗ, người ta đặt lên hai cây đèn này hai đĩa dầu lạc đốt bấc. Sau này, thay bằng hai ngọn đèn Hoa Kỳ. Ngày nay, người ta mắc trực tiếp bóng điện vào hai cây đèn.

Gần hai bên bình hương, ngoài hai cây đèn còn có hai con hạc đồng chầu hai bên. Trên đầu hai con hạc có chỗ để thắp nến. Ở mép ngoài hai cây đèn, gần hai đầu hương án là hai ống đựng hương. Hai ống hương bằng gỗ tiện miệng loe. Ngoài các thứ trên còn có lọ độc bình hoặc song bình bày trên hương án để cắm hoa. Còn nếu dùng độc bình thì đối diện với độc bình là một chiếc mâm bồng bày ngũ quả khi cúng giỗ.

Tất cả những thứ như bàn, kỷ và chiếc ngai, đồ thờ trên hương án như kỷ nhỏ, đặt đèn, ống hương… đều làm bằng gỗ mít để ít bị mối một, còn sang hơn thì sơn son thếp vàng. Các gia đình giàu có dung những đồ trên bằng đồng, gọi là bộ tam sự, ngũ sự hay thất sự. Trong bộ tam sự, chiếc đỉnh đồng thay thế cho bình hương. Hai bên đỉnh là hai con hạc đồng, mỏ ngậm bông hoa, trên đầu có chỗ cắm nến. Nếu là ngũ sự có thêm hai ống hương và thất sự thì có thêm đôi đèn.

Ngoài ra, các gia đình giàu có còn bày giá binh khí trước bàn thờ có cắm bát bảo lộc bộ (là 8 binh khí của quân sĩ thời xưa). Những đồ tự khí đối với từng gia đình là vật quý vô cùng thiêng liêng, dù túng thiếu đến đâu không một ai dám đem cầm bán.

Chiếc y môn

Y môn là bức màn vải đỏ, dùng làm bức màn ngăn cách lớp bàn thờ bên ngoài và lớp bàn thờ bên trong. Y môn gồm hai cảnh, xung quanh có thiêu hoa văn, được treo thõng xuống che kín lớp bàn trong. Y môn có thể làm bằng nhiễu, the hoặc vải màu đỏ. Trên cùng y môn có một dải lụa hoặc nhung the mầu băng ngang. Trên lớp băng ngang thường được thêu hoặc dán chữ đại tự.

Đèn treo

Người ta thường treo trước y môn một chiếc đèn, dân gian gọi là tự đăng. Vào dịp giõ tết, chiếc đèn này được thắp suốt ngày đêm. Bởi người xưa cho rằng trong những ngày này, hương hồn những người đã khuất luôn ngự trị trên bàn thờ. Và ngọn đèn tượng trưng cho sự hiện diện của tổ tiên.

Đèn treo ngày xưa thường là một đĩa dầu lạc hay dầu vừng… được đặt trong một chiếc đèn lồng, sau là đèn ba dây thắp dầu lửa. Ngày nay, phần lớn người ta dùng đen điện hoặc nến.

Thần chủ

Trên bàn thờ tổ của một dòng họ bao giờ cúng có riêng một thần chủ, thần chủ này được thờ  phụng mãi mãi. Đối với những gia đình giàu sang, mướn lập bàn thờ tại gia, lập thần chủ để thờ thì phải có đủ thần chủ của cụ kỵ, ông cha, tức là cao, tằng, tổ khảo. Thần chủ làm bằng gỗ táu (gỗ của loại cây sống ngàn năm), dài khoảng hai phân rưỡi, ở giữa đề tên họ, chức tước, còn hai bên ghi ngày giờ sinh, tử của tôt tiên.

Thần chủ thường được để trong long khám, khi nào cúng giỗ thì mới mở ra. Thần chủ chỉ để thờ 4 đời trở xuongs. Sang đời thứ 5, thần chủ của cao tổ được mai đi và nâng bậc tằng này gọi là Ngũ, đại mai thần chủ, nghĩa là thần chủ sang đời thứ năn được chôn đi.

3. Gia Phả

Bất cứ nhà thờ nào trước đây đều cất giữ cuốn sổ ghi chép thế thứ trước sau của tổ tiên, và các thế hệ nối tiếp từ đời này qua đời khác. Cuốn sổ đó được gọi là cuốc gia phả. Sổ gia phả ngày xưa được dùng bằng giấy sắc, viết rất rõ ràng, nắn nót để tỏ lòng thành kính đối với tổ tiên, thường được đặt trong khám hoặc trong một lớp riêng để trên bàn thờ. Những dòng họ to, gia phả được chép hoặc in sao thành nhiều bản cho mỗi chi họ một bản để con cháu hiểu rõ về tổ tiên mình.

Trong gia phả, mỗi vị tổ tirn đều được ghi những dòng trích ngang, ngày tháng sinh tử, tên họ, chức tước, có khi còn ghi cả tính tình, sở thích của các vị lúc sinh thời. trong đó còn ghi rõ vị nào tên gì, sinh ra những ai, ngành trưởng, ngành thứ là những ai.

Trong gia phả ghi chép đầy đủ cả công trạng của tổ tirn, sinh ở đâu, táng ở đâu, được nơi nào thờ phụng làm phúc thần hay thành hoàng làng đối với những người đã từng là công thần, có công với dân với nước.

4. Hoành phi
alt

Trong các nhà thờ họ đều treo một tấm biển gỗ nằm ngang phái trên mặt trước cửa bàn thờ là bức Hoành phi và hai bên phía dưới là những câu đối. Chiều ngang tấm biển Hoành phi ăn suốt gian nhà, dài khoảng 3 thước, rộng khoảng 1 thước đến 1 thước hai. Trên tấm biển đó khắc những chữ lớn, thường chỉ khắc được từ 3 đến 4 chữ là cùng. Tấm biển đó được gọi là bức hoành phi.

altBức hoành phi thường được sơn son thếp vàng, sơn đen chữ đỏ hoặc vàng hay chữ khảm xà cừ. Có gia đình cầu kỳ làm bức hoành phi theo hình thức cuốn thư rất đẹp. Nhà nghepf có thể làm hoành phi bằng gỗ thường, hoặc tấm cót ép, đóng nẹp vuông vắn, dán lót tấm giấy đỏ, viết Đại tự thay cho bức hoành phi.
Ý nghĩa của đại tự viết trên hoành phi mang nội dung ca tụng công đức của tổ tiên hoặc tỏ lòng kính trọng của con cháu đối với tổ tiên như:

Kính như tại: có nghĩa là con cháu kính trọng tổ tiên, như tổ tiên luôn luôn tại vị trên bàn thờ.

Phúc mãn đường: Có nghĩa là gia đình đầy đủ phúc đức

Bách thế bất thiên: bao giờ con cháu ăn ở cũng đúng mực, không thiên lệch.

Trên bức hoành phi còn có ghi niên hiệu năm làm vào mùa, tháng nào. Nếu là bức hoành phi do một người con cháu nào đó cúng thì có ghi tên tuổi người đó. Hoành phi có ghi tên người cúng phần lớn là hoành phi treo tại các nhà thờ tổ họ hay trưởng chi họ.

5. Câu đối

Ở hai cột phái trước bàn thờ hoặc trên tường có treo mỗi bên một câu đối. Nhà khá giả thường viết câu đối sơn son thếp vàng hay sơn đen khảm xà cừ. Còn nhà nghèo thường chỉ viết câu đối trên giấy hồng. Nói chung, các bức hoành phi hay câu đối đều được viết bằng chữ Hán. Nhưng cũng có gia đình viết cả câu đối và hoành phi bằng chữ nôm. Cũng như bức hoành phi, nội dung câu đối với tổ tiên hoặc ca tụng công đức của tổ tiên hoặc ca tụng công đức của tổ tiên, ví như:

Tổ tông công đức thiên nhiên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xưng

Có nghĩa là:

Công đức tổ tông nghìn năm thịnh
Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay

Hay câu đối treo ở một gia đình mà ông cha xưa có công với nước:

Tổ tiên phương danh lưu quốc sử
Từ tôn tính học kế gia phong

Đại ý là:

Tiên tổ danh thơm ghi sử nước
Cháu con cố gắng học nói cơ nhà

6. Bàn thờ người mới qua đời

Những người mới qua đời không được thờ chung với bàn thờ gia tiên, mà phải lập bàn thờ riêng ở gian bên. Bàn thờ người mới chết sơ sài hơn bàn thờ gia tiên, chỉ có bàn hương một bệ dài, lọ hoa và bài vị. Ngày nay, ngoài bài vị còn có bức chân dung hoặc bức tượng người quá cố. Bàn thờ riêng này có treo các bức trướng, câu đối của gia chủ hoặc của bạn bè thân hữu phúng viếng.

7. Thờ Bà cô, Ông Mãnh

Theo quan niện của người Việt Nam, bà cô, ông mãnh là những con cháu trong gia đình chết yểu, chưa dựng vợ, gả chồng, gặp giờ linh trở nên linh thiêng. Sự linh thiêng này gia chỉ biết được qua sự báo mộng của người đã khuất, được những người trong gia đình xác nhận qua một vài hiện tưởng kỳ lạ xẩy ra trong gia đình sau khi người này chết.

Thực tế, bà cô, ông mãnh chết ngoài ba năm cũng được thờ chung trên bàn thờ tổ tiên, nhưng vì tuổi nhỏ, không dám về hưởng lễ với các cụ trên một bàn thờ chung, cũng giống như trên trần thế, ngày giỗ tết, con trẻ không được ngồi chung, ngang hàng với người lớn. Vì vậy, bàn thờ bà cô, ông mãnh thường được đặt dưới gầm hương án của bàn thờ tổ tiên. Bàn thờ này rất đơn giản, chỉ có một chiếc bệ đặt trên bài vị. Thậm chí, nhiều gia đình không có cả bài vị. Trước bài vị là một bình hương nhỏ, có một vài ba chiếc đài để đặt ly rượu, đĩa trầu cau, tách nước khi cúng, một cây đèn nhỏ. Những gia đình có nhiều bà cô, ông mãnh được thờ chung một bàn thờ với một bát hương riêng.

Gặp lúc gia đình có trẻ nhỏ khó ở, người ta thường khấn xin bà cô, ông mãnh phù hộ cho đứa trẻ ốm đau được mau khỏi. Khi cúng bà cô, ông mãnh, gia trưởng chỉ lâm râm khấn, không lễ vì bà cô ông mãnh thuộc hàng cháu con.
Tương truyền răng mỗi dòng họ có một vong (linh hồn người đã chết) linh thiêng và đứng đầu các vong của dòng họ đó. Đó là Bà Tổ cô.
Đây là các bà cô ở đời thứ tư- còn gọi là bà Cô Tổ tứ đại. Số lượng nhiều hay ít phụ thuộc vào số người ở cõi âm của họ ấy. Từ 50-200 người thì bầu 3-4 bà Tổ Cô . Khi một thế (một đời) ở cõi âm chuyển thế (chết, đầu thai) thì bà cô Tứ đại thành ngũ đại. Bà cô Tam đại lên thay. Ở các đời khác tứ đại, người ta gọi những người chết trẻ là bà cô, ông cậu (ông mãnh) chứ không gọi là tổ.
Các bà cô Tổ được phân biệt bằng màu sắc áo mặc, còn mũ đội thì giống nhau:
Áo xanh: tộc trưởng, phụ trách khoa học, kĩ thuật
Áo hồng: giáo dục, sư phạm
Áo đỏ: hôn nhân, vợ chồng
Áo đen: sống chết, sinh tử
Áo trắng: giáo dục, đạo đức
Áo tím: khoa học kĩ thuật, phẩm hạnh
Áo vàng: khoa học kĩ thuật, đào tạo chuyên sâu


Nghe nói rằng dòng họ nào có bà Cô Tổ thiêng thì con cháu dễ được như ý chuyện nhân duyên. Lễ kêu bà Tổ Cô rất đơn giản: Cau trầu, hoa tươi,… đốt nén nhang, gọi bà tổ cô, và kêu: Nếu là duyên lành thì ở lại, nếu thực sự chẳng phải là duyên thì bà dẫn đi cho mau…

Bà Tổ cô có nhiệm vụ hướng dẫn việc tu tập cho các linh hồn chốn âm ty, đồng thời cắt đặt họ trong việc độ trì, bảo hộ cho con cháu. Chính vì thế, khi trong nhà có sự, con cháu muốn nhờ cậy tổ tiên trong dòng họ, thì cần đến trước bàn thờ gia tiên mà kêu bà Tổ lên sắp đặt công việc, cử vong đi theo con
Văn chầu Tổ Cô

NÉN HƯƠNG DUYÊN, LÒNG THÀNH BÁI THỈNH.
NGUYỆN XIN CÔ,VĂN THÍNH LAI LÂM.
LÍNH THỜI SỞ NGUYỆN TÒNG TÂM.
CẦU CHI NHƯ Ý CHẲNG LẦM MỘT KHI.
ĐỘI ƠN TỔ ĐỨC XƯA KIA.
SINH CÔ LAN HUỆ,TÔNG CHI DÕI TRUYỀN.
TRƯỚC TỔ TIÊN, SINH CÔ YỂU ĐIỆU.
TỰA TIÊN DUNG ,TUYỆT DIỆU VÔ SONG.
TÓC DÀI DA TRẮNG LƯNG ONG.
SINH RA HIỂN ỨNG,LẠ LÙNG ANH LINH.
TÌM VAÒ NHỮNG CHÔN SƠN TÌNH.
ĐỂ MÀ HÓA PHÉP ,UY HÀNH BỐN PHƯƠNG.
TRAỈ ĐƯƠNG TRƯỜNG, ĐÈO NGANG PHỐ CÁT.
CUNG CẢNH VUI, BÁT NGÁT LẠ THAY.
CÔ LÊN CHỐN ẤY DẠO CHƠI.
THANH NHÀN NHẤT NHẬT,MUÔN ĐỜI THẦN TIÊN.
DƯỚI DƯƠNG ĐÌNH,ĐÂU HƠN BÁT CẢNH.
HỌC ĐƯỢC THẦY, ĐẠO THÁNH THUNG DUNG.
NHÀN DU VUI THÚ XÍCH TÒNG.
CÔ LÊN CHỐN ẤY,CÀNG TRÔNG CÀNG MÀU.
LÌA SÔNG CHÂU, THỰC LÀ CHỐN LẠ.
CÓ KÊNH MÈO,HANG ĐÁ RẤT VUI.
CÓ QUA CHỐN ẤY DAỌ CHƠI.
CHẦU ĐỨC CHÚA CẢ, LÀ NƠI CÕI NHÀN.
KẺ TRẦN GIAN AI MÀ CHẲNG MỘ.
LÒNG KHẨN CẦU,LẠI PHÙ HỘ CHO.
BỐN MÙA DẠO CẢNH NGAO DU.
ĐỘNG ĐÀO ĐÃ TRẢI, BỂ HỒ TỪNG QUEN.
KHI LÊN CHẦU CHÚA THƯỢNG THIÊN.
CƯỠI MÂY NƯƠNG GIÓ,TỚI MIỀN LINH TIÊU.
LÚC BAN CHIỀU DẠO CHƠI VÕNG THẮM.
CHỐN THIÊN THAI THĂM THẲM HÔM MAI.
TIÊU THIỀU THỔI SÁO NHỊP ĐÔI.
QUYỂN TRẦM ĐÀN GẢY,GHẸO NGƯỜI TÌNH NHÂN.
KÌA SÔNG NGÂN, CẦU Ô LỠ BƯỚC.
KHÁCH HỒ ĐÔNG ,ĐỘI ƯỚC HỒ TÂY.
CÓ KHI HÓA PHÉP LẠ THAY.
CẦU BÀ CHÚA THOẢI,THỦA RAỲ LONG CUNG.
NGỰ THUYỀN RỒNG,DẠO CHƠI THỦY ĐẠO.
ĐUA TIẾNG ĐÀN, TIẾNG SÁO TIẾNG XÊNH.
DẬP DÌU TANG TÍNH TANG TÌNH.
HOÀNG MAI ĐIỂM TUYẾT,ĐỘ SINH AM TUYỀN.
THƯỞ LÂM TUYỀN THANH SƠN BÍCH ĐỘNG.
CÔ LÊN CHƠI, ĐỦNG ĐỈNH THẢNH THƠI.
THIÊN HƯƠNG QUỐC SẮC GỒM HAI.
VANG LỪNG NAM BẮC TRỪ TAI CỨU NÀN.
LƯU ÂN GIÁNG PHÚC MUÔN VÀN.
PHÙ HỘ CON CHÁU, BÌNH AN GIA ĐÌNH.
RA TAY SÁT QUỶ TRỪ TINH.
CÔ LÊN TẤU ĐỐI, ĐỂ ĐÌNH SẮC BAN.
TÂU RỒI TRỞ GÓT TRÀNG AN.
PHÙ HỘ CHO HỌ,THỌ TRÀNG THIÊN XUÂN.
Hát Văn Bà Tổ Cô

Trình bày: Thu Thủy - Huy Dự
alt
Hình tượng Bà Tổ Cô có lẽ đã ấy theo hình tượng
phỏng theo Nữ Sơn thần Bixia của người Trung Hoa
Về hình tượng thờ phụng thì chúng ta thường thấy đó là hình ảnh thể hiện của người con gái xinh đẹp, trinh trắng, đôn hậu, ăn mặc thật trang nghiêm để thể hiện qua các bức tượng hoặc hình vẽ. Mỗi địa phương cũng có nhiều hình tượng khác nhau. Có lẽ người dân Việt Nam lấy hình tượng Nữ Sơn thần Bixia làm hình tượng tượng trưng để thờ Bà Tổ Cô.
  Thông thường trong những gia đình người Việt và người Hoa có thờ bằng hình ảnh trên được vẻ giấy trên lụa ba người phụ nữ, một người cao đứng ở giữa là Bà Tổ Cô, còn hình hai vị thấp hơn ở bên Trái và bên Phái là người chầu hầu cho Bà Tổ Cô, hoặc chữ trên liễn. Còn bằng tượng thì chủ yếu trong Đền, Miếu, Chùa ...
 Thờ phụng chủ yếu là bằng cái Tâm hướng về các Bà Tổ Cô thât sự, còn hình tượng chẳng qua để chúng ta trên tinh thần tập trung quán tưởng vào đó mà thành kính. Lễ vật cúng thường xuyên là trầu cau tiêm sẳn ít nhất là 3 là trầu, mỗi tuần thay trầu 1 lần, lâu lắm là 2 tuần thay trầu cau mới. Nhớ cúng bằng hoa tươi, khi thấy hoa héo úa là phải bỏ và thay hoa tươi vào.
 Thayvì các bạn đi mua đi thỉnh một hình vẽ ở chợ, thì đây diễn đàn có một số hình ảnh để các bạn tham khảo. Nếu các bạn muốn có một ảnh lớn thì nên đến tiệm in khổ rộng ở mẫy nơi cắt decal thìchỉ vài chục ngàn, nhưng ảnh rất bền, còn như àm ảnh khổ nhỏ thì đền tiệm rua hình. Tùy duyên của các bạn chọn xem ảnh nào thích hợp với các bạn. Mong là các bạn được thuận duyên.
http://www.74410.com/movie/uploads/201108/68542af1bf0fcd7bd25f15deb70de133.jpg
 http://images.fengjing.com/MiddleImage/20101123/2010112303223429438.jpg

TO_CO_1.jpg, 328114 bytes
Lưu ý hình bên trên và bên dưới : đây là Thần Nữ để dùng thờ như Bà Tổ Cô, Bà Cô Tổ
không phải là Quan Thế Âm Bồ Tát đâu
http://ue.vnweblogs.com/gallery/18513/TO_CO_2.jpg
http://ue.vnweblogs.com/gallery/18513/TO_CO_4.jpg
http://ue.vnweblogs.com/gallery/18513/TO_CO_%E5%85%83%E5%90%9B%20%E7%A2%A7%E9%9C%9E_1.jpg
http://ue.vnweblogs.com/gallery/18513/TO_CO_%E5%85%83%E5%90%9B%20%E7%A2%A7%E9%9C%9E.jpg
8. Ý nghĩa đồ tự khí

altĐồ tự khí là vật cần thết được trưng bày trên thờ để tạo thêm sự thành kính, trang nghiêm như những vật dụng sau

Cái tam sơn: tượng trưng cho tam giác

Cái lư hương tròn: tượng trưng cho bàn thái cực

Hương được thắp lên: tượng trưng cho các vì tinh tú

Đội đèn: tượng trưng nhật nguyệt quang minh

Lo hoa: thường là lọ lục bình (bình hình lục giác) tượng trưng cho cái tâm không, tức lục căn thanh tịnh.
 Nguồn: Phong tục thờ cúng của người Việt , Song Mai - Quỳnh Trang, NXB văn hóa thông tin, tr 15-28.
 
Người Việt có niềm tin rằng: chết chỉ là sự tiêu tan của thể xác, còn linh hồn vẫn còn và luôn trở về với gia đình. Chết chẳng qua chỉ là một cuộc trở về gặp ông bà, tổ tiên. Vong hồn của người đã khuất luôn ngự trị trên bàn thờ để gần gũi con cháu, theo dõi họ trong công việc hàng ngày và giúp đỡ (phù hộ) họ trong những trường hợp cấn thiết. Và người Việt còn tâm niệm: “trần sao âm vậy” – người sống cần gì, sống như thế nào thì người chết cũng như vậy. Bởi tin thế, nên việc lập bàn thờ để thờ cúng Tổ tiên là điều không thể thiếu trong đời sống con người.
 
Ngôi nhà truyền thống của người Việt thường có ba hoặc năm gian, trong đó gian giữa được coi là chỗ trang trọng nhất, là trung tâm của ngôi nhà. Những việc quan trọng như: thờ phụng, tiếp khách, sinh hoạt...  đều diễn ra ở gian này. Gian giữa lại luôn có cửa lớn ra vào, mở cửa là nhìn thấy trời đất lưu thông, âm dương hòa đồng để rồi cảm hoá lẽ đời.
Bàn thờ là nơi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với Tổ tiên nên bàn thờ thường được lập ở chính giữa gian giữa ngôi nhà, gia chủ không được kê giường ngủ đối diện với bàn thờ. Tuỳ quy mô ngôi nhà và cũng tuỳ mức sống từng gia chủ mà bàn thờ có kích thước và hình thức khác nhau.
Những gia đình nghèo khó, với những đồ đạc trong nhà cũng đơn sơ, thì bàn thờ có khi chỉ là vạt phên tre giữa hai cột trong của gian giữa, bên trong có bát hương nhỏ. Còn ở những gia đình thuộc loại “thường thường bậc trung” trở lên, thì bàn thờ được đóng đàng hoàng. Có gia chủ còn dùng mặt tủ làm bàn thờ hoặc đóng cái giá gác làm lên tường. Cho dù bàn thờ có được thiết kế ra sao thì điều quan trọng nó luôn phải ở vị trí trang trọng, có độ cao thích hợp để khi cúng mọi người tỏ được sự ngưỡng vọng thành kính của mình với Tổ tiên.
altTrên bàn thờ có thể có khám, ngai hay đặt bài vị được chạm khá cầu kỳ và sơn thếp cẩn thận. Trước bài vị có một hương án rất cao. Trên hương án này, tại chính giữa là một bát hương để cắm hương khi cúng lễ. Bát hương được chăm nom rất cẩn thận, chu đáo, và không được xê dịch. Đằng sau bát hương là một chiếc kỷ nhỏ, trên kỷ có ba chiếc đài có nắp và trên nắp có núm cầm.
Ba đài này đựng ba chén rượu nhỏ lúc cúng lễ. Hàng ngày, đài được đậy nắp để tránh bụi bặm, chỉ mở ra trong những dịp lễ tết, ngày rằm, mùng một. Hai bên bát hương là hai cây đèn (hai ngọn đèn dầu) hoặc hai cây nến (ngày nay tại các đô thị, người ta thắp hai cây đèn điện). Gần hai bên bát hương, ngoài hai cây đèn có khi còn có hai con hạc chầu hai bên. Ở mé ngoài hai cây đèn, gần hai đầu hương án là hai ống hương dùng để đựng hương.
 
Ngoài các đồ thờ trên, còn có một lọ lộc bình hoặc đôi song bình bày trên bàn thờ để cắm hoa trong những ngày giỗ chạp, ngày Tết. Tấm biển treo cao nằm ngang trên mé trước bàn thờ, trên có những chữ Hán thật lớn, nhiều nhà dùng chữ Nôm (thường là ba, bốn chữ) là hoành phi. Hai bên cột hoặc hai bên tường nhà có treo những câu đối như:
 
“Tổ công phụ đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiên vạn đại vinh”
 
Hoặc:
 
“Phúc sinh phú quý gia đường thịnh
Lộc tiến vinh hoa tử tôn hưng”
 
Những chữ viết trên hoành phi, câu đối là tỏ lòng tôn kính của con cháu đối với Tổ tiên hoặc để ghi tụng công đức của Tổ tiên. Những nhà khá giả, giàu có thì hoành phi, câu đối được làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng hay sơn đen khảm xà cừ, còn nhà nghèo thì hoành phi thường là những tấm cót đóng nẹp, dán lên những tờ giấy đỏ có viết chữ lớn, đôi liễn hay những tờ giấy hồng có viết những câu đối.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, kiến trúc nhà ở nông thôn ít biến đổi, nên kiểu bàn thờ cổ truyền vẫn phát huy tác dụng, song những ngôi nhà có kiến trúc hiện đại, nội thất hiện đại ở thành phố thì cách bố trí và các đồ thờ cũng có nhiều biến đổi sao cho phù hợp với toàn cảnh ngôi nhà (chiếc hương án cầu kỳ, những bức hoành phi, câu đối không còn phù hợp với nội thất nhiều gia đình).
 
Bàn thờ là nơi thiêng liêng nên người ta không để các thứ lặt vặt, các vật dụng thường ngày trong sinh hoạt lên bàn thờ mà lúc nào cùng phải giữ bàn thờ và đồ thờ được sạch sẽ, uy nghiêm. Và bất cứ trong hoàn cảnh nào, dù túng thiếu đến mấy người ta cũng không đem cầm cố hay bán đồ thờ.
 
Trước mỗi biến cố xảy ra trong gia đình (chẳng hạn như: dựng vợ gả chồng cho con cháu; con cháu chuẩn bị đi thi; làm nhà mới; làm ăn; vợ sinh con; lập được công danh; trong nhà có người đau ốm, có người chuẩn bị đi xa, làm việc lớn...), gia chủ đều khấn vái gia tiên, trước hết là để trình bày sự kiện, sau là để xin sự phù hộ.

Mỗi lần cúng tế, tùy theo các gia chủ nghèo, giàu và tùy những buổi lễ, đồ lễ có thể gồm: rượu, hoa quả, vàng hương, xôi chè, oản, cỗ mặn, có khi thêm đồ hàng mã... và nhất thiết không thể thiếu một chén nước tinh khiết (nước mưa) bởi nước mưa biểu hiện cho sự trong sạch tâm linh trước tổ tiên, thánh thần.
Trong những trường hợp cần thiết, đồ lễ có thể chỉ cần một chén nước nước mưa, một nén hương thắp lên bàn thờ là đủ. Bàn thờ khi làm lễ phải có thắp đèn hay thắp nến. Hương trên bàn thờ bao giờ cũng thắp theo số lẻ (một hoặc ba nén...) và các nén hương phải được cắm ngay ngắn. Khi chân hương trong bát hương đã đầy, gia chủ thắp hương xin phép Tổ tiên nhổ chân hương, đem hóa thành tro rồi đổ xuống ao hồ.
 
Bàn thờ Tổ tiên là điểm hội tụ truyền thống tốt đẹp của gia đình, gợi lên một chiều sâu tâm linh “cây có gốc, nước có nguồn”,  biểu hiện nếp sống văn hóa biết vun trồng gốc để cây đơm hoa đẹp, rồi kết trái ngọt, và từ đó sẽ toả sáng giá trị văn hóa soi cho con cháu bước vào tương lai.
Tham khảo Phong thủy Bàn thờ

Cổ kính bàn thờ Gia Tiên kèm hướng dẫn chi tiết

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét