Thứ Sáu, ngày 30 tháng 11 năm 2012

Khác Biệt giữa Ngọc và Thạch


Ngọc là tên gọi của đá quý hoặc bán quý (precious stones; semi-precious stones). Chữ Ngọc tiếng tàu gồm chữ Vương và một dấu phẩy. Ba gạch ngang tượng trưng cho ba miếng ngọc được xỏ bằng một sợi chỉ và một trụ chống ở chưn, ý là chỉ có hoàng đế mới dùng được ngọc và ngọc là cột trụ chống đở ngai vàng của vua được trường tồn vĩnh cửu như ngọc vậy.

Tất cả các loại ngọc, thạch, hột bẹt, san hô, hổ phách, v.v. bao gồm các khoáng chất (mineral); tinh thể đá (crystal); nham thạch (rock) hay các nguyên liệu thiên nhiên khác (natural material) có nguồn gốc vô cơ hay hữu cơ trong thiên nhiên. Ngọc chia ra làm 2 nhánh, nhánh ngọc quý precious stones và ngọc bán quý semi-precious stones. Giá trị của chúng tùy thuộc vào 3 yếu tố chính: vẻ đẹp, sự lâu bền tương đương với độ cứng, và sự quý hiếm. Thí dụ có loại đá thiếu một hoặc hai yếu tố vừa nêu ra: đẹp nhưng không cứng hay không hiếm. Ngọc thông thường có độ cứng 7 trở lên. Chỉ có 5 loại ngọc "the big five" được xếp vào hàng đá quý báu (precious stones):
kim cương (diamond),
ngọc lục bảo (emerald),
hồng bảo ngọc (ruby),
ngọc lam (sapphire).
Ngọc trai (the pearl) cũng được xếp vào hạng quý.

* Ngọc bích 碧玉 - Bì yù; Jade (Jadeit); (tiếng Hàn) 비취. Tiếng tàu "bích " là màu xanh biếc, màu sắc đậm, tươi. Chữ "biếc" chỉ sử dụng cho màu xanh (xanh lá cây và xanh nước biển/xanh da trời). Jade còn có loại màu ngà voi, màu vàng cam, màu xanh lá cây lợt, gần như trắng: bạch ngọc phỉ thúy. Ngọc phỉ thúy 翡翠玉 trong suốt, có độ phát quang cao, rất hiếm. Ở trong Chùa vàng chùa bạc tại Thủ đô của Campuchia có tượng Phật ngọc phỉ thúy cao khoảng 30cm. Ngọc bích có độ cứng từ 6 đến 7 (vào đây xem bảng độ cứng theo Mohs).
Ở Tàu, trong các viện bảo tàng có những khối ngọc bích tạc tượng hoặc những miếng Ngọc bích đẹp và quý như Tỳ Hưu bằng ngọc trong Tử cấm thành, hoặc áo liệm thi thể vua làm bằng những miếng ngọc bích mỏng. Nhưng theo Fred Ward, nhà khoáng vật học là tác giả viết nhiều cuốn sách nổi tiếng về đá quý "Fred Ward Gem Book Series", thì Tàu từ xưa đến nay chưa hề có mỏ ngọc bích, kể cả trong rặng núi Tần lĩnh - 昆仑山 Kulun - núi Côn lôn ở thượng nguồn Hòa điền - 和田 Hotan.
Thật ra, tất cả những thứ ngọc bích quý hiếm đang ở trên đất Tàu chỉ là những vật cống nạp từ ngàn xưa của các quốc gia khác như Tân cương, Miến điện - Myanmar, Tây tạng, hoặc khi quân Tàu xâm chiếm các nước khác ăn cướp được đem về dâng vua hoặc giữ lại làm của riêng.
Các quốc gia có mỏ Ngọc bích trên thế giới: california, alaska - Mỹ, british columbia - Kanada (phần nhiều là nephrite jade), Siberia - Nga, Río Motagua - Guatemala, Brazil, New Zealand, Nhựt, Tân cương, Miến điện, Tây tạng.
Tương truyền ngày xa xưa khoảng 3000 năm trước, ngọc bích được y sĩ của thổ dân Maya - Nam Mỹ nghiền thành bột, pha chế với lá cây thuốc cho người sắp chết uống, có thể cải tử hoàn sinh.
Jade gồm nephrite và jadeit. Đặc biệt của nephrite jade là màu xanh lá cây đậm, có những chấm hoặc vết đen của quặng chromite FeCr2O4, tìm được nhiều hơn, độ cứng 5,5 đến 6, cấu trúc hóa học: calcium, magnesium, sắt, silicate hydroxide Ca2(Mg,Fe)5Si8O22(OH)2. Khoảng 1780, người Âu châu dùng nó để chữa bịnh thận, nephrite tiếng La-tinh nghĩa "trái thận".
Jadeit jade thường có màu lợt, có vân, độ cứng 6,5 đến 7, hiếm, tinh khiết và nặng hơn nephrite. Jadeit có ít tạp chất hơn, cấu trúc hóa học: sodium, nhôm, sắt và silicate Na(Al,Fe3)Si2O6

* Marble tiếng tàu Đại thạch: đá có nhiều đường vân. Tiếng Việt gọi là Cẩm thạch: Cẩm là vật có đường vân đẹp đẽ. Thạch là đá. Vậy Cẩm thạch chỉ là một loại Đá hoa cương - granite marble, đá có vân nhưng không phải là Ngọc (đá quý). Tùy theo loại, Cẩm thạch có độ cứng từ 2,5 đến 5 (vào đây xem bảng độ cứng theo Mohs), cấu trúc hóa học: CaCO3. Có một số đồ trang sức cẩm thạch "made in China" tuông ra thị trường ào ào làm mọi người trên thế giới tưởng tượng bên tàu có mỏ gì lớn lắm, đào hoài không hết, nhưng chúng được làm bằng loại cẩm thạch... họ tìm những cục đá có đường vân màu xanh, nghiền nát thành bột và ép lại thành vòng, hoặc ngâm cho ăn màu, nhuộm xanh cục đá.
Chuyện có thiệt: có người mua vòng cẩm thạch dổm, không rẽ nên tưởng lầm đó là ngọc bích đeo cho hên! Đeo dính trên cổ tay mấy tháng tắm rửa, rửa mặt rửa tay, nó đã thấm nước mềm rồi lại khô nên giòn. Một hôm nội trợ nấu nướng trong bếp lỡ tay đụng cái lò nướng... bụp... chiếc vòng bị bể tan nát thành ngàn mảnh, hốt bỏ thùng rác. Mất toi tiền, của dổm cũng tiêu tùng luôn.

Làm sao để biết ngọc nào thiệt, ngọc nào giả? Cách đơn giản nhứt là theo phương pháp của Mohs: đá nào có độ cứng cao hơn sẽ cắt được, đồng nghĩa với làm trầy được đá có độ cứng thấp hơn, nhưng ngược lại thì không thể nào. Phương pháp này không những áp dụng cho đá, mà còn áp dụng được cho tất cả các vật thể. Một thí dụ đơn giản, dễ hiểu nhứt: than chì (dùng làm bút chì - pencil lead) có độ cứng 1, móng tay (fingernail) có độ cứng 2,5...

* Serpentine, jade mới Tàu. Tên khác: xĩn yù; new jade; xiu yan jade; barettit; gymnit; radiotin; serpophit; porcellophit. Nhìn bên ngoài tương tự ngọc bích, cũng có màu xanh lá cây lợt, vàng lợt và trong. Tiếng La-tinh serpens nghĩa "con rắn". Thành phần hóa học: magnesium iron silicate hydroxide (Mg,Fe)3Si2O5(OH)4, độ cứng 3 đến 4,5. So sánh với ngọc bích, do có độ cứng thấp hơn nên đá Tàu dễ bị nứt, mẽ. Người xưa tin tưởng rằng, nếu mang đá này trong người sẽ không bao giờ bị rắn cắn và khi ai bị rắn độc cắn, chỉ cần đặt đá này lên vết thương nó có thể rút chất độc ra ngoài.

Thạch tiếng tàu nghĩa là đá, có độ cứng chỉ khoảng 3: Hóa thạch (fossil); Hỏa thạch (silex); Sa thạch (sandstone); Nham thạch (lava); Thạch anh (rock-crystal); Thạch cao (gypsum - (CaSO4-2H2O));
* Nguyệt quang thạch 月光石, moonstone. tên khác nguyệt trường thạch 月长石, labradorite, đá Xà cừ, đá mặt trăng, cylon opal - K[AlSi3O8], độ cứng 6. Người Ấn độ cho rằng loại đá này là con mắt thứ ba, là nhãn thần. Tương truyền: trong đêm rằm nếu để viên nguyệt thạch vào miệng của người đang yêu, thì họ có thể nhìn thấy diễn tiến mối tình của họ trong tương lai... nếu ai không thấy gì hết, thì chắc ngậm nhằm nguyệt thạch giả rồi hí hí
* Thạch nhũ (thí dụ: trong động Phong Nha), tiếng anh Stalagnat gọi chung hai từ Stalaktit và Stalagmit. Nước có vôi trong hang động từ trên trần nhỏ giọt xuống lâu đời đọng hỏng đất, treo từ trần xuống gọi là Stalagmit. Stalaktit là thạch nhũ từ dưới đất ngày càng bồi lên thành trụ.
* Gỗ hóa thạch, petrified wood từ tiếng Hy lạp petro nghĩa "đá", tên khác: gỗ đá.
* Thiên thạch, tektite từ tiếng Hy lạp tektos nghĩa "nóng chảy". Tên khác: moldavite đá từ Tiệp khắc, có màu xanh lá cây, tectite, bouteille stone. Thường có màu đen, xanh lá cây, không màu. Độ cứng 5 đến 6. Thành phần hóa học SiO2(+Al2O3). Đá này thường tìm được chung quanh hố mà ngày xưa thiên thạch rớt xuống làm nóng chảy các khoáng chất nơi đó hình thành.
* Thủy tinh núi lửa, SiO2, obsidian, volcanic silica glass, hình thành từ nham thạch núi lửa. Màu từ xanh lá cây đậm, nâu đậm đến đen. Độ cứng 5 đến 5,5. Tên thường gọi: đá xanh chai vì thường có màu xanh lá cây đậm, nâu, xám đến đen.
* Đá Kim sa màu vàng nâu hoặc đen, lấp lánh bởi những chấm như hột cát vàng.
* San hô đỏ - red coral CaCO3, độ cứng 3
* Hổ phách - amber (C10H16O)4, độ cứng 2 đến 2,5. Tên khoa học succinum dịch từ tiếng La-tinh succus nghĩa "nhựa cây", tên khác: Huyết phách, Minh phách, Hồng tùng chi, là nhựa cây hóa đá (fossilzed tree resin). Thường có màu vàng đến cam.
* Rhodonite: một loại đá đỏ hoặc hồng đậm, cam, đôi khi có vân đen. Bắt nguồn từ tiếng Hy lạp rhódos nghĩa "bông hồng". Bao gồm các khoáng chất Mn, Fe, Mg, Ca, Si, cấu tạo hóa học (CaMnFeMg)5(SiO3)5. Độ cứng 5,5 đến 6,5
* Hắc Mã Não - black agate, có độ cứng 7, loại đá bán quý, bán nhiều ở Mã lai. Người Mã cho là đá này mang lại thịnh vượng, họ thường làm chuỗi tràng hột để bán tại khu du lịch.

Theo truyền thuyết từ Châu âu như Ý, Đông âu như Liên xô; Ai Cập; Ấn độ thì mỗi tháng sinh gắn liền với một loại đá quý. Vì đông và tây đều tin như vậy nên Mỹ, Âu châu thì lấy tháng sinh Dương lịch và Á châu thì dùng tháng sinh Âm lịch nên có chút xê dịch. Tùy theo cảm nhận mà đeo đá màu sắc mình thích theo tháng sinh Âm hay Dương để hấp thụ năng lượng, may mắn từ viên ngọc. Sức mạnh của ngọc không lệ thuộc vào độ to hay nhỏ mà tùy thuộc vào sự trong, sạch của chúng (những biểu tượng và ý nghĩa sau đây, trích từ sách Astrology Gems).
- 23.12. đến 20.01. Capricorn, Ma kết (魔羯; Ma yết): Garnet Mg3Al2(SiO4)3, Ngọc hồng lựu, (tiếng Hàn) 석류석. Màu đỏ như máu, độ cứng 7,25, tên dịch từ từ Hy lạp nghĩa "lửa". Ngọc hồng lựu biểu tượng cho thành công và được nhiều người hâm mộ.
- 21.01. đến 19.02. Aquarius, Bảo bình (寶瓶): Amethyst SiO2, Thạch anh tím hay Ngọc tử anh (tinh thể thạch anh - crystal amethyst), 자석영, 石英. Thạch anh thuộc "đá bán quý" semi-precious stone, ngoài màu tím còn có màu xanh, vàng, hồng, trắng. Viên ngọc các giám mục, giáo chủ công giáo đeo. Tượng trưng lòng tín ngưỡng, sự trong sạch của tâm hồn, bảo vệ người đeo trước sự cám dỗ.
- 20.02. đến 20.03. Pisces, Song ngư (雙魚): Aquamarine BeAl2(SiO3)6, blue beryl, Hải thủy ngọc, xanh nước biển lợt, 남옥광물. Độ cứng 7,5. Đây là viên ngọc của tình yêu, vợ chồng hòa một. Truyền thuyết: khi hải thủy ngọc chuyển màu từ trong thành đục là điềm báo cho người đeo, có ai đó đang lừa dối mình.
- 21.03. đến 20.04 Aries, Bạch Dương (白羊): Diamond, kim cương 다이아몬드, 钻石 là ngọc quý nhứt trong các loại ngọc. Hột xoàn giúp người đeo thêm tự tin, bảo vệ họ trước những thế lực xấu. Nhưng đối với người lạm dụng sức mạnh của chúng để hại người, thì ngược lại sẽ nhận hậu quả xấu kinh khủng.
- 21.04. đến 21.05 Taurus, Kim Ngưu (金牛): Emerald Be3Al2Si6O18, tên khác: Smaragd, Ngọc lục bảo hay Lục bảo ngọc, 에메랄드, 綠寶石, màu xanh lá cây đậm. Độ cứng 7,5 đến 8. Đối với người Ai cập, Lục bảo ngọc tượng trưng cho sự màu mỡ và sức sống, chúng đem lại sự may mắn cho người có lòng vị tha. Đây là viên ngọc biểu tượng cho sự hòa thuận, cởi mở và chung thủy. Tương truyền rằng ai có cùng làn sóng với viên ngọc, đeo ngọc sẽ ngày càng trong sáng và đem lại những điều may mắn, ai có tấm lòng nhỏ hẹp đeo nó sẽ mờ đục dần cho dù chùi rửa cách mấy đi nữa.
- 22.05. đến 21.06 Gemini, Song Tử (雲陽 Vân dương): Pearl, Trân châu, Ngọc trai, tiếng dân gian gọi là Hột bẹt, màu trắng ngà (ngà là ngà voi, trắng ngà là màu trắng như ngà voi), vàng kem. Tượng trưng cho lòng thành thật, tánh thanh lịch, nét đẹp hoàn hảo của tâm hồn.
- 22.06. đến 22.07. Cancer, Cự Giải (巨蟹: con cua to): Ruby, Hồng ngọc hay Hồng bảo ngọc, tiếng Hàn 루비, tiếng tàu 紅寶石. Tên từ chữ La-tinh ruber nghĩa "đỏ". Ruby có công thức hóa học Al2O3 corundum (crystalline from aluminum oxide) loại đỏ, độ cứng 9, chỉ sau kim cương. Tượng trưng cho may mắn, giúp sức mạnh tinh thần, tái sinh sức sống, thành công và chiến thắng. Rất tốt cho người bịnh thiếu máu (anaemia).
- 23.07. đến 21.08. Leo, Sư Tử (獅子): Peridot (Mg,Fe)2SiO4, Khoáng mã não, Ngọc thảo diệp hay Diệp ngọc, xanh lá cây. Biểu tượng cho tình yêu bất diệt. Là nhẫn ngọc các hiệp sĩ thời trung cổ thường đeo, tượng trưng cho lòng ngay thẳng, dũng cảm.
- 22.08. đến 23.09. Virgo, Xử nữ (Thất nữ; 雙女 Song nữ): Sapphire Al2O3, dịch từ chữ La-tinh nghĩa xanh dương, Ngọc lam hay Lam bảo ngọc, 사파이어, 蓝宝石, sapphire là đá quý corundum loại không đỏ, có độ cứng 9. Ở Hy lạp và Châu âu, Ngọc lam tượng trưng cho tự do và ở các nước Ả rập lam bảo ngọc có khả năng trừ tà ma, xua đuổi những cái xấu. Ngọc lam là ngọc của lòng tin, sự bình an của tâm hồn, thu hút người khác và kết bạn dễ dàng.
- 24.09. đến 23.10. Libra, Thiên Xứng (天秤; Thiên bình): Opal SiO2.nH2O, Hỏa ngọc hay tiếng dân gian gọi là Ngọc mắt mèo, 단백석. Opal dịch từ chữ opalus nghĩa "đá quý", có độ cứng 5,5 đến 6. Ngọc giúp người đeo có những sáng kiến độc đáo, nhứt là trong lãnh vực nghệ thuật.
- 24.10. đến 22.11. Scorpio, Hổ Cáp (Thiên yết; Thiên hiết; Bò cạp; Thần nông): Topaz (Al2(F, OH)2SiO4), Hoàng ngọc, 황옥 vàng chanh Citrine là ngọc làm cho bạn bè, người thân càng yêu thương mình hơn và được người có quyền chức cao hơn mình giúp đỡ.
Topaz các màu khác: xanh dương, xanh lá cây, hồng, không màu.
- 23.11. đến 22.12. Sagittarius, Nhân Mã (人馬): đá Thổ (nhĩ kỳ) - Turquoise CuAl6(PO4)4OH8.5H2O, 터키석, độ cứng 6. Sở dĩ gọi là đá Thổ vì ngày xưa nơi đó buôn bán loại đá này, người ta còn dùng chúng để điêu khắc, gắn trên những dụng cụ trang trí. Tùy lượng đồng mà đá có màu xanh da trời hay xanh lá cây. Người xưa tin rằng, đá này có thể báo trước cho người đeo nó, khi đá đổi màu nghĩa là người đeo sắp bị bịnh. Biểu tượng cho lòng chung thủy, trung thành và tình bạn.
...một số đá quý tên tiếng Việt.

* Ngọc mã não: Agate SiO2
* Ngân ngọc: Zircon
* Sở ngọc: Spinel
* Cúc ngọc: Opalized amonite
* Ngọc mắt cọp, tiger eye, màu nâu có vân vàng, đỏ hoặc đen, thuộc nhóm chatoyant SiO2, độ cứng 7. Tượng trưng cho năng lực, sức mạnh, can đãm và may mắn.
* ngọc đổi màu: mood stone. Áp dụng phương pháp nhiệt hóa học/thermochemistry, đây là một hổn hợp gồm: bột thạch anh, khoáng chất rutile, zinc oxide/oxýt kẽm, thủy tinh, chất dẫn màu xanh dương bromothymol blue và pha lê nấu chảy làm ra những viên như ngọc gắn lên cà rá moodring, những viên ngọc này thay đổi màu tùy theo nhiệt độ của người đeo nó, nhiệt độ ở tay càng ấm thì màu càng đậm.
- đen = stress; đỏ = sợ hải; vàng = bồn chồn; xanh lá cây lợt = lãng mạng; xanh lá cây = nhiều cảm giác khác nhau; xanh lá cây đậm = nhiệt tình; xanh dương = bình thường; xanh dương đậm = trạng thái thư thái, hài hòa; xanh dương thật đậm gần như đen = bình tỉnh, bình thản; tím = lạnh lùng, thờ ơ; tím đậm = hạnh phúc; cam = thương yêu, nhân từ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét