Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

Thu Hải Đường - Begonia


Tên Việt: Thu Hải Đường, Sen cạn.
Phân loại khoa học:
Giới (regnum): Plantae.
Ngành (divisio): Magnoliophyta.
Lớp (class): Magnoliopsida.
Bộ (ordo): Cucurbitales.
Họ (familia): Begoniaceae.
Chi (genus): Begonia.
Ý nghĩa: ý nghĩ đen tối, Thể hiện sự chân thành.
Thông điệp: nên giữ tình bạn thân mật.
Thu hải đường (Begonia) là tên của một chi trong họ thực vật có hoa Begoniaceae. Chi thứ hai trong họ Begoniaceae là Hillebrandia, là chi độc loài tại khu vực quần đảo Hawaii. Chi Symbegonia hiện nay đã được gộp chung vào trong Begonia. Thu hải đường cũng là tên gọi thông thường chung cho tất cả các loài trong chi này.
Với khoảng 1.400 loài, chi Begonia là một trong mười chi thực vật hạt kín lớn nhất. Các loài trong chi này là các loại cây thân thảo sống cạn (đôi khi là biểu sinh) hay cây bụi nhỏ, sinh sống trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm ướt, tại Nam và Trung Mỹ, châu Phi và miền nam châu Á. Các loài sống trên cạn thường là loại thân rễ hay thân củ. Hoa của chúng thường to và sặc sỡ, có màu từ trắng, hồng, đỏ tươi hay vàng. Chúng là loại thực vật với các hoa đực và hoa cái mọc tách rời nhau trên cùng một cây, hoa đực chứa nhiều nhị hoa, còn hoa cái có bầu nhụy ở dưới lớn và từ 2-4 núm nhụy vặn xoắn hay phân nhánh. Ở phần lớn các loài thì quả là loại quả nang có cánh chứa nhiều hạt nhỏ, mặc dù loại quả mọng cũng được thấy. Lá to và lốm đốm, thông thường không cân đối.
Do hoa sặc sỡ và các lá thường là lốm đốm đầy ấn tượng nên nhiều loài và các cây lai ghép cũng như các giống đã được gieo trồng. Chi này có điểm lạ thường ở chỗ các loài trong chi, cho dù đến từ các châu lục khác nhau, nhưng rất dễ lai ghép với nhau và điều này đã dẫn tới sự tạo ra vô số giống khác nhau. Các phân loại thu hải đường của Hiệp hội Thu hải đường Hoa Kỳ chia các loài cây này thành vài nhóm chính: giống như cây lau, giống như cây bụi, thân củ, thân rễ, thân dày, semperflorens hay rex. Phần lớn các phân loại này không tương ứng với bất kỳ việc nhóm gộp/phát sinh loài theo phân loại học chính thức nào và nhiều loài/giống lai có thể có các đặc trưng của nhiều hơn một nhóm hoặc không thể cho vào nhóm nào.
Tên khoa học của chi này được đặt theo họ tên của Michel Bégon, một nhà bảo trợ người Pháp cho thực vật học.
Các giống.
orange_begonia_4x6 by you.
Các nhóm thu hải đường khác nhau có các yêu cầu gieo trồng khác nhau nhưng phần lớn các loài đều đến từ vùng nhiệt đới và vì thế chúng và các giống lai ghép đều cần có khí hậu ấm áp. Phần lớn là các loài là cây mọc ở tầng thấp trong rừng, vì thế chúng cần có bóng râm và chỉ một ít loài có thể chịu được sự chiếu nắng mạnh, đặc biệt trong các vùng có khí hậu nóng. Nói chung, thu hải đường cần môi trường sinh sống được tưới tiêu nước tốt có độ ẩm cao. Nhiều loại thu hải đường phát triển và ra hoa quanh năm nhưng những loại thân củ thường là có thời kỳ ngừng phát triển, trong thời gian đó các củ có thể lưu trữ trong khu vực khô và mát mẻ.
Thu hải đường trong nhóm semperflorens thường được trồng theo luống trong vườn. Một nhóm các cây lai ghép từ nhóm nói trên được gọi là "Dragonwing Begonia"; chúng có cả lá và hoa rất to. Thu hải đường thân củ thường được trồng trong chậu. Mặc dù phần lớn các loài thu hải đường có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cạn nhiệt đới nhưng một loài từ Trung Quốc là B. grandis chịu được giá rét tới vùng rét số 6 theo USDA và nói chung được coi là loài "thu hải đường chịu rét". Phần lớn các loài thu hải đường có thể trồng ngoài vườn quanh năm trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhưng tại khu vực ôn đới thì chỉ có thể trồng chúng ngoài vườn như là cây một năm, hoặc trồng trong nhà cũng như trong nhà kính.
Phần lớn thu hải đường rất dễ nhân giống bằng cách phân chia hay cành giâm từ thân. Ngoài ra, nhiều loại có thể nhân giống từ cành giâm từ lá hoặc thậm chí các phần của lá, cụ thể là các loại thu hải đường trong nhóm thân rễ và rex.
Giống thu hải đường có tên gọi là Kim Châng In hoa là giống hoa biểu tượng của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên.
Ở các tỉnh thành và ở Đà Lạt, nhận thấy người chơi chỉ trồng hai loại :
Thu hải đường lá nhỏ.
Thu hải đường lá to và có đốm trên mặt lá
2004213064576267746_rs by you.
Hoa thu hải đường nở lâu đài hoa sẽ nở dài ra, càng lâu càng đẹp, giống như những chùm lồng đèn. Có một loại chất trồng rất thích hợp là Tribat, trồng với chất trồng này lá to dày và ít bệnh. Thu hải đường chủ yếu bị bệnh thối gốc nên khi tưới nước phải vừa đủ.
Lá có màu sắc và dáng lá đa dạng.
Cách trồng và chăm sóc hoa Thu Hải Đường Begonia.
Cane type begonia còn có một biệt hiệu rất dễ thuơng là "angel wing begonia". Gọi là angel wing vì từng đôi, từng đôi 2 cái lá cây thon nhỏ mọc song song với nhau, nhìn giống đôi cánh thiên thần. Cây rất dễ trồng và dễ gầy lắm. Chỉ cần ngắt ngọn hoặc cắt 1 khúc đem ngâm nước trong cái ly, chừng vài hôm sau là bắt đầu đâm rễ, và vài tuần sau rễ um tùm là có thể đem trồng. Lúc gần đây các nhà trồng tỉa đã gây được các lọai hoa có mùi thơm hoa hồng, hoa dạ lý, vv...
Chú ý: Khi ngắt ngọn phải dài ít nhất 20 cmm (khoảng 1 gang tay mới mọc được), khi cắm vô nước phải thay nước mỗi ngày, nếu không sẽ bị úng trước khi ra rễ
Cách thứ 2 để ươm cây lọai cane: ngắt 1 nhánh cắm vô hổn hợp 2/3 potting soil & 1/3 peat moss...để chổ mát & tưới ẩm ẩm hòai - cách này cây mọc mạnh khoẻ hơn ngâm vô nước cho ra rể mới trồng vô đất
Angel wing begonia rất ... tình tứ là cùng 1 chùm hoa rất có thể sẽ có cả hoa của chàng và hoa của nàng. Chàng thì hoa thuờng nhỏ nhắn và mau tàn hơn. Nàng thì tròn trịa với những đừong cong duyên dáng, ẻo lã trông giống như những cái chuông nho nhỏ. Các nhà trồng tỉa gây các loại cây mới bằng cách mai mối cho chàng và nàng ... gần nhau, phấn chàng vuơng vấn nhụy nàng. Sau đó, hoa sẽ có hột, đem gieo hột trồng thành cây khác.

Angel wing begonia trồng chổ nào sáng sủa và hơi ẩm, cây sẽ rât tươi tốt và tưng bừng hoa. Đừng nên để cây bi nắng, lá cây sẽ phai màu và héo mất.
La Rex begonia thì technicolor, màu sắc rất rực rỡ. Trồng cây này phải có nhiều humidity hơn. Cây này cũng dễ gây bằng cách cắt ngang các đường gân chính đàng sau lá cây, lấy kim ghim xuống đất ẩm, chừng 1 tuần sau, cây con sẽ đâm lên. Dùng một cái clear salad container hoặc cái ly có nắp làm thành "greenhouse" để gầy lọai cây này. Có khi có cái lá nhỏ, có thể cắt vào cái gân chính, rồi cắm vô đất ẩm trong cái ly tí hon để gầy, và có vài cách khác nhau để gầy cây con từ La rex.
(Sưu tầm trên internet)
C

Hoa quỳnh -Epiphyllum



Tên tiếng Việt: Quỳnh hoa.
Tên tiếng Anh: Night Blooming Cereus, Queen of the Night, Moon Cactus, Night Cactus, Orchid cacti.
Phân loại khoa học:
  • Giới (regnum): Plantae.
  • Ngành (divisio): Magnoliophyta.
  • Lớp (class): Magnoliopsida.
  • Bộ (ordo): Caryophyllales.
  • Họ (familia): Cactaceae.
  • Phân họ (subfamilia): Cactoideae.
  • Chi (genus): Epiphyllum Haw.


Chi Quỳnh (danh pháp khoa học: Epiphyllum), là một chi thực vật gồm khoảng 19 loài thuộc họ Xương rồng (Cactaceae), có nguồn gốc từ Trung Mỹ. Tên gọi chung của chúng trong tiếng Việt là quỳnh, hoa được gọi là hoa quỳnh. Các loài quỳnh thường được trồng để làm cảnh và hoa nở về đêm nên được mệnh danh là nữ hoàng của bóng đêm. Thân và lá một số loài quỳnh cũng được thêm vào trong một số dạng của loại đồ uống gây ảo giác ở khu vực rừng mưa Amazon là ayahuasca.
Hoa quỳnh thường được gọi là "Night Blooming Cereus" (Queen of the Night, Moon Cactus, Night Cactus, Orchid cacti), thuộc họ xương rồng (Cactaceae) có tên khoa- học là Epiphyllum grandilobum, Epiphyllum oxypetallum, Phyllocactus grandis, Selenicereus grandiflorus
Loại quỳnh "Epiphyllum" được gọi là "epiphyte" có nghĩa là chỉ dễ nẩy nở nhờ bám vào cây khác (tương tự như lan – orchid cactus), dễ trồng bằng cách cắt một phần thân có rễ và găm vào đất, loại nầy nẩy nở và mọc mau, và có thể cao đến 6 ft, dễ trồng trong chậu để dưới đất hoặc treo lên cao …
Theo quyển "Epiphyllum" của tác giả người Đức Marga Leue thì hoa Quỳnh được các thủy thủ người châu Âu khám phá lần đầu tiên tại nam Mỹ cách nay 250 năm. Thế nhưng mãi đến một thế kỷ sau đó, hoa Quỳnh mới được biết nhiều tại Anh rồi sau đó lan tràn sang Pháp, Đức và toàn Châu Âu. Đến thập niên 1920 hoa Quỳnh mới sang tới Mỹ và nơi đây trở thành lò sản xuất hoa quỳnh lai giống (hybrid) hàng đầu thế giới.

Phân bố.

Các loài trong chi quỳnh có thể thấy ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, phần lớn Châu Á cũng như được trồng ở những vùng khí hậu tương đối ấm áp của Mỹ và Châu Âu. Quỳnh thường sống ở vùng Sonoran, sa mạc Chihuahuan, miền Nam sông Arizona, bang Texas và Mexico. Hoa quỳnh mọc hoang dã trên sa mạc và ở những lớp đất bồi giữa độ cao 600 và 1150 m, ưa bóng râm cuả sa mạc.
http://www.cactuscenterclub.com/Personales/Gargamelcactus/Images/Epiphyllum_King_Midas.sized.jpg
Đặc điểm sinh trưởng.
Hoa Quỳnh xuất hiện vô cùng kín đáo và tuổi thọ ngắn ngủi. Cái tên "Epiphyllum" do hai chữ ghép lại : "epi" có nghĩa là ở trên (upon) và "phyllum" có nghĩa là "" vì hoa quỳnh nở hoa trên thân cây hoặc cuống có hình giống phiến lá (leaf-like stems).Tuy nhiên, gọi là lá cũng không đúng vì quỳnh chỉ có cành, và cành biến thể trông rất giống lá. Cây quỳnh nguyên thuỷ chính là cây dại mọc bám vào các thân cây ở các khu rừng nhiệt đới tại vùng Trung và Nam Mỹ. Quỳnh là một loại cây sống cộng sinh chứ không phải sống ký sinh trên những cây khác. Quỳnh có thể mọc ở độ cao tới 2000m.
Cây quỳnh trong tự nhiên mọc trên thân cây khác, sống nhờ chất đất mùn ở vỏ cây, chứ không hút nhựa của các loại cây này. Tuy sống tự nhiên trong các vùng khí hậu nóng và độ ẩm rất cao, rễ cây không hề bị thối rửa do cấu trúc rễ không bị ứ đọng nước và thân cây thường được các tàn lá cây chủ cản bớt sức nóng trực tiếp từ ánh nắng mặt trời. Vì vậy, khi trồng quỳnh, người ta phải đưa vào chỗ mát với ánh sáng gián tiếp cho cây có điều kiện sống như trong thiên nhiên.
Mô tả.

Thân cây rộng và dẹp, rộng 1-5 cm, dày 3-5 mm, thường với các rìa tạo thùy. Hoa lớn, đường kính 8-16 cm, có màu từ trắng tới đỏ, nhiều cánh hoa.
Quả ăn được, tương tự như quả thanh long từ các loài trong các chi có họ hàng gần như Hylocereus, mặc dù quả của nó không to như vậy mà chỉ dài khoảng 3-4 cm.
Nhìn cây hoa quỳnh người ta khó phân biệt đâu là lá, đâu là thân bởi cây có bộ phận thân giống như phiến lá, bản rộng, dẹp, màu xanh và có gân ở giữạ. Hoa mọc ở kẽ những vết khía của thân (phần dẹp và rộng bản).

Một số loài thường thấy.

Hoa cỡ nhỏ, đường kính từ 3-5 inch:
  • Epiphyllum caudatum: hoa màu trắng bên ngoài màu xanh ngọc, hương nhẹ.
  • Epiphillum pumilum: không hương nhưng hoa đẹp.
Hoa cỡ trung bình, đường kính từ 5-7 inch:
  • Epiphyllum aguliger: hoa trắng, bên ngoài có màu vàng, còn có tên riêng là Darahii.
  • Epiphyllum cartagense: hoa trắng, bên ngoài có màu hồng pha vàng.
Hoa cỡ lớn, đường kính 7-9 inch:
  • Epiphyllum guatemalese: hoa trắng, nhị như màng nhện vàng, hương nhẹ.
  • Epiphyllum hookeri (E. strictum): hoa đẹp nhưng hương nồng.
Có một loài quỳnh hoa rất lớn, đường kính hơn 9 inch là Epiphyllum thomasianum, hoa trắng, có ánh đỏ, giống như cái chuông, hương thơm nhẹ. Hiện nay, việc lai tạo đã cho ra đời rất nhiều loại quỳnh lai (hybrid) có màu sắc rất phong phú, hoa có thể nở được trong 2-3 ngày. Theo "Hội Hoa quỳnh Hoa Kỳ", có trụ sở tại Monrovia (gần Los Angeles), thì hiện có khoảng hơn 10.000 loại quỳnh lai được đăng ký bản quyền và có tên gọi riêng. Quỳnh lai thường có tên gọi là Epiphyllum ghép với một từ khác không có gốc Latinh như Epiphyllum saigon, Epiphyllum madonna,...
Ở Việt Nam, có thể thấy một số loài quỳnh sau:
  • Quỳnh trắng (Epiphyllum oxypetalum) là một loài quỳnh được nhiều người biết đến. Hoa quỳnh trắng này còn có tên gọi khác, xuất phát từ chữ Hán là đàm hoa nhất hiện (昙花一现) nghĩa là hoa chỉ nở thoáng qua. Hoa có dạng hình giống kèn Trumpet, cuống phủ một màu đỏ cam, với những chiếc gai nhỏ, ngắn. Quỳnh trắng thường nở vào khoảng tháng 6, tháng 7 và chỉ nở duy nhất một đêm, từ 3-4 tháng sau có thể ra hoa một đợt nữa. Cánh hoa mỏng, mềm mại, bề mặt như phủ sáp trong sắc trắng với nhị vàng và hương thơm nhẹ nhàng. Khi hoa nở, cánh từ từ hé mở cho đến khi đạt kích thước tối đa (đường kính khoảng 10-20 cm), rồi cụp dần và tàn đi nhanh chóng (trong khoảng 1-2 giờ). Hoa có mùi hương thơm nhẹ nhàng thanh tao, nhưng lại không kém phần nồng nàn, quyến rũ làm thơm ngát cả một vùng không gian xung quanh. Trái hình bầu dục độ dài khoảng 8 cm.
  • Quỳnh đỏ (Epiphyllum ackermannii), cây nhỏ hơn Quỳnh trắng, hoa màu đỏ hoặc đỏ pha da cam, hoa cũng nhỏ hơn và không nhiều cánh bằng Quỳnh trắng.
  • Ngoài ra còn có một số loài quỳnh được lai tạo, hoa màu hồng, da cam, tím, vàng ...với kích thước hoa rất khác nhau. Ở Đà Lạt, sau 5 năm công phu lai ghép giữa quỳnh với thanh long và dùng đèn điện thắp sáng, năm 2004, ông Mười Lới, một người trồng hoa đã tạo ra được loài quỳnh hoa nở ban ngày, gọi là nhật quỳnh. Hiện nhật quỳnh đã phát triển thêm được nhiều loại có màu sắc phong phú.
Ngoài ra còn có những loại khác tương tự Hoa Quỳnh, như Calonyction Aculeatum (Moonflower), cũng nở về đêm, đây là loại hoa leo trên hàng rào hoặc giàn mắt cáo, có thể dài đến 30 ft, có lá mềm như nhung lụa, hình trái tim, trồng bằng hạt và nẩy nở rất mau … Có một loại tương tự nữa có tên là "Reina de Noche" (Desert Night-Blooming Cereus, Peniocereus Greggii) , loại cây nầy mọc ở miền nam Mexico, Arizona, và Texas, mọc hoang ở vùng đất khô sa mạc, thân cây có màu xanh nâu, giống như những cành khô, khó diễn tả, nở hoa trắng lớn vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hạ, nhưng tỏa ra mùi thơm dịu dàng và dễ chịu nhất trong các loại xương rồng (cactus), có thể tỏa ra đến hàng trăm feet. Thường người thổ dân da đỏ Indians dùng để làm thuốc , gọi là "Saramatraca".
http://farm4.static.flickr.com/3045/2637761130_6e83e0ea6c.jpg?v=0
(Moonflower)
http://farm1.static.flickr.com/188/424982243_b9a18f96d4.jpg
(Desert Night-Blooming Cereus)
Cách trồng.
Quỳnh nguyên thủy sống trong bóng râm ở sa mạc hoặc tán lá của rừng nhiệt đới nên cây quỳnh tương đối dễ trồng, có thể trồng bằng cách cắm cành, có mái che mưa nắng, sương gió và khí lạnh với đất xốp và thoát nước là cây phát triển được. Ngày nay, quỳnh thường được trồng trong chậu để dễ di chuyển khi xem hoa nở và có thể trồng bằng cách cắm cành. Quỳnh sống được rất lâu trong môi trường tự nhiên và chịu khô hạn rất tốt, ngay cả khi không được chăm sóc, quỳnh vẫn sống nhưng không ra hoa. Do đó, Quỳnh cần được chăm bón thường xuyên để cho hoa và mang lại tuổi thọ lâu dài cho cây. Có thể để quỳnh trong nhà nhưng phải đặt ở chỗ có nhiều nắng chiếu vào. Cây quỳnh không cần phân bón, nhưng cũng có thể tưới loại phân bón " Peters 20-20-20", "Miracle Gro", hoặc "Super Bloom" mỗi tháng một cốc nhỏ từ tháng 4 đến tháng 9, không nên dùng những loại phân bón có nồng độ nitơ cao. Lý do mà hoa quỳnh không nở là chủ yếu vì quỳnh thiếu ánh nắng hoặc chưa đủ tuổi (thường hoa quỳnh nở tươi tốt , nở nhiều hoa phải sau 5 năm trở lên). Đặc biêt, Quỳnh không sống được trong môi trường quá nhiều nước. Thường hoa quỳnh hay nở vào giữa mùa hè, khoảng 3-4 tháng sau sẽ nở thêm lần nữa vào khoảng giữa tháng 8 đến tháng 10 .
http://i4.photobucket.com/albums/y123/poornima_vijayan/nishagandhi.jpg
Hoa quỳnh trong văn hóa.

Sự tích hoa quỳnh.

Theo truyền thuyết, ngày xưa vào thời nhà Tùy (Dương Quảng 605 - 617) ở Dương Châu, Trung Quốc, có Tùy Dạng Đế là ông vua hôn quân vô đạo, chơi bời trác táng, xa hoa, phung phí, một đêm nằm mơ thấy một cây trổ hoa đẹp… Cùng thời điểm ấy, tại Lạc Dương thành có ngôi chùa cổ kính là Dương Ly, vào giữa canh ba, ngoài cửa chùa thình lình ánh sáng rực lên như lửa cháy, hương thơm sực nức lạ lùng, như sao trên trời sa xuống, làm dân chúng bàng hoàng đổ xô đến xem đông như kiến cỏ. Gần giếng nước trong sân chùa mọc lên cây bông lạ, trên ngọn trổ một đóa ngũ sắc với 18 cánh lớn ở phía trên, 24 cánh nhỏ ở phía dưới, mùi thơm ngào ngạt bay tỏa khắp nơi nơi, lan xa ngàn dặm. Dân chúng đặt tên là hoa Quỳnh.

Điềm báo mộng của vua Tùy Dạng Đế được ứng với tin đồn đãi, nên Vua yết bảng bố cáo: “Ai vẽ được loại hoa Quỳnh đem dâng lên, Vua trọng thưởng”. Không đầy tháng saụ.. có một họa sĩ dâng lên Vua bức họa như ý. Nhìn đóa hoa trong tranh cực kỳ xinh đẹp, tất nhiên hoa thật còn đẹp đến dường nào! Nghĩ vậy, Vua liền quyết định tuần du Dương Châu để thưởng ngoạn hoa Quỳnh.

Trong chuyến tuần du cần có đủ mặt bá quan văn võ triều thần hộ giá, nên để tiện việc di chuyển, Tùy Dạng Đế ban lệnh khai kênh Vạn Hà từ Trường An đến Dương Châụ Hàng chục triệu ngày công lao động phải bỏ ra, hàng vạn con người phải vất vả bỏ mình.

Kênh rộng cả chục trượng, sâu đủ cho thuyền rồng di chuyển. Hai bên bờ kênh được trồng toàn lệ liễu đều đặn cách nhau 10 mét một cây (cụm từ "dặm liễu" xuất phát từ đó, điển hình câu thơ: "Dặm liễu sương sa khách bước dồn" của Bà Huyện Thanh Quan).

Kênh đào xong, một buổi lễ khánh thành được cử hành trọng thể, đoàn thuyền giương buồm gấm khởi hành… cả nghìn cung nữ xiêm y rực rỡ, mặt hoa da phấn- thuyền rồng được buộc bằng các dải lụa dùng để kéo đị Vua Tùy Dạng Đế ngồi trên mui rồng uống rượu nghe đàn hát ca sang ngắm cảnh Giang Nam và đàn cung nữ tuyệt thế giai nhân. Vua thấy nàng nào thích ý cho vời vào hầu ngaỵ Chuyến tuần du của bạo chúa Tùy Dạng Đế vô cùng xa xỉ, hao tốn công quỹ triều đình. Đây là một trong những nguyên nhân đẩy đất nước đến đói nghèo, loạn lạc khắp nơi, đưa nhà Tùy đến sụp đổ, dựng nên cơ nghiệp nhà Đường.

Trong những quan quân hộ giá, có cha con Lý Uyên. Qua thời gian hơn 90 ngày, đoàn du hành đến đất Dương Châụ Thuyền vừa cặp bến, con của Lý Uyên phương danh là Lý Thế Dân cùng bằng hữu rủ nhau lén lút đi xem hoa ngay trong đêm, sợ sáng hôm sau triều thần cùng đi đông vầy lớp trẻ khó chen chân lọt vào vườn hoạ Lý Thế Dân là người có chân mạng đế vương (về sau là Vua Đường Thái Tông 627 - 649) nên giống hoa nhún mình lên xuống 3 lần để nghinh đón. Cánh hoa cong trắng nõn, nhụy hoa điểm xuyết màu vàng, hương hoa ngọt ngào. Dưới ánh trăng vằng vặc hoa đẹp tuyệt vời! Xem xong, một cơn mưa to hoa rụng hết.

Sáng hôm sau, Tùy Dạng Đế xa giá đến xem hoa, chỉ còn thấy trơ vơ cánh hoa úa rũ, tan tác!… Vua tức giận, tiếc công nghìn dặm không được xem hoa, ra lệnh nhổ bỏ, vứt đi! hoa Quỳnh chỉ nở về đêm cho những ai có lòng nhân ái: "Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên".

Quỳnh trong đời sống.

Từ đặc tính của loài hoa này, ở Việt Nam, hoa quỳnh tượng trưng cho:
  • Những gì đẹp đẽ nhưng ngắn ngủi: sớm nở, chóng tàn.
  • Vẻ đẹp e ấp, dịu dàng, thanh khiết của người thiếu nữ.




Khi trồng quỳnh, người Việt Nam thường trồng cùng với cây cành giao. Cây giao còn gọi là cây san hô xanh, hoặc đỏ, xương khô, xương cá hay thập nhị (Milk bush, finger tree, Indian tree spurge), thuộc họ Euphorbiacea, danh pháp khoa học là Euphorbia tirucalli.
Cây giao có nguồn gốc từ Châu Á và Châu Phi nhiệt đới. Cây bụi nhỏ cao 1-6m, thân mập, dày, phân cành nhiều, mọc vòng xum xuê, tiết diện tròn màu xanh bóng,hoặc màu đỏ, có nhựïa trắng. Lá hẹp, dài 1-2 cm, rất chóng rụng, thường tập trung ở đầu cành. Cụm hoa dạng chén mọc ở kẽ lá. Hoa đựïc và hoa cái trên hai cây khác nhau. Cây giao được trồng làm cây cảnh , có thể trồng bằng tách bụi hay tách nhánh già. Nhựa của cây giao có độc tính nếu trực tiếp với da sẽ gây ra phản ứng ngứa ngáy khó chịu, nếu chạm vào mắt sẽ làm đau và mờ mắt, nên người ta thường dùng găng tay khi cần chạm vào euphorbias .
Ở Việt Nam người ta có kinh nghiệm rằng cây quỳnh và cây giao trồng gần nhau, Quỳnh trông như chỉ có lá và trĩu xuống như cần nâng đỡ; giao lại chỉ có cành nên hai loài cây khi đứng bên nhau như là sự bổ sung, hòa hợp âm dương và cây quỳnh cành giao trở thành một biểu tượng của tình yêu đẹp. Nhiều người còn tin rằng khi trồng bên cạnh cành giao, quỳnh sẽ cho hoa nở rộ, đẹp hơn và hương thơm nồng nàn hơn.. Theo sự giải thích ở trên về đặc tính " epiphyte" của cây quỳnh, thật ra quỳnh không phải cần cây giao để mà sống được, nên Quỳnh Giao đi đôi với nhau chỉ có đặc tính văn hóa như trong truyện Kiều có câu :
"Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành giao"
Nét thư sinh của Kim Trọng rất đồng tâm hợp ý với cảnh vật thiên nhiên chung quanh Kim Trọng như sự tương giao hòa hợp giữa người và cảnh chẳng khác gì cây quỳnh và cây giao vậy.
http://www.succulents.us/assets/images/euphofire.jpg
Đọc thêm về hoa Quỳnh:
Chế biến món ăn từ hoa Quỳnh.

http://farm1.static.flickr.com/68/159781530_d58e93bc47.jpg?v=0
http://www.floralworld.ru/images/plants_click/Epiphyllum_anguliger_flowers.jpg
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/57/Epiphyllum_pumilum286970600.jpg
http://www.lamu.com/High%20Falls%20&%20Garden/Epiphyllum%20044.jpg

Cà phê Hà Nội của người Pháp

 
Cà phê Hà Nội của người Pháp  Những thông tin về bức ảnh do anh tìm hiểu được khi mang những bức ảnh cổ của mình sưu tầm được lân la đi hỏi các cụ già trên dưới 80 tuổi ở Hà Nội - những pho sử sống của Hà Nội giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX mà các học giả rất ít quan tâm.








 Hàng cà phê rong Hà Nội
Cũng giống như phở, cà phê là một trong những món ẩm thực được du nhập theo sự có mặt của người Pháp vào Việt Nam. Và cũng giống như phở, cà phê bắt đầu len lỏi và đi sâu bám rễ vào cuộc sống người dân Hà thành từ những gánh hàng rong. Thủa ban đầu (vào cuối thế kỷ XIX) cà phê là thức uống chỉ dành cho người Pháp và châu Âu ở Việt Nam. Nhưng đến đầu thế kỷ XX, cà phê đã được "xã hội hóa" và trở thành đồ uống dành cho giới tư sản và tiểu tư sản (nhất là giới trí thức cấp tiến) ở thành thị. Các tầng lớp này có thể tìm uống cà phê từ các gánh cà phê dạo quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm.
Khi đó cà phê được bán cùng với nước chanh, nước vối đặt trên những bộ gánh cải biên từ gánh bán phở, mì vằn thắn. Cà phê thường được pha sẵn trong chai, hâm nóng và pha thêm đường rồi rót ra chén cho thực khách tùy theo sở thích và thời tiết. 
Trong bức ảnh này có thể thấy rõ Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc cùng gánh cà phê đặt ngay trên Bờ Hồ, nơi trái tim của Hà Nội. Khách có thể vừa uống cà phê bên vỉa hè, trong vườn hoa (mới được xây dựng) vừa ngắm cảnh Hồ Gươm thơ mộng và đôi khi cũng sẽ gặp những tà áo dài thanh lịch lướt qua...
Đón đọc số ngày mai, KTS Đoàn Bắc sẽ tiếp tục giới thiệu những bức ảnh cực độc nữa về thú uống cà phê trên vỉa hè Hà Nội của người Pháp từ đầu thế kỷ XX.
Ngày mai, hạn chót nhận tác phẩm dự thi
Cuộc thi viết và sáng tác ảnh Cà phê sáng mùa đông do báo TT&VH tổ chức với sự tài trợ của nhãn hàng NESCAFÉ Hương đậm đà. Cuộc thi diễn ra từ 28/12/2011 đến 05/2/2012; trao giải vào ngày 15/2 với giải Nhất cuộc thi ảnh lên tới 50 triệu đồng. Tổng giá trị giải thưởng trên 100 triệu đồng. Chi tiết xem trên www.khoanhkhac.thethaovanhoa.vn

* Cà phê Hà Nội năm 1902: Đây là 1 trong những tiệm cà phê lớn đầu tiên ở HN đã được sửa sang nâng cấp để phục vụ cho nhiều du khách, thương gia từ các nước trên thế giới đến Hà Nội dự hội chợ thương mại quốc tế tại khu Đấu xảo (nay là khu Cung văn hóa Hữu nghị). Các tiệm cà phê này tập trung nhiều ở phố Hàng Khảm (nay là phố Tràng Thi) với các thương hiệu nổi tiếng như Café du Commerce, Café de Paris, Café Albin, Café de la Place, Café Block và Café de Marseille.
* Kiốt giải khát bên bờ Hồ Gươm: Trong thời kỳ tạm chiếm 1947-1954, Hà Nội không còn vẻ kiêu kỳ và quý tộc nữa nên thú uống cà phê cũng đã trở nên “dân dã” hơn với người dân Hà thành.
* Tiệm cà phê bên Hồ Gươm: Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XIX, người Pháp đã biến Hồ Gươm thành một lẵng hoa quý tộc giữa lòng thành phố mà những tiệm cà phê nhỏ xen giữa các vườn hoa mới trồng như những con búp bê nhỏ trong lẵng hoa của các tiểu thư đài các châu Âu.
* Tiệm cà phê Phố Tràng Tiền (Paul Bert): Một trong những tiệm cà phê cùng với khách sạn tồn tại lâu nhất ở Hà Nội với một phong cách uống bên vỉa hè “rất châu Âu” mà ngày nay lại bị gọi là cà phê “bình dân”.
* Tụ tập và uống cà phê trên sảnh Nhà hát Bờ Hồ: Tiệm cà phê ngay ở sảnh của Nhà hát nhạc kịch châu Âu đầu tiên ở Hà Nội - Hội hiếu nhạc Hà Nội (Société Philharmonique d’Hanoi nay là vị trí Nhà hát múa rối Thăng Long) khiến người ta lầm tưởng như đang đứng ở giữa Paris cuối thế kỷ XIX. 

Thành Hà Nội từ 1880 đến 1930

 
Thành Hà Nội từ 1880 đến 1930  Năm 1831, Thăng Long đổi tên là Hà Nội. Tại đây vẫn diễn ra các lễ sắc phong của các vị vua Gia Long (1804), Minh Mạng (1821) và Thiệu Trị (1841). Năm 1841, Trung Hoa mới chấp nhận Huế làm kinh đô, lễ sắc phong được chuyển về Huế. Các cung điện còn lại ở Thăng Long bị vua Tự Đức phá bỏ. Hà Nội chỉ còn là thủ phủ của tỉnh cùng tên.

Thành Hà Nội: Từ chuyển đổi đến phá hủy ở thế kỷ 19


1. Khu vực dành riêng cho Hoàng đế - Cấm Thành xưa:
Điện Long Thiên (1870) Musée Guimet, Gsell
Điện Long Thiên (1870). Ảnh: Musée Guimet, Gsell.
Lầu Đoan Môn (1884 – 86) Hocquard
Lầu Đoan Môn (1884 – 86). Ảnh: Hocquard.
Điện Long Thiên chuyển thành trạm lính phòng thủ (1884 – 86). Ảnh: Hocquard.
Điện Long Thiên chuyển thành trạm lính phòng thủ (1884 – 86). Ảnh: Hocquard.
Bậc thềm điện Long Thiên được xây công sự bảo vệ (khoảng 1890) ASEMI
Bậc thềm điện Long Thiên được xây công sự bảo vệ (khoảng 1890). Ảnh: ASEMI.
2. Phá hủy và chuyển đổi bên ngoài thành (1883 – 1894)
¼ phía Đông Nam: trại lính và đội bộ binh (1895) ASEMI
Một phần tư phía Đông Nam: trại lính và đội bộ binh (1895). Ảnh: ASEMI.
Nhà thờ St Joseph xây năm 1886 trên khu đất của Pháp Báo Thiên bị phá hủy năm 1884 (ảnh chụp năm 1888 – 91) ASEMI
Nhà thờ St. Joseph xây năm 1886 trên khu đất của Pháp Báo Thiên bị phá hủy năm 1884 (ảnh chụp năm 1888 - 91). Ảnh: ASEMI.
. Chùa Báo Ân bị phá năm 1888 để xây sở Bưu điện BNF
Chùa Báo Ân bị phá năm 1888 để xây Sở Bưu điện. Ảnh: BNF.

3. Những dấu tích cuối cùng của các công trình:

 
Bậc thềm điện Long Thiên (1928)
Bậc thềm điện Long Thiên (1928). Ảnh: EFED.
Lầu Đoan Môn trùng tu
Lầu Đoan Môn trùng tu (không rõ năm). Ảnh: EFED.
Đường số 53, đại lộ Victor Hugo, nay là đường Hoàng Diệu (không rõ năm).
Đường số 53, đại lộ Victor Hugo, nay là đường Hoàng Diệu (không rõ năm). Ảnh: EFED.

VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 20 TẠI VIỆN BẢO TÀNG ALBERT KAHN

 
Kho ảnh vô giá về: VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ 20 TẠI VIỆN BẢO TÀNG ALBERT KAHN













Cổng vào Viện Bảo Tàng Albert Kahn ở Boulogne-Billancourt, sát cạnh Paris

Albert Kahn là ai ?

Phải nói là cuộc chiến 1870 giữa đế quốc Phổ và Pháp, sau đó là cuộc thế chiến thứ nhất, với mất mát khủng khiếp về nhân mạng đã gây chấn động mạnh nơi ông Albert Kahn. Ông mong muốn không bao giờ thấy trở lại những cảnh tàn bạo đó. Ông tin rằng nếu các dân tộc hiểu nhau và chấp nhận sự khác biệt của nhau, thì sẽ không còn chiến tranh nữa. Thư khố Hành tinh mà ông thành lập chính là một trong những phương tiện tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau qua những hình ảnh, để người ta có thể xem và thấy sự khác biệt văn hoá giữa các dân tộc.

Những tấm hình chụp cũng còn là chứng nhân cho những phương cách sống mà ông Albert Kahn đã cảm thấy có nguy cơ biến mất. Đấy là hai mục đích chính gắn liền với các hình ảnh này lưu trữ ở đây.

Albert Kahn muốn sử dụng những phương thức tối tân nhất vào thời đó để cho mọi người ta có thể xem những dân tộc khác sống như thế nào. Ông tin tưởng là khi thấy được người khác mình sống như thế nào, điều đó sẽ giúp ta hiểu rõ người ấy hơn, góp phần vào mục tiêu chung sống hoà bình giữa các dân tộc.

Hình về Việt Nam ở bảo tàng này

Đối với ai quan tâm đến Việt Nam, Viện Bảo Tàng Albert Kahn vùng ngoại ô Hauts-de-Seine sát cạnh Paris là một địa chỉ không thể bỏ qua. Đây là nơi lưu trữ một bộ sưu tập hiếm hoi ảnh màu về Việt Nam chụp ngay từ đầu thế kỷ 20, thời ngành nhiếp ảnh vẫn còn sơ khai. Giá trị của bộ sưu tập này rất lớn vì nó giúp cho các thế hệ hiện nay thấy rõ được bằng hình ảnh, với màu sắc rõ ràng, một phần diện mạo của Việt Nam cách nay một thế kỷ.

Công chúng rộng rãi đã được biết đến sự tồn tại của các bức ảnh về Việt Nam trong bộ sưu tập của Viện Bảo Tàng Albert Kahn vào năm 1986, khi Hội Đồng Tỉnh Hauts-de-Seine cho phát hành tập sách ảnh chuyên đề ‘’Villages et villageois au Tonkin’’ (Làng và dân làng tại Bắc Kỳ). Có thể nói đây là lần đầu tiên mà cánh cửa kho báu của Viện Bảo Tàng Albert Kahn đã hé mở, để cho công chúng rộng rãi có thể thưởng lãm khoảng 60 tấm ảnh về Việt Nam chụp trong những năm từ 1915 đến 1920.

Qua năm 2008, vài chục tấm ảnh khác về Việt Nam tiếp tục được công bố trong công trình chung ‘’Albert Kahn, le monde en couleurs’’ (Albert Kahn và Thế giới có mầu sắc) của nhà báo David Okuefuna, giới thiệu tổng thể kho tư liệu hình ảnh về thế giới đầu thế kỷ 20 đang được bảo tàng Albert Kahn lưu trữ.

Các bức ảnh về Việt Nam đã khiến người xem phải ngỡ ngàng do chuẩn mực kỹ thuật cao, với những màu sắc rất thật, một chín một mười so với những bức ảnh màu ngày nay. Giá trị lịch sử hay văn hóa của những bức ảnh này thì khỏi nói, vì Leson Busy, tác giả của hầu hết các tấm hình, đã có cái nhìn của một nhà nghiên cứu xã hội.

Toàn bộ ảnh về Việt Nam có 1382 tấm ảnh màu autochromes hầu như đều do nhà nhiếp ảnh Léon Busy chụp. Ông nguyên là quân nhân trong quân đội viễn chinh Pháp, đồng thời là một nhà quay phim tài tình và một người thành thạo kỹ thuật ảnh màu autochrome. Ông đã ghi lại được những bức ảnh rất đẹp và đã đề nghị làm việc cho Albert Kahn, lúc đó đang tập hợp tài liệu cho ‘’Thư khố Hành tinh’’ của ông.

Xem qua các bức ảnh được chụp, ta có thể thấy rõ là cách đây một trăm năm, người Việt Nam ăn mặc như thế nào, màu sắc ra sao, có những thú tiêu khiển gì, làm những việc gì. Về cảnh trí tự nhiên cũng thế, độc giả đây đó có thể thấy được là phố xá Hà Nội ngày xưa ra sao, các nơi như Văn Miếu, Chùa Một Cột, Đền Ngọc Sơn như thế nào, chưa kể đến những thành phố khác như Hải phòng, Huế hay Sài Gòn...

Có điều là những tấm ảnh được in lại trên giấy chỉ là một phần rất nhỏ trong kho hình ảnh của Viện Bảo Tàng Albert Kahn. Các hình ảnh này lại nằm trên những tấm kính, do đó không thể mang ra triển lãm được. Trong tình hình đó, Hội đổng tỉnh Hauts-de-Seine và Viện Bảo Tàng Albert Kahn từ năm 2006 đến nay đã thực hiện chương trình ‘’số hóa’’ kho phim ảnh lưu trữ của mình, tạo thuận lợi cho công chúng được tiếp cận với toàn bộ kho tư liệu.

Đây là một chương trình mang tên là FAKIR, viết tắt của Fonds Albert Kahn Informatisé pour la Recherche (Kho lưu trữ Albert Kahn được tin học hóa để phục vụ nghiên cứu). Tuy nhiên, Fakir trong tiếng Pháp cũng có nghĩa là ‘’phù thủy Ấn Độ", và chương trình tin học của Viện Bảo Tàng Albert Kahn đã đóng được vai trò của một người có phép thần thông, đưa được toàn bộ kho lưu trữ hình ảnh của viện bảo tàng đến với công chúng, rộng cũng như hẹp.
 
Nơi tham khảo hình ảnh trong cơ sở dữ liệu FAKIR trong khu triển lãm tại Viện Bảo Tàng Albert Kahn

Hiện nay, Viện Bảo Tàng Albert Kahn trước mắt chỉ mới chọn lọc ra 41 tấm ảnh về Việt Nam trong kho lưu trữ của mình để giới thiệu rộng rãi, sắp tới đây sẽ có thêm. Riêng giới nghiên cứu thì đã có thể tham khảo hơn 1000 tấm ảnh và khoảng một chục đoạn phim ngắn trong đó có tài liệu rất quý giá như về lễ hội Phù Đổng hay diễn tiến của một đám cưới tại Hà Nội chẳng hạn.

Mời các bạn xem 42 trong số hàng ngàn tấm ảnh này :
 




Phố Hàng Chén, Hà Nội tháng 7-8/1915



Phố Hàng Thiếc, Hà Nội tháng 5/1915



Nhà Hát Lớn Hà Nội, 1914-1915



Phố Tràng Tiền nhìn từ Nhà Hát Lớn Hà Nội, 1914-1915



Nhà ở Quan Toàn Quyền Đông Dương, Hà Nội 1914-1921



Đền Ngọc Sơn, Hà Nội mùa hè 1915



Thái Hà, Hà Nội 1914-1915



Uống trà hút thuốc, Hà Nội hè 1915



Hương chức làng hút thuốc lào, 1914-1915



Bàn đèn thuốc phiện, hè 1915



Quan Huyện và hương chức làng xã trước dinh, tỉnh Hà Đông 5/1915



Hành khất mù và con cái của họ, Hà Nội 1914-1915



Gà đá, Hà Nội tháng 5-6/1916



Việt Nam, 1914-1915



Bà đồng bóng, 5-6/1916



Điện Thái Hòa, Huế khoảng 1927



Chùa Trấn Vũ Hà Nội, 1914-1915



Chùa Trấn Vũ Hà Nội, 1914-1915



Văn Miếu, Hà Nội, 1914-1915



Văn Miếu, Hà Nội, 1914-1915



Chùa Thiên Phúc, Phủ Quốc Oai, 14/5/1916



Chùa Một Cột, 1914-1915



Chùa Vĩnh Thụy, hè 1915



Lăng Tự Đức, 1926-1928



Cắt rau muống, 1914-1915



Kéo sợi hoa gạo, Hà Nội mùa thu 1915



Kéo xe, mùa thu 1915



Bắt cá bằng vó, 1914-1915



Mỗi năm hoa đào nở
lại thấy ông đồ già
bày mực tàu giấy đỏ
trên phố đông người qua ...



Phơi lúa, 1914-1915



Ven sông Hồng, mùa thu 1915



Thuyền trên sông Hồng, mùa thu Hà Nội 1915



Đoàn tàu vận tải trên sông Đen, Chợ Bồ, 6-8 tháng 3 năm 1916



Ruộng mới cấy, 1914-1915



Diễn viên Nhà Hát Saigon tại Hà Nội mùa thu 1915



Diễn viên Nhà Hát Saigon tại Hà Nội mùa thu 1915



Lễ phục một quan chức địa phương



Những phụ nữ này tham gia trò chơi đánh cờ người



Kinh lược Bắc Kỳ và quan đầu tỉnh Hà Đông, 1914-1915



Vịnh Hạ Long 1914-1915



Dân vạn đò, Vịnh Hạ Long 1914-1915



Hòn "Sên" và "Cóc", Vịnh Hạ Long, 4/1915