Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Dân tộc Việt Nam

Dân tộc Việt Nam hay người Việt Nam, đôi khi ngắn gọn người Việt là một danh từ chung để chỉ các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam

Nguồn gốc

  Nguồn gốc các dân tộc Việt Nam

Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu gần đây, xem xét sự hình thành các dân tộc Việt Nam trong sự hình thành các dân tộc khác trong khu vực thì có thể nói rằng tất cả các dân tộc Việt Nam đều có cùng một nguồn gốc, đó là chủng Cổ Mã Lai. Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:
  1. Vào thời kỳ đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm trước đây), có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở vùng Tây Tạng di cư về phía đông nam, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng Pháp: Indonésien).
  2. Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng (khoảng 5.000 năm trước đây). Tại khu vực mà ngày nay là miền bắc Việt Nam, miền nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống), có sự chuyển biến do chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống, sự chuyển biến này hình thành một chủng mới là chủng Nam Á (tiếng Pháp: austro-asiatique).
  3. Thời kỳ sau đó, chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khơ me, Việt-Mường, Tày-Thái, Mèo-Dao,... Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chàm (xem hình vẽ).

    Các dân tộc Việt Nam hiện nay

     

    Dân số

    Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999 . Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước . Dân số Việt Nam gồm 54 dân tộc. Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm 86,2% dân số. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thái, Mường, Khmer, Hoa, Nùng, Hmông, người Dao, Giarai, Êđê , Chăm, Sán Dìu, người Raglay. Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền trungđồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ đuRơ Măm chỉ có trên 300 người.

    Phân bố lãnh thổ

    Người Kinh sống trên khắp các vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng, gần các con sông, và tại các khu đô thị. Hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số (trừ người Hoa, người Khmer, người Chăm) sống tại các vùng trung du và miền núi. Người Mường sống chủ yếu trên các vùng đồi núi phía Tây đồng bằng sông Hồng, tập trung ở Hòa Bình và Thanh Hóa. Người Thái định cư ở bờ phải sông Hồng (Sơn La, Lai Châu). Người Tày sống ở bờ trái sông Hồng (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên), người Nùng sống ở Lạng Sơn, Cao Bằng. Các nhóm dân tộc thiểu số khác không có các lãnh thổ riêng biệt; nhiều nhóm sống hòa trộn với nhau. Một số nhóm dân tộc này đã di cư tới miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam trong các thời gian khác nhau: người Thái đến Việt Nam trong khoảng từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13; người Hà Nhì, Lô Lô đến vào thế kỉ 10; người Dao vào thế kỷ 11; các dân tộc Hmông, Cao Lan, Sán Chỉ, và Giáy di cư đến Việt Nam từ khoảng 300 năm trước. Các nhóm dân tộc thiểu số ở trung du và miền núi phía Nam chủ yếu là các dân tộc bản địa và thường sống tại các lãnh thổ riêng. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, trong đó có Ba Na, Bru, và Vân Kiều, sống ở cánh Bắc Trường Sơn. Người Mnông, Xtiêng, và Mạ sống ở đầu phía Nam của dãy Trường Sơn. Các dân tộc thuộc nhóm Nam Đảo gồm Êđê, ChămGia rai, đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên[1]. Trong các dân tộc này, người Chăm sinh sống ở đồng bằng ven biển miền Trung, các dân tộc khác sống rải rác dọc theo dãy Trường Sơn. Người Chăm cùng với người Kinh là những dân tộc có nền văn hóa phát triển nhất với nhiều công trình nghệ thuật, chùa, đình, đền, tháp... ở việt nam là nơi rất nhiều dân tộc khác nhau, cách sống cũng rất khác nhau. Ở nhiều nơi trên dân tộc có rất nhiều đền thờ miếu,...

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

BÃO VÀ PHỤ NỮ


Trên thế giới chỉ có Việt Nam gọi bão theo số, còn toàn cầu đều đặt tên cho bão theo các danh từ mỹ miều và thơ mộng vẫn dùng để gọi các cô gái dịu dàng và xinh đẹp.
Đã nhiều lần các tổ chức bảo vệ nhân quyền kêu ca về vấn đề này và các quốc gia cũng thử sửa chữa. Nhưng than ôi, hễ đặt tên bão khác đi thì hoặc nó không đến; hoặc tệ hơn, nó đến mà không ai đề phòng, gây hậu quả thảm khốc.
Gần đây các nhà khoa học tổ chức hội thảo xem xét sự giống và khác nhau giữa một cơn bão và một “quý cô”. Cuối cùng họ đưa ra kết luận như sau:
Sự giống nhau giữa bão và phụ nữ
1.Bão và phụ nữ đều hình thành từ những vùng bí hiểm và từ những nguyên nhân bí hiểm.
2.Đường đi của bão và phụ nữ đều không thể đoán trước.
3.Cả phụ nữ và bão đều có thể bất ngờ mạnh lên.
4.Cả hai đều kèm theo mưa.
5.Cả hai đều có thể gây hư hại cho cây cối, nhà cửa và hoa màu.
6.Trước khi bão tới và trước khi phụ nữ nổi giận, trời rất đẹp.
7.Vật bị thổi tung trước tiên là quần áo.
8.Phương pháp đề phòng tốt nhất là đóng cửa ngồi im trong nhà.
9.Có nhiều tiếng rạn nứt mạnh.
10.Muốn tồn tại đều phải biết sống chung.
Sự khác nhau cơ bản giữa bão và phụ nữ
1.Bão nổi lên theo mùa. Phụ nữ nổi quanh năm.
2.Bão tàn phá lung tung. Phụ nữ chỉ thích tàn phá một chỗ..
3.Bão càng ngày càng yếu đi. Phụ nữ càng ngày càng mạnh lên.
4.Bão ầm ầm mới đáng sợ. Phụ nữ im lặng còn đáng sợ hơn.
5.Trời nỗi bão khi khí lạnh về. Phụ nữ chỉ nổi bão khi quý ông không về.
6..Bão mạnh khi nó to. Phụ nữ mạnh khi họ nhỏ.
7.Muốn an toàn phải chạy xa bão. Muốn an toàn ta phải lại gần phụ nữ.
8.Bão làm đắm thuyền. Phụ nữ làm đắm mình.
9.Bão cần mây tan. Phụ nữ chẳng cần mây gì hết.
Sau khi kết luận này đưa ra, chị em phản đối kịch liệt. Đến mức các nhà khoa học hoảng hồn, phải triệu tập khẩn cấp một cuộc họp khác để so sánh bão với đàn ông. Tổng kết như sau:
Sự khác nhau giữa bão và đàn ông
1.Bão kèm theo sấm chớp. Đàn ông chỉ kèm theo những lời nói suông.
2.Bão hay đổ bộ vào vùng quen. Đàn ông hay đổ bộ vào vùng lạ.
3.Bão đôi khi không chịu vào bờ. Đàn ông đôi khi không chịu xa bờ.
Sự giống nhau giữa bão và đàn ông
1.Cả hai càng đi xa càng yếu.
2.Cả hai nhiều lúc mang tính đe dọa rất cao rồi chẳng làm gì cả.
3.Cả hai khi tan đều làm ướt cảnh vật.
4.Cả hai đôi khi chỉ được thiên hạ nhớ đến do sức tàn phá mà thôi.
Sự khác nhau giữa phụ nữ và… nai!

1.Nai ngơ ngác suốt đời.. Phụ nữ chỉ ngơ ngác khi cần ngơ ngác.
2.Nai không bao giờ giả nai.. Phụ nữ thường làm như thế.
3.Nai có sừng toàn đầu. Phụ nữ có sừng trong ánh mắt.
4.Nai ăn cỏ. Phụ nữ thỉnh thoảng ăn nai.
5.Gặp tai nạn, nai biến thành khô nai. Gặp tai nạn, phụ nữ biến thành… mít ướt.
6.Nai chạy theo đàn. Phụ nữ cũng chạy theo đàn, nhưng không phải đàn nai.
7.Nai nhảy tung tăng. Phụ nữ đi tung tăng.

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

NHÀ ĐINH - LÊ

THÁI BÌNH HƯNG BẢO ( MẶT TRƯỚC )



THÁI BÌNH HƯNG BẢO ( MẶT SAU )



NHÀ ĐINH 970 - 980 lần đầu tiên dành được quyền tự chủ sau gần nghìn năm BẮC thuộc. Cũng là lần đầu tiên đúc tiền đồng có hình tròn lỗ vuông
mặc dù nét chữ rất thô gờ biên không sắc nét nhưng không vì thế mà không có sự sáng tạo trong cách đúc tiền cụ thể là mặt sau dồng tiền
đã có loại không có chữ ĐINH hoặc có chư ĐINH phía trên lỗ vuông hoặc có chữ ĐINH phía dưới lỗ vuông hoặc chữ ĐINH có móc ngược lại phía sau.
Đặc biệt có loại hai chữ HƯNG và BẢO đổi chỗ cho nhau và đảo ngược
còn chữ ĐINH nằm ngang phía sau đông tiền.
Đến nhà LÊ sơ kế tiếp nhà ĐINH 980 -> 988 việc đúc tiền vẫn thô và mỏng nhưng sự sáng tạo trong đúc tiền cũng khá đa dạng cụ thể : mặt Lưng không có chữ có chữ to, nhỏ và chữ được viết giản thể. Đặc biệt có đồng THIÊN PHÚC TRẤN BẢO
có chữ phúc được thể hiện dưới dạng chữ THẢO.
Điều đó nói lên sự đa dạng , phong phú của những đồng tiền được đúc tại VIỆT NAM từ những năm đầu tiên.

THIÊN PHÚC TRẤN BẢO ( MẶT TRƯỚC )



THIÊN PHÚC TRẤN BẢO ( MẶT SAU )

VIET NAM ANCIENT COINS

The Ðinh dynasty
968-979
Ðinh Tiên Hong
Thi Bnh Hng Bo
Earlier Lê dynasty
980-1005
Lê Ði Hnh
Thiên Phc Trn Bo
The Lý dynasty
1010-1028
Lý Thi T
Thun Thiên Ði Bo
1028-1054
Lý Thi Tông
Minh Ðo Thông Bo
Minh Ðo Nguyên Bo
1138-1175
Lý Anh Tông
Ði Ðnh Thông Bo
Thiên Cm Thông Bo
Thiên Cm Nguyên Bo
1176-1210
Lý Cao Tông
Thiên T Thông Bo
Tr Bnh Thông Bo
Tr Bnh Nguyên Bo
The Trn dynasty
1225-1258
Trn Thi Tông
Nguyên Phong Thông Bo
Kin Trung Thông Bo
1314-1329
Trn Minh Tông
Ði Khnh Thông Bo
Khai Thi Nguyên Bo
1341-1369
Trn D Tông
Thiu Phong Nguyên Bo
Thiu Phong Thông Bo
Ði Tr Thông Bo
Ði Tr Nguyên Bo
The H dynasty
1400-1401
H Quý Ly
Thnh Nguyên Thông Bo
Later Trn dynasty
1409-1413
Trn Quý Khong
Thiên Khnh Thông Bo
The Lê dynasty
1428-1433
Lê Thi T
Thun Thiên Nguyên Bo
1434-1442
Lê Thi Tông
Thiu Bnh Thông Bo
Ði Bo Thông Bo
1443-1459
Lê Nhân Tông
Thi Ha Thông Bo
Diên Ninh Thông Bo
1459-1460
Lê Nghi Dân
Thiên Hng Thông Bo
1460-1497
Lê Thnh Tông
Quang Thun Thông Bo
Hng Ðc Thông Bo
1497-1504
Lê Hin Tông
Cnh Thng Thông Bo
1505-1509
Lê Uy Mc
Ðoan Khnh Thông Bo
1510-1516
Lê Tng Dc
Hng Thun Thông Bo
1516-1526
Lê Chiêu Tông
Quang Thiu Thông Bo
1522-1527
Lê Cung Hong
Thng Nguyên Thông Bo
The Mc dynasty
1527-1529
Mc Ðng Dung
Minh Ðc Nguyên Bo
Minh Ðc Thông Bo
1530-1540
Mc Ðng Doanh
Ði Chnh Thông Bo
1541-1546
Mc Phc Hi
Qung Ha  Thông Bo
1546-1561
Mc Phc Nguyên
Vnh Ðnh Thông Bo
Vnh Ðnh Ch Bo
1598-1598
Mc Knh Dng
Thi Bnh An Php
Later Lê dynasty
1533-1548
Lê Trang Tông
Nguyên Ho Thông Bo
1573-1599
Lê Th Tông
Gia Tha Thông Bo
1649-1662
Lê Thn Tông
Vnh Th Thông Bo
1676-1705
Lê Huy Tông
Vnh Tr Nguyên Bo
Vnh Tr Thông Bo
Vnh Tr Chi Bo
Chnh Ha Thông Bo
1706-1729
Lê D Tông
Vnh Thnh Thông Bo
Bo Thi Thông Bo
1740-1796
Lê Hin Tông
Cnh Hng Thông Bo
Cnh Hng Trung Bo
Cnh Hng Ch Bo
Cnh Hng Vnh Bo
Cnh Hng Thi Bo
Cnh Hng C Bo
Cnh Hng Trng Bo
Cnh Hng Tuyn Bo
Cnh Hng Thun Bo
Cnh Hng Chnh Bo
Cnh Hng Ni Bo
Cnh Hng Dng Bo
Cnh Hng Lai Bo
Cnh Hng Thn Bo
Cnh Hng Ði Bo
Cnh Hng Ði Tin
1786-1788
Lê Mn Ð
Chiêu Thng Thông Bo
Ty Sn brothers
1776-1793
Nguyn Nhc
Thi Ðc Thông Bo
1788-1792
Nguyn Hu
Quang Trung Thông Bo
Quang Trung Ði Bo
1793-1802
Nguyn Quang Ton
Cnh Thnh Thông Bo
Cnh Thnh Ði Bo
Bo Hng Thông Bo
The Nguyn dynasty
17XX
Nguyn Lord
Thi Bnh Thông Bo
Thiên Minh Thông Bo
1802-1819
Nguyn Th T
Gia Hng Thông Bo (1796)
Gia Long Thông Bo
1820-1840
Nguyn Thnh T
Minh Mng Thông Bo
1841-1847
Nguyn Hin T
Thiu Tr Thông Bo
1848-1883
Nguyn Dc Tông
T Ðc Thông Bo
T Ðc Bo Sao
1883-1884
Nguyn Gin Tông
Kin Phc Thông Bo
1885-1885
Nguyn Hm Nghi
Hm Nghi Thông Bo
1886-1888
Nguyn Cnh Tông
Ðng Khnh Thông Bo
1889-1907
Nguyn Thnh Tha
Thnh Tha Thông Bo
1907-1916
Nguyn Duy Tân
Duy Tân Thông Bo
1916-1925
Nguyn Hoang Tông
Khi Ðnh Thông Bo
1926-1945
Nguyn Bo Ði
Bo Ði Thông Bo