Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Thư pháp là gì?



Nói đến Thư pháp là nói đến một loại hình nghệ thuật độc đáo. Nhìn chữ viết mà người ta biết được nhân cách của người viết. Do đó, mỗi ký tự viết ra là một nét bút đặc trưng khác nhau tùy theo vị trí và dụng ý của người viết, cũng như tùy thuộc vào lời văn được viết.

Nghệ thuật Thư pháp có nguồn gốc từ Trung Hoa

Thư pháp là một môn nghệ thuật xuất phát từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam đón nhận, kế thừa và phát triển theo bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện: bút sắt, cọ, thước, compa, êke... Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ. Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La tinh.

Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt... Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.

Đặc điểm của thư pháp:

Bức trung đường chữ "Nhạn"(nxbTN)
- Hình dạng bức thư pháp:

* Trung đường: Kích thước lớn là đại trung đường, kích thước nhỏ là tiểu trung đường.
* Trực bức: Được bố cục theo chiều dọc, thẳng đứng (còn gọi là trục phi)
* Đối liên: Là hai tác phẩm dài, được viết đơn lẻ nhưng tương xứng với nhau, đứng song song kết hợp thành một tác phẩm thư pháp.
* Hoành phi: Được bố cục theo chiều ngang, thông thường chiều ngang gấp đôi chiều dọc.
* Bình điều : có từ 4-12 bức nhỏ kết hợp với nhau thành một tác phẩm thư pháp.
* Phiến diện: Là tiểu phẩm được trình bày trên quạt (hình dạng của quạt) hoặc trình bày theo hình vành khăn.

- Đề khoản:
Đề khoản là dòng chữ nhỏ được viết bên cạnh, song song với chính văn gồm thượng khoản và hạ khoản. Đề khoản còn gọi là lạc khoản.

* Thượng khoản là dòng chữ ghi năm, tháng, ngày viết của tác phẩm. Thượng khoản được viết phía trên, chữ bắt đầu của lạc khoản dưới một vài chữ dòng đầu của chính văn.
* Hạ khoản thường là dòng chữ ghi tên tuổi của người viết. Hạ khoản được viết phía dưới chữ kết thúc của lạc khoản, trên vài ba chữ dòng cuối của chính văn.

Thượng khoản hay hạ khoản viết một dòng thì được gọi là đơn khoản, viết thành hai dòng thì gọi là song khoản.
- Ấn chương (triện):

Giá bút của một nghệ nhân Thư pháp
Ấn chương là con dấu, con triện riêng của tác giả, là con mắt của tác phẩm thư pháp hay một bức họa. Ấn chương có thể được chế tác từ vàng, bạc, ngà... với nhiều hình dạng vô cùng phong phú. Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm giá trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỹ ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là chính bản hay ngụy tạo. Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi:

* Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền đậm (âm văn-bạch văn)
* Khắc nổi: khi in ra có nét chữ đậm trên nền nhạt (dương văn-chu văn)

Ấn chương được chia thành hai loại là danh chương và nhàn chương. Danh chương là con dấu đề tên người viết. Nhàn chương là con dấu khắc năm, tháng, tên thư phòng, thành phố hoặc một câu nói hay mà tác giả tâm đắc. Do đó có rất nhiều loại nhàn chương.
- Các kiểu chữ trong Thư pháp:

Trong Thư pháp Trung hoa có 5 kiểu chữ chính: Chữ triện, chữ lệ, chữ chân, chữ hành và chữ thảo. Cá biệt còn những loại chữ tạm gọi là "Cuồng Thảo", đây là lối viết Thư pháp mà người phóng bút "thăng hoa" giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết chữ này thể hiện cá tính của người viết, nhìn vào kiểu chữ này, người xem dễ nhận biết tác giả mà không cần phải xem bút ký. Kiểu chữ này thường viết liền lạc trong một nét nên khó đọc.

Nghệ thuật Thư pháp Trung Hoa nổi tiếng toàn thế giới
Ngoài ra, một số bức Thư pháp còn có hình ảnh minh họa về thiên nhiên, trong đó phần tranh có thể chiếm khoảng không gian lớn hơn phần chữ. Với đặc trưng này Thư pháp đã trở thành Thư họa.

Hoành phi câu đối trong ngôi nhà Huế


1. Hoành phi vốn là bức thư họa, tức là bức “tranh chữ”. Thay vì viết những nét chữ “rồng bay, phượng múa” lên giấy, vải, lụa…, người xưa đã chạm, khắc, sơn thếp… văn tự lên những chất liệu bền vững như gỗ, đá… để tạo ra những bức “tranh chữ” bề thế, sang trọng. Hoành phi còn có nhiều tên gọi khác: hoành, biển, biển ngạch, bài biển.(*)
Ảnh 01: Hai bức hoành phi có phong cách tạo hình, kiểu chữ và chất liệu khác nhau, treo trong chính đường của nhà vườn An Hiên
Có hai loại hoành phi khá phổ biến ở nước ta: hoành phi trang trí và hoành phi thờ tự. Hoành phi trang trí thường được treo ở phòng khách hay ở chính đường (gian giữa của tòa nhà), vừa để trang trí, vừa thể hiện một tín niệm nào đó của chủ nhân, có khi là một lời khuyên dạy của tiền nhân với hậu duệ trong gia tộc. Hoành phi thờ tự là loại hoành phi phổ biến trong các đình chùa, miếu vũ, nhà thờ họ tộc… Đó có thể là những biển ngạch định danh những nơi này, hoặc là những danh ngôn, mỹ tự được thờ phụng, tôn trí trang nghiêm.
Ảnh 02: Bức hoành phi Văn vũ trung hiếu bằng gỗ chạm lộng sơn then thếp vàng, lạc khoản đề Bảo Đại Đinh sửu đông (1937) treo trong chính đường của nhà vườn An Hiên
Nội dung của hoành phi thường nghiêm túc, trang trọng. Hình thức của hoành phi cũng rất phong phú: có khi chỉ là một mảnh gỗ hình chữ nhật có khung bao quanh, văn tự thể hiện chân phương, sơn son thếp vàng; có khi hoành phi được thể hiện kiểu cuốn thư, văn tự khắc nổi hay chạm sâu theo các kiểu chữ triện, chữ lệ rất cầu kỳ, được sơn thếp rực rỡ, khung ngoài có khắc chạm các đồ án trang trí rất tinh xảo.
Ảnh 03: Hoành phi và câu đối trong một ngôi nhà rường phục nguyên của nhà vườn Thả Om
2. Câu đối còn gọi là doanh thiếp, doanh liên hay đối liên. Doanh, chữ Hán nghĩa là ‘cây cột’, thiếp là ‘tờ giấy’, liên là ‘liên kết’, đối là ‘đi đôi, song song, một cặp đối xứng’. Thuở trước, câu đối còn được gọi là liên hay liễn. Liễn là hai tấm giấy, hoặc hai vóc lụa dài để viết câu đối, có nẹp trục để cuộn.(*) Câu đối là một loại hình văn hóa rất được người Việt ưa thích, từ tầng lớp thường dân cho đến các bậc thức giả, quyền quý. Câu đối xuất hiện trong rất nhiều sinh hoạt đời thường của dân ta: đón Tết, mừng xuân, tân gia, hôn sự, sinh con, đỗ đạt, thăng tiến, vinh danh, tuyên dương, vịnh cảnh, bài trí ở các nơi thờ tự, tôn miếu, chùa chiền… Thậm chí có cả những câu đối dùng để chê người, chửi đời…
Câu đối ngày trước viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm. Câu đối đời nay viết bằng chữ quốc ngữ, theo kiểu “thư pháp Việt”. Câu đối được viết, khắc, chạm trổ… trên rất nhiều chất liệu khác nhau: giấy, lụa, gỗ, đá, kim loại… muôn hình vạn trạng.
Ảnh 04: Bức hoành phi Tế mỹ do Tổng đốc An Tĩnh Trần Đình Bá tặng cho phò mã Nguyễn Hữu Tiễn vào năm 1922, treo ở từ đường Ngọc Sơn công chúa.
Về nội dung, có loại câu đối trích dẫn nhiều điển tích, kinh điển; có loại ngôn ngữ mộc mạc chân chất. Có câu đối dùng để chúc tụng, biếu tặng nên hình thức cầu kỳ, chạm khắc tinh xảo, sơn thếp sang trọng. Có câu đối viết trên giấy, trên vải dùng để trang trí trong nhà dăm ba bữa Tết. Có câu đối chỉ đọc cho người khác nghe, xong rồi thôi, không lưu lại bút tích.
Ảnh 05: Hoành phi và câu đối bài trí ở gian giữa Ngọc Sơn công chúa từ đường
3. Huế là nơi còn lưu giữ nhiều hoành phi câu đối bậc nhất Việt Nam hiện nay, nhất là những hoành phi, câu đối được chạm khắc trên đá, trên gỗ một cách bền vững, giàu thẩm mỹ và nghệ thuật.
Ảnh 06: Tranh thờ và câu đối bài trí ở gian giữa nhà vườn Thả Om
Ngày trước, Huế là kinh đô của cả nước, nên triều đình phong kiến cho xây dựng nhiều cung điện, lăng tẩm… Ở những nơi ấy, hoành phi và câu đối trở thành những vật bài trí không thể thiêu vắng. Huế còn có nhiều chùa chiền, đền miếu, nơi mà hoành phi, câu đối không chỉ là vật bài trí mà còn là thứ để thờ tự, để vinh danh và truyền bảo luân lý, đạo thường. Ngoài ra, vì là kinh đô, nên Huế sinh ra một tầng lớp quan liêu và quý tộc. Những người này sinh sống trong hàng trăm dinh thự, phủ đệ tọa lạc trong những khu vườn mênh mông ở Vỹ Dạ, Kim Long, An Cựu, Ngự Viên… Nơi ở của tầng lớp này thường là những ngôi nhà rường ba gian hai chái với rất nhiều hàng cột và hệ thống liên ba, đố bản. Đó là những nơi vô cùng thích hợp để bài trí hoành phi và câu đối. Không một người Huế nào có thể hình dung trong một ngôi nhà rường kiểu Huế lại vắng bóng hoành phi và câu đối.
Ảnh 07: Câu đối khảm bằng sành sứ ở bên trong cổng Lạc Tịnh Viên
Sau cùng, Huế là nơi hội tụ các bậc thức giả của cả nước. Họ là những vị hoàng thân quốc thích thông kinh bác sử; là quan lại lưu kinh phụng mệnh triều đình; là những Nho sinh đang “sôi kinh nấu sử” chờ ngày ứng thí… Tầng lớp này chính là “tác giả” của vô số hoành phi, câu đối hiện đang bài trí trong những ngôi nhà kiểu xưa của xứ Huế. Đó là những phương ngôn, triết lý của Nho giáo hay những lời ca ngợi, biểu dương chạm khắc trên hoành phi. Đó là những lời xưng tụng thượng cấp hay đồng liêu; là lời chúc mừng bằng hữu đỗ đạt hay thăng tiến… hiện diện trên những cặp câu đối bằng gỗ được chạm khảm cầu kỳ.
Ảnh 08: Câu đối theo kiểu chữ lệ khắc trên thân dừa, treo ở đình Nhân Hậu của Lạc Tịnh Viên
Chế độ phong kiến kết thúc, nhưng gia phong dưới những mái nhà rường xứ Huế vẫn còn. Hậu duệ của các bậc quý tộc, quan liêu xưa vẫn tìm cách níu giữ thời hoàng kim quá vãng bằng việc nâng niu những di sản mà tiền nhân để lại, trong đó có hoành phi và câu đối.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh khốn khó thời hậu chiến, nhiều người buộc lòng bán đi nhiều kỷ vật của gia tộc, kể cả hoành phi và câu đối, để mưu sinh. Tiếp theo, cơn lốc thời kinh tế thị trường và làn sóng hưởng thụ cuộc sống tiện nghi đã “cuốn phăng” nhiều ngôi nhà rường truyền thống, thay thế bằng những villa hiện đại và những ngôi nhà hình ống. Hoành phi và câu đối cũng theo đó mà mất mát khá nhiều.
Vài năm trở lại đây, đời sống kinh tế khá lên, cũng như nhiều nơi khác, ở Huế đã xuất hiện những “đại gia” hoài cổ. Họ tìm mua xác nhà rường xưa, mang về phục dựng trong những trang viên cô tịch ở vùng đồi núi phía tây miền Hương Ngự để làm nơi thư nhàn. Hoành phi và câu đối cũng theo đó mà về lại với Huế, bởi lẽ, đó là những vật dụng không thể vắng bóng trong những ngôi nhà rường, nơi để các “đại gia” không chỉ khoe của, khoe gout thẩm mỹ của mình, mà còn là nơi khoe với bàn dân thiên hạ rằng: mình là kẻ “có chữ”, là người “hoài cổ” và biết trân trọng truyền thống. Âu đó cũng là một điều đáng mừng vậy.

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Phong tục thờ cúng của người Việt:


Đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn” luôn có trong lòng của mỗi con người Việt Nam. Dù ở nơi đâu trên trái đất này, dù bạn giàu hay nghèo, dù bạn là ông quan cao cả hay một thường dân nghèo khó cũng có một bàn thờ, ấy là thể hiện một lòng thành kính với tổ tiên.
Nhà thờ: Các con cháu dòng dõi trong một họ thiết kế, xây dựng chung một nhà thờ Thủy Tổ gọi là mỗ tộc ( Trần tộc, Nguyễn tộc, Lê tộc, Vũ tộc, Đặng tộc, Phạm tộc, Lưu tộc …) từ đường. Khi xây dựng xong nhà thờ ấy chỉ thờ riêng một Thủy Tổ, khi tế tự thì lấy các tổ tông biệt chi, biệt phái mà phối hưởng. Có họ không thiết kế xây dựng nhà thờ thì xây một cái bàn lộ thiên kiên cố, dựng bia đá ghi tên thụy hiệu các tổ tiên để khi tế tự thì ra tại đó mà tế. Có họ thì làm nhà thờ để cho chi trưởng nam đời đời hương hỏa, chi trưởng nam tuyệt thì mới chuyển sang cho chi thứ.
Những họ về chi khác nhau, cũng thiết kế xây dựng nhà thờ tổ tông trong bản chi, gọi là bản chi từ đường.
Nhng gia đình dòng họ phú quý có gia từ, phụng thờ cao, tằng, tổ, khảo tại bàn chính giữa ( hay gian giữa), các bàn bên cạnh ( hay các gian bên ) thì thờ Thổ công, Táo quân, Nghệ sư, Bà cô, Ông Mãnh …
Gia phả: Nhà thờ nào cũng có cuốn sổ ghi chép theo thứ tự trước sau và họ tên chức tước ngày tháng sinh tử của tổ tông và người trong nhà gọi là gia phả.
Nhà giàu có, có công trạng… thì gia phả ghi chép cả công nghiệp sự trạng cả tổ tông, mả táng tại đâu …
Gia phả để tại nhà thờ, cũng có nhà in phát ra cho mỗi chi một bản để cho con cháu được biết sự tích của tổ tông.
Tế Thủy Tổ: Mỗ năm vào ngày húy nhật ông Thủy tổ, cả họ họp mặt tại nhà thờ, dùng lễ tam sinh, hoặc tùy họ to, họ nhỏ mà dùng bò, lợn để tế tổ. Mỗi tiết thanh minh thì cả họ rủ nhau đi đắp mả tổ, có họ đắp xong thì tế tại mả tổ, có họ thì đem về nhà thờ họ. Các tuần tiết thì chỉ có trưởng nam cúng, trong 3 ngày Tết Nguyên Đán con cháu trong họ đem hương, trầu, cau … đến nhà thờ họ để lễ tổ.
Cúng vái gia tiên: Mỗi tuần, tiết, hoặc ngày kỵ, hoặc mùa mới, gạo mới, hoặc có việc hiếu hỉ …làm một vài mâm cỗ, hoặc dùng đồ hoa quả, bánh trái hoặc thủ lợn mâm xôi, hoặc bát cơm, quả trứng …Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa cũng không thể thiếu cơi trầu, bát nước, rượu và thẻ hương.
Nguyên tắc thiết kế và ý nghĩa văn hóa của bàn thờ gia tiên :
Uống nước nhớ nguồn ” Luôn là một đạo lý quen thuộc của người Việt Nam, chính vì thế cho nên từ xa xưa trong mỗi gia đình người Việt đều có một bàn thờ tổ tiên, bàn thờ được bài trí một cách trang trọng ở chính ngôi nhà chính nhằm thể hiện tấm lòng thành kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên những thế hệ đi trước. Ngoài bàn thờ gia tiên còn có nhiều loại bàn thờ khác như bàn thờ Thổ công (miền Nam gọi là bàn thờ ông Địa ), bàn thờ Thần Tài , bàn thờ Tiền chủ v...v. Các gia đình theo đạo Phật còn có bàn thờ Phật.
Bàn thờ gia tiên :
Minh họa hình ảnh thiết kế bàn thờ gia tiên
Bàn thờ Thần tài – ông Địa :
Minh họa hình ảnh thiết kế bàn thờ thần tài để chiêu tài, dẫn lộc vào nhà
Bàn thờ Phật :
Hình ảnh minh họa thiết kế bàn thờ phật
v...v.
Bàn thờ gia tiên là bàn thờ chính trong mỗi gia đình Việt Nam, người ta còn có sự phân biệt giữa bàn thờ họ và bàn thờ trong từng gia đình. Dù có sự khác nhau đôi chút về hình thức, nhưng cả ở 3 miền, bàn thờ đều được đặt ở vị trí trung tâm, nơi trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Ở miền Bắc, bàn thờ thường là một giá gỗ được gắn nơi bức tường trung tâm của ngôi nhà chính, ở tầm cao trên tay với của người lớn, mỗi lần hương khói người ta phải đặt ghế để đứng lên trong tư thế thành kính. Miền Trung và miền Nam, vị trí ấy là chiếc tủ thờ bằng gỗ, cao gần tầm đầu người lớn, được chế tác công phu. Ở những gia đình khá giả, tủ thờ được làm bằng gỗ quý, chạm khắc tinh xảo, còn ở những gia đình bình dân, chiếc tủ thờ vẫn là vật đẹp nhất trong nhà, thể hiện lòng thành kính, hiếu thảo của người đang sống với tổ tiên. Bàn thờ là nơi linh thiêng, thanh khiết, lên ngoài các đồ đạc dùng để tế tự và trang hoàng, nhất thiết không được để vật dụng gì lên đó. Trung tâm của bàn thờ là bát nhang, phía sau bát nhang là di ảnh của những người đã khuất.
Nếu là những gia đình khá giả, trước di ảnh còn có đỉnh đồng để đốt trầm vào mỗi dịp cúng kiến, đỉnh đồng thường được chạm khắc long, lân, mai, trúc. Hai bên bát nhang phía trước là đôi chân đèn để thắp nến, có ý nghĩa tượng trưng cho đôi vầng nhật nguyệt, cũng để nói lên người đã chết nhưng linh hồn của họ thì không bao giờ tắt. Ở miền Bắc đôi khi thấy ở vị trí đôi chân đèn là hai ngọn đèn dầu.
Tường sau bàn thờ nhà khá giả là hoành phi, liễn đối xứng bằng Hán tự sơn son thếp vàng, có nội dung nói lên công đức của những người đã khuất. Ở gia đình bình dân, đó là tranh thờ, thường là trang dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư, cá chép vượt vũ môn hay các chữ như Phúc, Lộc, Thọ ( đều bằng Hán tự ). Miền Nam còn thấy phổ biến loại tranh thờ vẽ trên kiếng với những phong cảnh thanh bình.
Trong việc thờ cúng tổ tiên có hai ngày quan trọng nhất, đó là ngày giỗ và ngày Tết. Ngày giỗ cúng đúng vào ngày mất ( theo ngày âm lịch ) của người được thờ tự. Đây là dịp để con cháu tưởng nhớ, bầy tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên. Ở miền Nam, buổi chiều hôm trước ngày chính kỵ còn có mâm cúng tiên thường để con cháu thắp hương vọng bái trước ông bà.
Ngày tết cổ truyền của dân tộc, ngoài ý nghĩa đưa năm cũ, đón năm mới, còn là dịp để mọi người ôn cố, tri tân và việc cúng kiến ông bà là nghi lễ hàng đầu. Không khí Tết đến với ngôi nhà Việt bắt đầu từ việc trang hoàng bàn thờ ông bà. Những vật dụng thờ cúng được lau chùi đánh bóng, bên cạnh đó khác với ngày thường là có thêm lọ độc bình ( hoặc song bình ) cắm hoa tươi, một cành đào ở Bắc, một cành mai phổ biến ở Trung và Nam.

Ngoài ra, cả hai miền đều có mâm ngũ quả. Ở miền Bắc thường thấy có 5 loại quả có 5 mầu khác nhau như : chuối xanh, bưởi vàng, hồng đỏ, lê trắng, quýt da cam tượng trưng cho mong ước : phú ( giầu có ) – quý ( sang trọng ) – thọ ( sống lâu ) – khang ( khỏe mạnh ) – ninh ( bình yên ).
Miền Nam, mâm ngũ quả thường thấy các loại trái mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung . Mâm ngũ quả có ý nghĩa nói lên lòng mong ước của ngưởi dâng cúng để ông bà được tỏ tường mà phù hộ. Trên bàn thờ ngày Tết ở miền Nam còn trung cặp dưa hấu, loại dưa tròn, lớn, trái có dán chữ ‘ thọ ’( bằng Hán tự ) viết bằng nhũ vàng trên giấy đỏ, nói lên mong ước cho ông bà cha mẹ còn đang sống được trường thọ, hay chữ ‘ phúc ’ để cầu phúc cho gia đình dòng họ.
Mâm cúng ngày giỗ hay ngày Tết, cả ngoài Bắc cũng như trong Nam đều không được đặt trực tiếp lên bàn thờ mà phải đặt trên chiếc bàn thấp hơn kê trước bàn thờ. Trước khi người chủ trì thờ tự cùng con cháu dâng hương, thường thấy ngoài Bắc còn đặt lên bàn thờ ba ly nước, trong Nam là 2 ly rượu, một ly nước, có ý nghĩa tượng trưng cho sự tranh khiết của trời đất và tinh hoa của mùa màng. Cũng có mợt chút khác nhau giữa hai miền là ngoài Bắc người thờ tự tổ tiên là con trai trưởng còn miền Nam là con trai út.
Bố trí bàn thờ gia tiên :
Sơ đồ thể hiện cách bài trí bàn thờ gia tiên theo phong tục người Việt
­+ Hoành phi : Thường được thiết kế treo ở trên cao trong cùng, hoành phi thường được sơn son thếp vàng hay chữ khảm xà cừ. Có nhiều gia đình cầu kỳ làm bức hoành phi theo hình thức cuốn thư rất đẹp. Ý nghĩa của đại tự viết trên hoành phi thường mang nội dung ca tụng công đức của tổ tiên hoặc tỏ lòng kính trọng của con cháu đối với tổ tiên như :
- Kính như tại : có nghĩa là con cháu kính trọng tổ tiên, như tổ tiên luôn tại vị trên bàn thờ luôn luôn ở trong nhà bên cạnh cùng con cháu.
- Phúc mãn đường : có nghĩa là những người trong nhà luôn luôn được đầy đủ phúc đức.
v…v…
Bên cạnh đó trên bức hoành phi còn có ghi niên hiệu năm làm, vào mùa, tháng nào. Nếu là bức hoành phi do một người con cháu nào đó cúng thì có ghi tên tuổi người đó. Hoành phi có ghi tên người cúng phần lớn là hoành phi treo tại các nhà thờ tổ họ hay trưởng chi họ.
+ Y môn : Thường là bức màn vải đỏ, được thiết kế dùng làm bức màn ngăn cách lớp bàn thờ bên ngoài với lớp bàn thờ bên trong. Ỷ môn gồm hai cảnh, xung quanh có thêu, được thiết kế treo thõng xuống che kín lớp bàn trong. Y môn có thể làm bằng nhiễu, the hoặc vải mầu đỏ. Trên cùng Y môn có một dải lụa hoặc nhung the mầu băng ngang. Trên lớp băng ngang thường được thêu hoặc dán chữ đại tự.
Hình ảnh Y môn trong thiết kế nhà từ đường được thiết kế bằng vải
+ Khám thờ : Ngày nay phần lớn không lập bàn thờ nữa, tất cả Ngai thờ và Khám thờ được thiết kế thay thế bằng Tủ thờ, tủ thờ thường có chiều cao ngang mặt đặt sát vách phía trên bầy biện đồ thờ tự, phía dưới được thiết kế là một khoang tủ trong đó chứa các vặt dụng liên quan đến thờ cúng rất tiện dụng. Nếu là nhà trệt ít phòng thì đặt tủ thờ ngay phòng khách đối diện với cửa ra vào, nếu có phòng thờ riêng thì bố trí cạnh phòng khách, đối diện với tủ thờ phải có cửa sổ để lấy dương khí. Còn với nhà lầu thì đặt trên tầng cao nhất. đối diện cũng phải có cửa sổ. Trên tủ thờ bầy bộ Ngũ sự hoặc Thất sự, sát vách đặt một ngai cao có bài vị Cửu Huyền Thất Tổ, hai bên ngai đặt di ảnh của người thân.
- Khám thờ có cửa mở ra đóng vào bên trong đặt các linh vị tổ tiên, ngay chính giữa khám thờ viết hai chữ Thần Chủ. Ngày xưa khi lập bàn thờ Gia Tiên, gia chủ chuẩn bị mọi thứ như trên và viết chữ Thần Chủ nhưng chữ Chủ lại thiếu mất một nét chấm, sau đó mời một vị quan có uy tín đến dung son điền thêm một nét chấm đó thì chữ Chủ mới đủ, lễ này gọi là lễ KHAI HOA ĐIỂM NHÃN.
Hình ảnh khám thờ trên bàn thờ
- Ngũ sự bao gồm bát hương để ở giữa, hai chân đèn được thiết kế đặt hai bên, phía sau là lọ độc bình để cắm hoa được đặt vị trí sau chân đèn bên trái, khay quả đặt sau chân đèn bên phải.
Hình ảnh chim hạc, đỉnh hương và nến thờ trong thiết kế nhà thờ họ (từ đường)
- Thất sự là bao gồm các món đồ Ngũ sự cộng thêm đỉnh hương và đèn thái cực, cách bố trí có khác chút là đỉnh hương nằm giữa ngang chân đèn, bát hương đặt trước đỉnh hương và đèn thái cực đặt sau đỉnh hương.
+ Bàn thờ : Thông thường người ta chia bàn thờ làm ba lớp. Lớp ngoài là bộ phận phản để mọi người đến làm lễ, không đặt phản thì để trống nền nhà, khi cần thì có thể thiết kế bầy thên bàn ghế, hay trải chiếu. Lớp thứ hai là hương án, trên đặt bộ tam sự hay ngũ sự, Lớp thứ ba trong cùng mới thực sự là bàn thờ người đã khuất, trên để khám sơn son, bài vị, hộp hay ống đựng gia phả, khay đựng vật cúng, đài rượu và có thể có ảnh chân dung người quá cố.
Bát hương làm bằng nhiều chất liệu khác nhau nhưng tốt nhất vẫn là làm bằng kim lại: đồng, vàng, bạc. Khi bốc bát hương mới phải hết sức cẩn thận, nhất tâm nhất niệm, trong lòng thư thái, không được có những ý nghĩ vẩn đục. Trong bát hương có cát trắng khô sạch, vàng bạc, đá ngũ sắc, ghi rõ tổ họ. Vào ngày 23 tháng chạp sau khi đưa ông Táo thì gỡ các chân hương đem ra sân đốt thả ra sông, sau đó dọn dẹp vệ sinh lại tủ thờ, nhớ không được mang nước ra rửa, vì bàn thờ mệnh Hỏa, Hỏa khắc Thủy, đến trưa ngày 30 tháng chạp mới cúng rước ông bà và bắt đầu cắm hương lại. Điều cần lưu tâm là nếu bầy biện Thất sự thì ngọn đèn Thái cực phải luôn để sáng, không để tắt và đừng bao giờ lấy chân hương để xỉa răng, ngoáy tai như thế sẽ có tội với tổ tiên. Khi bát hương tự hóa cũng đừng vội vàng đổ nước vào, mà phải từ từ chuyển những vật dụng dễ cháy ra, lấy một tấm gỗ dầy che ở trên, cho lửa khỏi làm bẩn trần nhà. Khi bát hương cháy hết thì chuyển về vị trí như cũ. Bát hương cháy có hai loại : hóa dương ( tốc độ cháy nhanh ). Hóa âm ( cháy từ từ ) tùy theo mức độ cháy để dự báo cát hung. Nếu bát hương cháy bị hỏng, cháy lan ra bàn thờ thì tùy theo tình hình kinh tế của gia chủ mà thay bàn thờ và bát hương mới.
Những người đi đâu xa hoặc công tác về đều thắp hương để thông báo cho tổ tiên biết, đó cũng là nét hiếu thuận trong nếp sống cửa người Việt.
+ Câu đối : Ở hai cột phía trước bàn thờ hoặc trên tường nhà có treo mỗi bên một câu đối. Nhà khá giả thường viết câu đối sơn son thếp vàng hay sơn đen khảm xà cừ. Còn nhà nghèo thường viết câu đối trên giấy hồng. Nhìn chung thì các bức hoành phi hay câu đối đều được viết bằng chữ Hán. Nhưng có gia đình viết cả câu đối và hoành phi bằng chữ Nôm. Cũng như hoành phi, nội dung câu đối thường ca tụng công đức của tổ tiên,
Ví như :
“ Tổ tông công đức thiên nhiên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh ”.
Có nghĩa là :
Công đức tổ tiên nghìn năm thịnh
Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay.
Hay câu đối treo ở một gia đình mà ông cha xưa có công với đất nước :
“ Tổ tiên phương danh lưu quốc sử
Tử tôn tính học kế gia phong ”.
Có nghĩa là :
Tổ tiên danh thơm ghi sử nước
Cháu con cố gắng học giỏi cơ nhà.
Hình ảnh câu đối luôn được đặt trong không gian thờ

BÀN VỀ NHÀ THỜ HỌ Ở HÀ NỘI VIỆT NAM








1- Sự cần thiết nghiên cứu đề tài này :

Bên cạnh văn bia Đình , chùa , miếu , đền thì văn bia ở các nhà thờ họ là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng phong phú cho chúng ta hiện nay . Từ khi có đổi mới không chỉ đời sống vật chất được nâng cao mà đời sống tâm linh của từng gia đình , từng dòng họ đã được quan tâm đúng mức . Nhà thờ cũ thì được trùng tu . Nhiều dòng họ đã gom góp tiền của công sức để xây mới một nhà thờ họ của Họ mình . Hoặc giả một chi nào đó cũng làm nhà thờ chi họ để tưởng nhớ về nơi quê hương bản quán của mình .
Việc duy trì và xây mới các nhà thờ Họ đang thành một phong trào trong tầng lớp công chức và những người đã về hưu ở nhiều tỉnh trong nước . Do vậy nghiên cứu vấn đề này là cần thiết .
Theo sưu tầm của cá nhân tôi :

Các nhà khoa bảng Việt nam thời nhà Nguyễn ( Theo Cao Xuân Dục trong cuốn Quốc Triều hương khoa lục , 1993 , nhà xuất bản TP. HCM ) có gần 100 họ có người khoa bảng Triều Nguyễn. Đó là các họ sau đây An , Âu , Bạch, Bình , Biện , Bùi ( 119 người ) , Cao , Cát , Cần , Cấn , Cù , Cung , Chế , Chu , Diệp , Doãn , Dương , Đàm , Đào , Đặng ( 156 người ) , Điêu , Đinh , Đoàn , Đỗ , Đồng , Đới , Giang , Hà , Hạ , Hoàng 182 người ) , Hồ ( 109 người ) Huỳnh , Hưu , Hướng , Kiều , Khiếu , Khuất , Khúc , Khương , La , Lã , Lại , Lâm , Lê ( 452 người ) , Liễu , Lỗ , Luyện , Lư , Lương , Lý , Ma , Mai , Mạnh , Ninh , Nghiêm , Ngọc , Ngô , Nguyễn ( 1758 người riêng Nguyễn Văn có 250 người ) , Nhữ , Ông , Phạm ( 280 người) , Phan ( 202 người ) , Phí , Phó , Phùng , Quách , Ta , Tào , Tiết , Tô, Tôn , Tống , Trần ( 460 người ) , Triệu , Trịnh , Trương , Trữ , Từ , Tường , Thang , Thái , Thẩm , Thân , Thiều , Trà . Uông , Ưng , Văn , Võ ( 50 người ) , Vũ ( 259 người ) , Vương .
Các họ có nhiều người khoa bảng như Nguyễn 1758 người ; Trần 460 người ; Lê 452 người , Võ , Vũ 309 người ; Phạm 280 người ; Phan 202 người ; Hoàng 182 người ; Đặng 156 người ; Bùi 119 người , Ngô 109 người ; Còn sưu tầm Họ theo các nhân vật lịch sử Việt Nam ( Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1992 Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Bá Thế ), thì Việt Nam có khoảng 103 họ , các họ có nhiều nhân vật lịch sử như Nguyễn 245; Lê 174; Hoàng 96 ; Trần 92 ; Bùi 86; Phạm 75; Đặng 58 ; Ngô 58 ; Phan 60 ; Hồ 43 ; Dương 37 ; Đào 25 .
Các nhà văn Việt Nam có các Họ sau đây Lâm , Lại , Lương , Võ , Vũ , Nguyễn , Phạm , Đào, Tạ, Trần , Dương, Hà , Cầm , Ngô , Hoàng , Lư, Trương, Bàn , Trịnh , Đặng , Bảo , Bùi , Mai, Hà, Cao , Chu , Đỗ, Lê, Nông , Đoàn , Phan , Lò, Tô ,Lý , Hồ , Khương , Thái , Phùng , Vương ( Theo cuốn Nhà văn Việt nam Thế kỷ 20 Nhà xuất bản Hội Nhà văn Hà nội 2001 do Ngô văn Phú và Nguyễn Phan Hách biên soạn ).
Theo kết quả thi tuyển công chức Vòng 1 của Vụ chính sách đa biên ngày ( Bộ Thương mại 21 Ngô Quyền Hà Nội ) ngày 9-4-2003 thì tôi sưu tầm có các Họ sau đây Nguyễn 37 ; Lê 17; Trần 13; Phạm 9 ; Bùi 8 Dương 6; Đặng 6; Trịnh 5; Hoàng 4; Vũ 4 ; Cao ,Lu,Trương, Lương, Đỗ : 3; Phan , Ngô 2; Chu, Doãn , Đậu , Bạch, Hứa, Hà , Đoàn, Kiều, Lâm, Đàm, Ninh, Vương : 1 . Số thí sinh trên trúng vào vòng 2 ngày 24-4-2003 tôi sưu tầm có các họ sau đây Nguyễn 12/37; Dương 4 /6; Lê 2/17; Đặng 2/6; Trần 2/13; Bùi 2/6; TRịnh 1/5; Vũ 1/4 Lơng 1/3; Hà 1/1; Cao 1/3; Trương 1/ 3; Bạch 1/1; Đỗ 1/ 3; Chu 1/1; Như vậy vòng 1 có 30 Họ và vòng 2 chỉ còn có 19 Họ .

Qua sưu tầm của tôi thì trong một Họ , những tên đệm cũng rất khác nhau , Ví dụ lấy họ Nguyễn có đến 139 chữ đệm khác nhau . Qua sách của Cao xuân Dục tôi đã tìm thấy các tên đệm khác nhau của họ Nguyễn được phân bố ở khắp Việt Nam ví dụ như : Bá ở Triều Thạch Thất ; Bảo ở Tân Thuận ; Bạt Giao Thuỷ Nam Định ; Bật ở An Trường , Chân Lộc ; Bằng ở Quang Liệt , Thanh Trì ; Bích ở Hành Thiện , Giao Thuỷ ; Bỉnh ở Nội Duệ Tiên Du; Bùi ở Nộn Liễu Nam Dương ; Càn ở Diên Hà , Thái Bình ; Cang ở Phù Mỹ , Bình Định ; Cao ở Phất Lão , Thạch Hà ; Cảnh ở An Thạnh Tân Minh ; Công ở Uy viễn Nghi Xuân ; Chánh ở Nam An , Diên Phước ; Chân ở Thủ Lễ Quảng Điền ; Châu ở Đông Ngạc Từ Liêm ; Chi ở Phú Khê Mỹ Hào ; Chí ở Du Lâm Gia Lâm ; Chu ở Vụ Bản Nam Định ; Chương ở Chung Cầm Thanh Chương ; Danh ở Xuân Lôi Võ Giàng ; Diên ở Phú Nông Diên Hà ; Doãn ở Yên Vượng La Sơn ; Duy ở Đinh Hương Bạch Hạc ; Dương Vũ Liệt ,Thanh Chương ; Đạo Bảo Lộc Thọ Xương ; Đắc Hoà Câu Duy Xuyên ; Đăng Nghĩa Xá Tứ Kỳ ; Đình ở Quỳnh Lôi Quỳnh Lưu; Điều Xuân ở Nam Đường ; Đình ở Đại Cát Từ Liêm ; Địch ở Tiên Yên Yên Khánh ; Đỗ ở Hoàng Tranh Phủ Cừ; Đôn ở Thành Công Quảng Điền ; Đức ở Hoành Sơn Thanh Chương ; Gia ở Vĩnh Xương Phong Điền ; Hà ở Phong Điền Thừa Thiên ; Hán Kim Lũ Thanh Trì ; Hàn ở Lệ Thuỷ Quảng Bình ; Hàm ở Sùng Ái Bình Chánh ; Hậu ở Thái Bình Vĩnh Bình ; Hiếu Yên Thái Phú Xuyên ; Trọng Năng An Mộ Đức ; Hoài ở Tân Hoá Kiến Hoà ; Hoàng ở Hoành Mại Quỳnh Lưu; Hằng ở Vĩnh Lộc Thanh Hoá; Huy ở Mỗ Đoàn Tứ Kỳ;Hữu ở Hồng Đạo Hoàng Hoá; Hy ở Mỹ Xuyên Duy Xuyên ; Kim ở Nhân Mục Thanh Trì ; Khánh ở Hậu Xá Hà Đông ;Khắc ở Linh Hạ Tiên Lữ; Khiêm ở Tân Uyên Biên Hoà ; Khoa ở An Cựu Hương Thuỷ ; Lương ở Hành Thiện Nam Định ; Mậu ở Đông Ngàn Từ Liêm ; Mại ở Ân Thi Hưng Yên ; v.v...

2- Nội dung nghiên cứu :

2.1 Khái niệm , định nghĩa so sánh đình -chùa- miếu- đến với nhà thờ họ khác nhau thế nào ?:

Phan Kế Bính trong cuốn Việt nam phong tục , Nhà xuất bản văn hoá Thông tin Hà nội , 2001 . Thiên thứ nhất Nói về phong tục trong gia tộc trang 20 đề cập về thân tộc ( danh hiệu , luân thường ,tình thân sơ ) . Trang Phụng sự tổ tôn ( nhà thờ , đồ thờ , gia phả , ruộng kỵ , tế thuỷ tổ , cúng vái gia tiên , Đây là cuốn sách quý đã được lưu truyền từ đầu thế kỷ. Theo Phan Kế Bính thì Nhà thờ : Bao nhiêu con cháu dòng dõi trong một họ lập chung một nhà thờ Thuỷ tổ , gọi là Mỗ tộc ( Trần tộc , Nguyễn tộc , v.v.. ) từ đường . Nhà thờ ấy chỉ thờ riêng một Thuỷ tổ và khi tế tệ thì lấy các Tổ tôn biệt chi biệt phái mà phối hưởng . Có họ thì làm nhà thờ để cho chi trưởng nam đời đời giữ hương hoả , chi trưởng tuyệt thì mới truyền sang chi thứ .
Nhà thường dân không có nhà thờ riêng , thì thờ tại nhà mình ở. Dẫu nghèo thế nào cũng có một bàn thờ . Phan Kế bình trình bày dễ hiểu nhưng có hệ thống : đồ thờ , gia phả , ruộng kỵ, tế thuỷ tổ , cũng vái gia tiên .
Theo nhóm tác giả do Nguyễn Quang Hồng chủ biên trong cuốn Văn khắc Hán Nôm Việt nam Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà nội năm 1992 trang 19 đã khái quát : Đình : đây là nơi sinh hoạt công cộng của làng xã nước ta thời xưa, là nơi làm việc của chức dịch địa phương, và cũng là nơi thờ Thành hoàng của mỗi làng .ở nước ta đình làng có mặt ở các tỉnh miền Bắc , nhất là đồng bằng Bắc bộ. Các tỉnh miền Trung và miền Nam từ Quảng Bình trở vào , hầu như vắng bóng các mái đình làng cổ kính .
Còn Hội quán của người Hoa ở Hà Nội , Hải Phòng , Hội An ... cũng là nơi tụ hội đồng hương , thờ cúng tiên hiền ( cũng có nhiều bia đá, hoành phi , câu đối ... ).
Chùa là nơi thờ Phật , nơi trụ trì của các tín đồ Phật giáo tín ngưỡng phổ biến nhất ở nông thôn nước ta.
Đền Miếu : Nơi thờ phụng những vị thần trong huyền thoại các nhân vật lịch sử được thần thánh hoá và cả nhuững ân nhân được tôn sùng hoặc dân thường " sống khôn chết thiêng " để lại sự tín ngưỡng trong dân gian .
Đạo Quán : Nơi các tín đồ Đạo giáo thờ các vị thần tiên ( bia , chuông , khánh , biểu : sự tích , sự linh thiêng của Thánh , Thần , lòng tôn sùng của dân chúng .
Từ Đường - Lăng Mộ : đây là nơi lưu giữ kỷ niệm và thờ phụng những người đã khuất , song chủ yếu là trong nội bộ một gia tộc , một dòng họ... ( Nó có bia , hoành phi câu đối nói về công nghiệp tổ tiên , khắc ghi gia phả dòng họ , biểu dương truyền thống cha ông, dặn dò răn dạy con cháu . Có cả ngoài họ , bè bạn , ân nhân, học trò tiên cũng.
Văn Chỉ Vũ Chỉ : Nơi ghi công danh những người được đào tạo đỗ đạt về ngạch văn ( văn chỉ ) và ngạch vũ ( Vũ chỉ ) ; biểu dương Nho học và ý chí lập công danh sự nghiệp ( Nó có văn bia , biển gỗ , hoành phi , câu đối do Hôi văn địa phương soạn . Tại Trung ương Văn miếu Hà nội ( xây năm1442 Đại bảo Nhà Lê ) và Văn miếu Huế xây dựng năm 1831 Minh Mạng nhà Nguyễn ).

Theo Tạp chí Xưa và Nay Xuân Quý Mùi 2003 trang 85 có bài Hội quán Nghĩa An của Thuý Phương . Bài này như sau : Hội quán Nghĩa An toạ lạc số 678 đường Nguyễn Trãi , quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh , còn có tên gọi Chùa Ông . Hội quán do những người Triều Châu góp công xây dựng cách đây khoảng 150 năm và đã qua 4 lần trùng tu (1866,1901,1969 và 1984). Theo Tác giả Thuý Phương thì Hội quán có vai trò tổ chức là một tổ chức xã hội tương tự như Hôị đồng hương của người Việt nam . Hội quán còn có chức năng thờ tự tín ngưỡng đáp ứng nhu cầu tâm linh của cả cộng đồng .Trong buổi đầu là nơi đón tiếp những người Triều Châu mới nhập cư mà còn thờ các thần thánh mà họ tin rằng sẽ phù hộ mình nơi vùng đất mới .Đối tượng thờ chính ở Hội quán Nghĩa An là Quan Thánh đề quân , Tổ tiên người Triều Châu ở Thành phố Hồ Chí Minh ; như muốn nhắc nhở thế hệ sau sống sao cho xứng đáng với vị thánh mình tôn thờ , công minh, chính trực , dũng cảm , thuỷ chung , cao thượng , trọng chữ tín , danh dự và nhân nghĩa . Người Triều Châu còn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu , Thần Tài .Nó vừa thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng vừa thể hiện mong muốn phát tài . Theo Tuý Phương thì Hội quán lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống của người Triều Châu trong kiến trúc , trang trí , hệ thống thờ tự . Đó là kỹ thuật chạm khắc gỗ, kỹ thuật làm tượng , kỹ thuật xây dựng . Có nhiều hoành phi câu đối có nội dung giáo dục thế hệ sau . Lễ hội thì có múa lân , hát Tiều , hát Hầu (Hồ) quảng, Hội quán là nơi tập hợp sức mạnh cộng đồng , bày tỏ tinh thần yêu thơng , đùm bọc , nhường cơm xẻ áo giữa cộng đồng người Hoa , nó đã đóng góp vào hoạt động phúc lợi xã hội : xây nhà tình nghĩa , tình thương , ủng hộ đồng bào bị thiên tai , lũ lụt , cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học , bảo trợ cho Cô nhi viện , viện dưỡng lão , hội thể thao , hội lân, . Theo Thuý Phương thì Hội quán nó tác dụng tạo sự đoàn kết , tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên cùng tồn tại và phát triển ( trang 85 Tạp chí Xưa nay số Xuân Quý Mùi 2003) .

Ngày mồng 2 Tết Quý Mùi ( 2003 ) , trên đường về quê lễ Tết mẹ tôi trên 90 tuổi , ra Hà nội , tôi có dến Chùa Dâu để lễ Phật . Tại chùa tôi có mua đựoc cuốn sách " Chùa Dâu " Bản giới thiệu hướng dẫn du lịch . Sách bìa vàng có 20 trang . Cuối sách có ghi Tài liệu tham khảo thuyết minh : Bắc Ninh ngàn năm văn hiến ( tập 1 ) ; Lĩnh Nam chích quái , Thiền uyển tập anh , Chuyện kể dân gian . Sách in khổ nhỏ 10 cm x 16 cm .Sách in giấy trắng . Rất tiếc không có tên tác giả biên soạn sách này . Hai người bán sách nữ khoảng 46 nam khoảng trên 50 tuổi.
Nội dung giới thiệu chùa Dâu như sau : Chùa Dâu thuộc xã Thanh Khương , huyện Thuận Thành , tỉnh Bắc Ninh , xưa thuộc Tổng Khương , huyện Luy Lâu , quận Giao Chỉ và sau còn gọi là huyện Siêu Loại . Xa xa người dân ở đây thường sống bằng nghề trồng dâu , nuôi tằm và cấy lúa nước . Và có lẽ chính vì vậy mà dân gian , xa vẫn thường gọi vùng Dâu , hoặc kẻ Dâu . Năm 207 trước công nguyên , Triệu Đà ( Tàu ) mang quân sang xâm lược nước ta , lấy Giao Châu , làm thị sở - Luy Lâu thành trung tâm đô thị. Khoảng đầu công nguyên một số nhà sư tử Ấn Độ đi theo đường biển vào Luy Lâu để truyền đạo . Chùa Dâu thành một trung tâm truyền đạo đầu tiên. Và cũng từ đây đạo Phật được truyền sang Lạc Dương , Bành Thành ( Tàu ) và một số nơi . Với ý nghĩa là một trung tâm Phật giáo nên đây đã đào tạo được hàng chục bảo tháp ( sau khi đó Tàu mới có Phật ) có các vị cao tăng nổi tiếng đã đến đây trụ trì như Mâu Bát , Ti ni da lu chi, Khăng Tăng hội, Chi Y cương nương ,Pháp Hiền . Khoảng đầu công nguyên chùa Dâu chỉ là một cái am nhỏ , sau phát triển lên thành một ngôi chùa , tên gọi đầu tiên là Cô Châu Tự ( Viên ngọc quý ). đến thế kỷ thứ 2 sau công nguyên ( khoảng ( 187-226 ) thời Sĩ Nhiếp ) hệ pháp được ra đời chùa Dâu thời bà Pháp Vân nên gọi là Pháp Vân Tự . Rồi tiếp đến năm 1313 là đợt hưng công lớn nhất . Vua Trần Nhân Tông đã sai Trạng nguyên Mạc đĩnh Chi cho xây lên chùa to cảnh lớn như ngày nay . Đó là một ngôi chùa làm theo kiểu nội công ngoại quốc - chùa trăm gian , tháp chín tầng , cầu chín nhịp , mà bao đời nay khách từ muôn phương vẫn thường về đây chiêm ngưỡng . Các đời vua của các Triều đại xa xa cũng đã từng về chùa Dâu để rước tượng Pháp Vân về chùa Bảo Thiên ( Hà Nội ) để cầu đảo ( tức là cầu ma , cầu gió ) vua Lý Thánh Tông cũng đã về chùa Dâu để cầu tự và đã đi thuyền trên sông Dâu , gặp Nguyên Phi Ỷ Lan . Chùa Dâu được coi là nơi rất thiêng nên được gọi là Diên Ứng Tự ( Diên là cầu , ứng là hiện , cầu gì được nấy ). Hội chùa Dâu đã thành lịch hội trong dân gian : Mồng bảy hội Khám , mồng tám hội Dâu , mồng chín đâu đâu , cũng về hội Gióng . Hội Dâu đã trở thành tiếng gọi tâm linh người Việt : Dù ai đi đâu về đâu ; Hế trông thấy tháo chùa Dâu thì về ; Dù ai buôn bán trăm nghề ; tháng tư , ngày tám nhớ về hội Dâu . Cũng như chùa khác , ngoài phần thờ cúng những sự tích riêng , chùa Dâu cũng có những phần thờ cũng chung nhất theo như quy định của đạo Phật .Thờ ở ban thờ trước nhất phải là Tam Bảo . Tam bảo là nơi quan trọng nhất , có ý nghĩa thiêng liêng nhất . Đó là nơi thờ Thích Ca Mâu Ni , thờ toà Cửu Long , thờ Tam Thanh , Tam thế , thờ đức Phật A Di đà . Nơi mà mọi chúng sinh hướng về cõi Niết Bàn và đó là nơi các vị tăng ni thường xuyên sớm tối tụng kinh , thỉnh chuông , gõ mõ . Đối xứng hai bên tam bảo thường là các vị thập điện ( 10 ông vua dưới âm phủ ) , hai ông Hộ Pháp , bát bộ Kim cương , Tồi lan toả ra vòng ngoài , ở dãy hành lang , hậu đường là các vị thập bát la hán , Đức Thánh Hiền , Phật bà quan âm , Đức ông và ở nhà thờ Tổ thờ Thánh Mẫu ... Mỗi một pho tượng đều có tên gọi và có ý nghĩa lịch sử riêng. Chùa Dâu có mặt bằng có thể kể tên như sau : Cổng tam quan ( nay chưa xây lại được ) , Tiên thất , Thập hoà phong , Giang ống muống- Tam bảo , tiên đường , thượng điện , điện hạ, hai dãy hành lang, cổng trong , cổng ngoài ,; nhà tổ , khu mộ sư tổ , Bếp + công trình phụ, dãy tăng phòng . Chùa Dâu có các tượng Phật sau đây : Trong tháp có bốn ông Tứ Trần , Trong tiền đường có Bát bộ kim cương và hai ông Hộ Pháp ; Gian ống muống - Tam Bảo có nơi thờ thích ca , Tam Thanh , Tam thế , Adiđà, Thập điện, ; Gian Thượng điện có tượng : Pháp Cũ, Ngọc nữ, Kim đồng, Chúa đỏ, Chúa trắng , sư tổ, sư tổ Tuỳ Ni Đà Lu chi , Pháp Vân , các chư vị bổ tát , Hai dãy hành lang : Thập bát La hán , bia hậu ; Dãy : Đức ông, Thánh mẫu , Phật bà quan âm , Tam thế , Tam tôn, Nam tào , bắc đẩu, Thánh hiền, Đức diệm nhiên , Bà la sát .

Ngày 6 tháng 1 năm 2003 tôi có cùng gia đình đến chùa An Quốc - Bích Câu ( phố Cát Linh ) để nhờ thầy Đàm Phùng làm khoá Lễ dâng sao giải hạn . Tôi đã đến thăm Bích câu đạo quán .Tôi xin đợc cuốn Lễ hội Bích câu đạo quán daỳ 11 trang cuốn sách có phần thứ nhất viết về Bích câu đạo quán của Hoàng Giáp Viện Hán Nôm trích trong cuốn : " Di tích lịch sử văn hoá Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Lê Thị Bạch Vân Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội biên soạn phần Hội bích câu đạo quán theo cuốn " Lễ hội Thang Long , xuất bản năm 2000 . , sách khổ 14,5 x 20,5 cm . Theo cuốn sách này thì Bích câu đạo quán toạ lạc tại nhà số 14 , phố Cát linh , quận Đống đa Hà nội., trớc đây thuộc thôn An trạch , huyện Vĩnh Thuận , phủ Phụng Thiên . Quán lập nên để thờ chân nhân Trần Tú Uyên tự là Ưu Ban . Quán kiến trúc theo kiểu chữ đinh gồm ba gian Bái đường làm chồng diêm tám mái hai tầng như một vọng lâu . Trong là Hậu cung thờ dọc , có đặt tranh thờ gia đình chân nhân đang cỡi hạc bay về trời . Bên cạnh là An Quốc thờ đức Phật Quan Âm . Về việc xây dựng chùa quán Bích Câu gắn liền chùa với các truyền thuyết linh dị . Bích câu đất phật linh thiêng . Bích Câu là tên một ngòi nước trong xanh như ngọc bích . Ngòi chảy từ núi Nùng xuống Thủ Lệ rồi đổ vào bờ Tảo Liên thuộc thôn An Ninh , tổng An Thành , huyện Vĩnh Thuận . Tên Phường Bích Câu được đặt tên ngòi nước thơ mộng ấy. -. Hồ Tảo Liên là hồ nước mênh mông trong suốt. Hồ sản sinh một loại hoa sen trắng nở vào đầu hè , trước khi các hoa sen khác nở nên hồ có tên Tảo Liên ( hoa sen nở sớm ) . Vùng hồ này chính là đầu nguồn của sông Kim ngư Giữa hồ Tảo Liên có gò Kim Quy rộng mấy trợng trông như bồng lai tiên cảnh . Lý Thái Tổ cho xây ngôi chùa trên gò gọi là chùa Đắc quốc , sau Lê Thánh Tông đổi là chùa An quốc . Việc tu luyện thành tiên của Trần Tú Uyên đã được các sách Truyền kỳ tân phả , Bích câu kỳ ngộ, Thang long cổ tích khảo nói khá rõ. Các sách đều khẳng định Tú Uyên là một nhà nho nghèo không tin quỷ thần . Sau đó gặp Giáng Kiều mà bỏ Nho theo Đạo , ra sức tu luyện nên đã thoát tục , ban ngày thành tiên bay lên trời . Thời gian tu thành đạo quá của Tú Uyên là ngày mồng 4 tháng 2 những năm đầu thời Hồng Đức , ngày sinh 12 tháng 8 . Dân mở hội lễ linh đình . Bích Câu đạo quán là một di tích của đạo giáo Việt Nam , thần tượng ở quán không phải tam thanh , Tứ ngự , không phải huyền thiên hay Văn xương mà là Trần Tú Uyên một chân nhân người Việt do ham mê đạo , tu đạo , đắc đạo thành tiên.

Theo Lê Thị Bích Vân thì Hội Bích câu đạo quán thờ : Đức tiên ông Trần Tú Uyên , địa điểm 14 Phố Cát Linh Đống đa , Hà nội . Thời gian Lễ Hội từ 4 tháng 2 đến 12 tháng 5 chính hội 12 tháng 5 ( có lẽ Âm lịch NVH ? ) đặc Hội có Lễ đảo bút . Ngày xa có tổng diện tích 4.850 m2 . Hội Bích câu có trò thi hoa thuỷ tiên , chọi gà , cờ người , thổi xôi , thi chuối đẹp , hát ca trù , tế lễ thường niên hai lần một năm. Linh đình nhất là đêm 11 rạng ngày 12 tháng 8 việc làng và kỷ niệm ngày sinh của đức tiên ông. Lễ sự là xôi , oản , quả . đặc biệt có tổ chức trọng lễ phụng bút ( đảo bút ) 3 ngày liền trong các kỳ hội để xướng thơ . Lệ phụng có 3 người : Một người cầm bút hạc ( giống mỏ con hạc ) linh ứng giáng bút ( quan trọng nhất ) , một người ghi chép . Vì thế , người biết chữ nho sẽ được dự tuyển và họ phải chay tịnh , tắm rửa sạch sẽ từ hôm trước - trang phục quần áo the , ngoài khoán áo thụng nâu , đầu đội khăn , ngồi trên sập trước bàn thờ ngàu . Đầu tiên thắp 3 nén hương rồi lấy khăn đỏ phủ mặt . Nếu ngài linh ứng thì sẽ tung khăn và viết trên một một mâm đồng rải cát , cát phải đựơc rửa sạch , sàng lọc nhiều lần , phơi khô để chuyên dùng cho lễ này . Sau này ngồi quen , không cần khăn phủ điện , mâm cát mà viết bằng chữ bóng. Viết đến đâu người ngồi bên cạnh đọc đến đó. Nếu viết không đúng chữ , người chuyên đọc sẽ gõ bít vài cái để nhắc viết lại . Nếu 2, 3 lần không được ( ngàu không ứng ) thì người đó sẽ phải ra , để thay người khác vào cho đến lúc đạt mới được . Nhiều khi phái thay 6,7 lần mới được một người . Khi ngàu ứng , vai và tay trái thấy nặng và tay phải bắt đầu viết một cách vô thức ( ? ) Nhiều khi ngàu nhập có thể ngồi cả đêm để viết chữ . Rồi ngài cho chữ bằng thơ. Lê Thị Bach Vân ghi lại lời của ông Nguyễn Hữu Nghĩa con trai cả Cụ Nguyễn Lưu Hoa - Nguyên chủ từ đình Bích Câu từ năm 1960-1967 : Nếu ngưòi có xuất khẩu thành chương , cũng chưa có thể sáng tác thơ nhanh và nhiều như vậy. Tiếc rằng đến nay , lễ phụng bút gần như đã mất. Khoảng năm 1956-57 Bộ Văn hoá Ba Lan sangViệt Nam , họ đã xin và được tặng thơ . Nay còn giữ lại bài thơ này . Theo cô Lê Thị Bích Vân thì nên khôi phục lại lễ lạ và hiếm nay này .

Theo Hà Văn Tấn ( Chữ trên đá chữ trên đồng - Minh văn và lịch sử , Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 2002) , Trong thơ Trương Hán Siêu và biết được lệ phong Thành hoàng thời Lý , Trần . ( Tr.6 ). Việt nam có hai vạn bản rập bi ký Việt nam hiện lưu trữ ở Thư viện Khoa học Trung Ương ( Tr.145 ). trang 181 Hà Văn Tấn cho rằng : Từ Thành Hoàng có nguồn gốc Trung quốc . Có nhiều học giả cho rằng từ thành hoàng bắt nguồn từ câu của kinh dịch : " Thành phục vu hoàng " ( Thành đổ thì trở nên hào ) ( Lễ ký ). Thành hoàng là thần của thành trì , từ trung ương đến địa phương . Thành hoàng bảo vệ bộ máy quan liêu và cư dân ở trong thành . Bên ngoài thành trấn , người ta không thờ thành hoàng. ( trang 182 ).Nhưng Việt Nam còn có một loại thành hoàng làng xã , không giống chút nào với thành hoàng Trung quốc . Đó là thần làng xã . Thành hoàng làng là dòng chủ thể phản ảnh bản chất tư duy tôn giáo tín ngưỡng Việt nam ( 183 ). Theo Hà Văn Tấn đã có sắc phong được khắc trên bia của Trần Anh Tông ngày 22-7-1312 ).

Trong cuốn Hà Nội những vấn đề ngôn ngữ văn hoá của Hội Ngôn ngữ Hà Nội , trang 280 có bài Ngô Sách Tuân Danh nhân văn hoá cuối thế kỷ 17 , thành hoàng làng Quỳnh Lôi , Hà Nội của Nguyễn Thị Hoài Nhân (Trường đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội) . Tác giả đề cấp đến các nội dung : Về văn bia ở đình làng Quỳnh Lôi quận Hai Bà Trưng Hà Nội , Ngô Sách Tuân - Thành hoàng làng Quỳnh Lôi , một danh nhân văn hoá cuối thế kỷ 17 , làng Tam Sơn tiến sĩ - quê hương của Ngô Sách Tuân ( trang 283 ) Dòng họ Ngô Sách ở làng Tam Sơn tiến sĩ : Theo gia phả họ Ngô Nguyễn , ông tổ đời thứ 5 của Ngô Sách Tuân là Nguyễn Gia Mưu , người ở xã Nghĩa lập cùng huyện , đựoc chú ruột là Nguyễn Hữu Thường ( đỗ tiến sĩ triều Mạc Cảnh Lịch năm thứ 3 ( 1550 ) chu cấp để học quan Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu ở xã Tam Sơn . Theo Nguyễn Ngô phả lục , đương thời Nguyễn Gia Mưu dù đi học muộn nhưng thông minh học giỏi , đỗ tiến sĩ năm 1559. là Đốc trấn Cao Bằng dẹp yên đảng Hợp Mạc .

Văn bia làng Quỳnh Lôi do thám hoa Vũ Thạnh thay mặt nhân dân ấp nên là nhằm ghi nhớ công lao của tướng Ngô Thai , huý là Sách Tuân ( Ngô Sách Tuân ) Ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Bính Thìn . Ông đã từng làm Đốc trấn Cao Bằng và Thái nguyễn Nguyên quản công Bộ hữu thị o lang , là nhân vật thứ nhất ở Tam Sơn Đông Ngàn ( Bắc Ninh ) nước ta thời đó , Ngô Sách Tuân là một vị quan đứng đầu trong hàng quan giúp nhà vua . Văn bia ghi : "... vì việc kính tôn thờ vị tướng họ Ngô nổi tiếng một thời phối sánh thần linh mãi mãi , Ông nổi danh hiền sỹ, cầm binh nhưng phát huy tổng lực , thắng thu ngàn dặm , vâng theo chiếu chỉ nhà vua để đi sứ được bổng lộc vinh hoa thăng cấp . Từ khi ông đến ấp ta , đựoc dân tin yêu , ông không vì quyền cao chức trọng mà tự ý buông thả , không vì quyền thế mà tự kiêu căng . ông răn dạy hàng ngũ quan lại nô bộc , không một ai làm điều cướp bóc xâm chiếm của dân . ông đem bổng lộc cấp phát cho những người túng thiếu xung quanh .

Ngày 25 tháng Chạp Tết quý Mùi (2003 ) tôi laị viếng thăm đền Kiếp Bạc. Kiếp Bạc thuộc địa phận xã Hưng Đạo , huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương . Thời Trần thuộc về hướng Vạn Kiếp lộ Lạng Giáng . Ngày 5-9-1300 Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn qua đời . Vua Trần đã cho lập đền thờ gọi là Sinh Từ , vua Trần Thánh Tông cho lập bia gọi là sinh bi để ca ngợi công đức của Trần Hưng Đạo. Sau khi ông mất , triều đình phong tặng là Thái sư Thượng phụ quốc công Tiết chế Nhân võ Hưng Đạo Vương . Nhân dân đương thời đã lập đền thờ ông trên nền Vương phủ , gọi là đền Kiếp Bạc . đền Kiếp bạc xây dựng trên khu đất bằng trung tâm thung lũng dãy núi Rồng . Qua nhiều thế kỷ , do nắng mưa và chiến tranh các công trình kiến trúc đời Trần thời Lê đã bị huỷ hoại . Công trình hiện tại là trùng tu vào thế kỷ 19 và 20 .

Tam quan như một bức cuốn thư "Lưỡng Long triều nhật ". trong bề thế hoành tráng. Mặt trước tam quan có hai hàng chữ lớn , hàng trên : " Giữ Thiên vô cực ( sự nghiệp sống mãi với đất trờì ) , Hàng dưới : " Trần Hưng đạo Vương từ " ( Đền Trần Hưng Đạo ) .Dọc hai bên trụ là đôi câu đối :

" Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khí ,
Lục đầu vô thuỷ bất thu thanh "

Ban quản lý di tích Côn sơn Kiếp bạc dịch là :

Vạn kiếp kiếm lồng hình kiếm dựng
Lục đầu vang dậy tiếng quân reo .

Mặt sau tam quan có một hàng chữ lớn: " Vạn cổ thử giang sơn " (non nước ấy ngàn thu). Bên trong tam quan là sân đền lát đá xanh mở ra một không gian thoáng đạt. Giữa sân có nhà Bạc là nơi lễ trình trước khi vào đền chính.Hai bên sân có hữu Thành các và giải vũ là nơi soạn lễ . Giữa sân có giếng Rồng quanh năm nước đầy trong vắt ( nay chăng lưới không múc được nước NVH ) , tương truyền giếng nước thiêng đã tiếp sức cho gia tướng thuỷ chiến Yết Kiêu mỗi khi ra trận có thêm tài trí và dũng mãnh.đền chính có tiền tế , trung từ, hậu cung , kiến trúc đao trồng ống muống theo kiểu chữ Đinh ( ) . Tiền Tế là nơi khách tiến lễ trình . Tiếp đến trung từ có thờ 4 cỗ ngai và baì vị về 4 người con trai của Trần Hưng đạo là Trần Quôc Hiến , Trần Quốc Nghiễn ,Trần Quốc Tảng , Trần Quốc Uy và ban thờ Phạm Ngũ Lão . Thượng điện ( còn gọi là Hậu cung ) có 4 ban thờ : Đức Thánh Trần Hưng Đạo , Nguyễn từ quốc mẫu Thiên Thành công chúa ( phu nhân- vợ THĐ) , đệ nhất khâm từ hoàng thái hậu Quyên Thanh công ( có lẽ là chữ quận ? NVH ) chúa (con gái thứ nhất , vợ Trần Nhân Tông) và đệ nhị nữ đại hoàng Anh Nguyên quận chúa (con gái thứ hai , vợ Phạm ngũ Lão) . Các tượng đồng đặt trong khám lớn sơn son thiếp vàng , chạm long ly quy phượng và tùng cúc trúc mai mềm mại biến hoá sinh động .Tại đền còn có nhiều đồ thờ , hoành phi câu đối đại tự, long xa , bát biểu, sắc phong của các triều đại .Từ lâu , ngày mất của Trần Hưng Đạo đã trở thành ngày hội lớn của dân tộc . Hàng năm , Hội mở từ ngày 15 đến 20 tháng 8 âm lịch . Trong những ngày này nhân dân thập phương về đây đông vui tới hàng chục vạn người . Kiếp bạc là nơi " quốc tế " của Việt Nam . Đền này đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia và đã thành lập Ban quản lý di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc .(1994 ) Nhà nước luôn đầu tư nhiều kinh phí cùng với sự công đức của nhân dân : 1972 đắp đê chống úng, 1979 xây dựng nhà trưng bày trùng tu Trung Từ . Năm 1974 đến 1976 một loạt công trình đã đựoc hoàn thành : Đường điện 35 kv , Trạm bơm điện chống úng , 36 Gian Giải Vũ , Trùng tu Thượng điện và 2 nhà Thành các như vậy đền Kiếp Bạc là một khu di tích mịch sữ - Văn Hoá và Thắng Cảnh qúy báu của dân tộc .Tìm hiểu nhựng chiến công oanh liệt chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc và cũng gíúp con cháu hiểu được nhân cách đức độ của Trần Hưng Đạo - vị anh hùng dân tộc của tổ quốc ta.

Đào Duy Anh trong cuốn Việt nam Văn hoá sử cương , Nhà xuất bản văn hoá thông tin Hà nội , in lại 2002 , theo sách in 1938 tại trang 117-138 ông viết về các vấn đề như Gia tộc ( thân thích , tự cáo tổ đến viên tổ là cửu tôn, gia trưởng và tộc trưởng , hương hoả , cải tạo gia tộc , trang 241 ông viết về những tế tự ở gia tộc , tế tự trong dân gian .
Đào Duy Anh có nhận xét : về Gia tộc Thế kỷ 3 và 2 trước công nguyên nước ta vẫn theo mẫu hệ ( theo L.Filot ) và vẫn có tục gái hoá phải tái giá với anh em chồng . Tàu hoá nên dần mẫu hệ thành gia tộc phụ quyền. Những ngày lễ tết thảy đều tựu tập tự đường để cho người sống tế tự. ( trang 118 ). Cao nhất Gia tộc là Thuỷ tổ . ( trang 118 ). Ông nhận xét ở Nam bộ thì tộc trưởng lại là người lớn tuổi hoặc có đức vọng hơn hết trong họ , chứ không theo nguyên tắc đích trưởng như ở Bắc bộ và Trung bộ .
Tại trang 248 Đào Duy Anh viết về tế tự ở hương thôn ; có sự thờ Thần Thánh hoàng , thờ thổ địa và thờ Phật . Làng nào cũng có một cái nhà chung vừa là nơi thờ thần , vừa là nơi tụ hội của dân . Đối với dân làng , thần Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử , phong tục , đạo đức , pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng , lại cùng một thứ quyền uy siêu việt , một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ. Đình thường có một toà nhà hình chức tê hoa (T) , có thờ Thổ địa , Hậu thần . Thiên thân tinh Tản Viên , thần Phù Đổng , thần Chử Đồng Tử , có khi nhân thần như Tưng Trắc , Trưng Nhị , Lý Ông Trọng
Ngô Sách Tuân là bậc danh nhân văn hoá Việt nam cuối thế kỷ 17 . Những đóng góp to lớn của ông trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước cũng như công đức to lớn cuả ông trong việc trị dân là tấm gương sáng chói đối với các thế hệ Việt nam sau ông . Ông xứng đáng là một trong những danh nhân văn hoá Việt nam có công trong việc xây dựng và phát triển các làng xã của Kinh đô Thăng Long , và chính ông đã góp phần tạo nên diện mạo văn hoá của Thủ đô .

Cuốn Phong tục cổ truyền Nhà xuất bản văn hoá thông tin , Hà nội 2002 , do Quỳnh Trang tuyển soạn . Cuốn sách này không có kèm theo tài liệu tham khảo , do vậy không biết dựa vào đâu mà đưa ra con số rất cụ thể : Bàn thờ tổ gồm hai lớp , lớp trong kê sát ngang tường hậu , gồm : chiếc rương hòm thật lớn cao khoảng 1 m , dài khoảng trên 2 m , rộng gần 2 m . ( trang 15 ).mâm , , mặt hình chữ nhật, một chiếc bề dài độ 8 tấc, bề rộng khoảng 6 tấc( tấc ta hay tấc Tây ? ). Tác giả Quỳnh Trang đã trình bày Tục thờ cúng trong gia đình gồm các phần : Nghi lễ cúng cáo gia tiên , lễ tạ, khấn gia tiên, chăm nom mộ tổ tiên , bàn thờ gia tiên ( bàn thờ tổ tiên , trang trí bàn thờ tổ ( bàn thờ tổ, chiếc y môn , đèn treo, thần chủ), Quỳnh Trang còn trình bày Gia phả , Hoành phi,Câu đối , Thờ bà cô ông mãnh : Thực tế , bà cô , ông mãnh chết ngoài ba năm cũng đợc thờ chung trên bàn thờ tổ tiên , nhưng vì còn nhỏ , không dám về hưởng lễ với các cụ trên một bàn thờ chung , cũng như trên trần thế , ngày giỗ tết , con trẻ không được ngồi chung , ngang hàng với người lớn. Vì vậy , bàn thờ bà cô, ông mãnh thường đợc đặt dưới gầm hương án của bàn thờ tổ tiên. ( trang 23 ).
Tân Việt trong cuốn Một trăm điều nên biết về phong tục Việt nam , Nhà xuất bản văn hoá dân tộc Hà nội -1997, đã trình bày phần III Đạo hiếu ( từ trang 80 đến 101 ) . Nó gồm nhiều vấn đề như " Đạo hiếu là gì ? Tại sao những năm gần đây có phong trào khôi phục việc họ ? (trang 90) , quan hệ giữa họ hàng và làng như thế nào ? ruộng hương hoả có ý nghĩa gì ? vai trò của tộc trưởng xưa và nay , bàn thờ vọng là gì ? cách lập bàn thờ vọng , hợp tự là gì ? tại sao phải hợp tự , Gia phả là gia bảo có đúng không ? sự gia phả hoàn chỉnh có những mục gì ?

Nhà thờ Họ là ngôi nhà chung của một Họ do trưởng tộc trực tiếp quản lý . Nếu trưởng tộc triệt thì thứ kế tiếp thay thế quản lý . Đời đời giữ hương khói cho dòng họ mình . Đây là một truyền thống tốt đẹp nhắc nhở moị người trong họ nhớ về Thuỷ tổ của mình . Người có thể xuất thân bần hàn. hoặc có thể xuất thân sang trọng . Nhà thờ họ là mái nhà chung của tất cả con cháu dù chính kiến có thể rất khác nhau . Nhưng "một giọt máu đào hơn ao nước lã", nên gắn bó mọi người lại và sẽ tránh đợc những hủ tục như Phan Kế Bính đã từng vạch ra thời thuộc Pháp : khinh ghét nhau về việc đóng góp việc họ , chê cỗ to cỗ nhỏ của ông trưởng họ .

2.2 Vị trí nhà thờ Họ trong văn hoá làng xã Việt nam ( Hà Nội nói riêng ):

Duy trì và phát triển nhà thờ họ là nét đẹp văn hoá Việt nam . Nó là thể hiện đạo đức : " Uống nước nhớ nguồn " . Đó là đạo Hiếu , đạo thờ tổ tiên đã có từ lâu đời của Việt nam .

2.3 Nghiên cứu các tác giả trước đã nghiên cứu vấn đề này :

Theo cuốn Hiếu kinh do Đoàn Trung Côn và Huyền Mặc Đạo Nhơn đồng dịch , Nhà xuất bản Đồng Nai 1996 thì đời Hán đã liệt nó vào quyển kinh thứ bảy sau Thi, Thư , Lễ , Nhạc , Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu . Khổng Tử cho rằng : " Lập thân hành đạo , dương danh hậu thế , hiếu chi chung giã . Phù , hiếu thuỷ sự thân , trung sự quân ,chung lập thân : lập mình làm đạo , nổi tiếng ở sau đời , nết hiếu của sự chót đó . Này , nết hiếu trước ở thờ đáng thân , giữa ở thờ vua , sau ở lập mình . . .
Sách Hiếu kinh cho rằng Hiếu vô chung thuỷ : từ vua đến thường dân ai cũng phaỉ noi theo . Sách này có câu Tận tâm kính dưỡng phụ mẫu : Hết lòng yêu kính và nuôi dưỡng cha mẹ . Phần Tang thân thấy có ghi tang bất quá tam niên, vi chi tông miếu dĩ quỷ hởng chi,.Xuân thu tế tự dĩ thì tự chi;.( cất miếu đường kính lễ linh hồn / Xuân thu cúng vái thường tôn ngụ lòng thờ mất như còn thường khi .Như vậy ngời Tàu có tục lập Tông miếu để thờ người thân. Khổng Tử chết năm 479 trớc Tây lịch , các đệ tử để tang trong lòng , ba năm mới đi , còn Tử Cống làm nhà ở trên ( hay bên ? ) , cả thảy sáu năm ? Nhự vậy nêu gương trò với Thầy . Nhưng trong cuốn Hiếu kinh này không nói đến thờ Thuỷ tổ của Họ đó .

Theo An Nam chí lược của Lê Tắc (viết năm 1333) in lần đầu tại Việt nam do Nhà xuất bản Thuận Hoá - Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ đông Tây 2002 thì : Nước An Nam xưa là đất Giao Chỉ .Người già đến năm mươi tuổi thì khỏi đi sưu dịch . Ngày 30 Tết " Dân gian thì mở cửa đốt pháo tre , cỗ bàn , trà rượu cúng tổ ." Cách để tang , nhà cửa , đồ dùng , hơi giống như Trung quốc .(trang 70-71-72).
Theo Phan Kế Bính trong cuốn Phong tục Việt nam in đầu thế kỷ 20 : thì Nhà thờ cần ghi rõ : Mỗ tộc. Một nhà thờ Thuỷ tổ ở gian giữa, ngoài ra còn thờ Thổ công , Táo quân , nghệ sĩ , Bà cô , ông mãnh .
Theo Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin 2002 có bàn đến Bàn thờ họ : Tất cả con cháu cùng một dòng họ lập chung bàn thờ vị Thuỷ tổ, gọi là từ đường của dòng họ .
Bàn thờ này có bài vị Thuỷ tổ dòng họ .Ngày xưa bài vị được ghi bằng chữ Hán .

2.4 Nhà thờ họ thờ Ai? :

Nhà thờ phải có " Một thần chủ " không bao giờ thay đổi . Nhà phú quý thờ Cao , tằng , tổ , khảo .Thần chủ bằng gỗ táo tượng trưng nghìn năm . Dài độ 1 thước ở giữa ghi tên họ , chức tước và hai bên ghi ngày tháng năm sinh tử. Có hộp vuông che kín và để trong long khám , khi nào cũng tế mới mở ra . Thờ cho gọn : Một bộ ỷ để thờ

2.5 Đồ thờ nhà thờ họ :

Nhà thờ họ thông thường cần có 1 bộ đèn nến , l hương , bình hoa, mâm quỳ , mâm bồng , có đài rượu , hộp trầu , đài nước .
Hoành biển khắc 3 bốn chữ đại tự , đôi liễn bên bàn thờ hoặc khảm trai hoặc sơn thiếp.
Nhà thờ Họ là nơi Ghi tụng công đức tổ tông
Như một lời nguyền , người Việt nam dù nghèo khổ đến chết đói cũng không bao giờ bán đồ thờ .
Gia phả của Họ : Ghi họ tên chức tước , ngày sinh tử mai táng ở đâu ? và người trong nhà . Gia phả để ở nhà thờ và các chi giữ bản sao .
Theo Đặng Chí Huyền : " Cơ sở ngữ văn Hán Nôm ( tập IV) Nhà xuất bản giáo dục 1987 , tác giả trình bày chương XII Gia phả . Tại trang 148-159 đã trình bày lý luận chung về gia phả và tác giả đưa ra vài ví dụ về gia phả ( Họ Ngô xã Côi Trì ( Yên Mô ) và Họ Hoàng ở Hoành Nha ( Giao Thuỷ ) . Gia phả ( Phổ ) hoặc tộc phả tông phả là lịch sử của một họ theo thứ tự từng đời ( phả : ghi chép ) . Vì thế trong tiếng Hán , người ta còn gọi là Phả đệ( đệ là thứ lớp ), hoặc Phả điệp ( điệp cũng có nghĩa gần như Phả : ghi chép ) . Phả hệ ( Hệ : Hệ thống đầu đuôi , thứ tự ) Phả lục ( Lục biên chép , sao lại ) hoặc Phả lục ( lục :biên chép , sao lại ) , hoặc Phả chí ( chí : ghi chép ) .
Theo Tác giả Đặng Chí Huyền thì Phần cuối của một cuốn gia phả. ghi tóm tắt sơ lợc về từng người ( nhất là ngày giỗ ) . Nội dung Gia phả gầm các phần sau đây : Nội dung , ý nghĩa của gia phả : thường được ghi trong bài tự ( tựa ) , do một người trong họ hoặc một người ngoài họ có tên tuổi viết .Mục đích ý nghĩa chủ yếu của gia phả là giáo dục cho con cháu hiểu rõ nguồn gốc của dòng họ mình , công lao của các đời trước để tu dưỡng , tiến bộ về mọi mặt , ngõ hầu làm rạng rỡ cho dòng họ mình . Một một đích khác thiết thực hơn , nhưng có khi không nói đến trong lời tựa là gia phả cho con cháu biết ngày mất của ông bà để nhớ cũng giỗ và vị trí của phần mộ ông bà để chăm sóc . Cũng theo tác giả này thì Họ Đặng ở Chương Mỹ ( Hà Đông ) cho biết họ đặng vốn là Họ Trần , con cháu Trần Quốc Tuấn .
2.6 Chức năng nhà thờ họ trong tiến trình hội nhập của Việt nam :

Phần chức năng nhà thờ họ :
Theo cá nhân tôi trong thời đaị hiện nay khi kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ nên Nhà thờ Họ , việc họ , giỗ họ , góp họ , công đức họ , khuyến học của Họ cũng đã khác ngày xưa rất nhiều . Qua nghiên cứu một số nhà thờ Họ như nhà Họ Nguyễn Sĩ ( Thanh Trì ) , Nguyễn Văn ( Bắc Ninh) , Nhà thờ Vũ Trí ( Chí Linh Hải Dương ), Nhà thờ Họ Đỗ Văn ( Thạch Sơn Phú Thọ ) thì tôi nhận thấy Nhà thờ Họ Chức năng chính có thể như sau :
- Gốc nhà thờ họ là để thờ thuỷ tổ họ mình hoặc thờ vọng về thuỷ tổ họ mình .nhưng nó có thể còn có các chức năng sau đây : Đây là chức năng gốc , bất di bất dịch không khác gì ngày xưa .
- Bảo tàng dòng họ: Tôi thấy có ghi Danh các Liệt sĩ chống Pháp , Chống Mỹ , Chống Polpot và chống Tàu .Hoặc lưu giữ Chứng chỉ của Đảng và Nhà nước những người làm to hoặc thành Danh của dòng họ mình .
- Nhà văn hoá : Nơi tổ chức nói truyện về truyền thống dòng Họ mình , những gương sáng , những nết tốt cần nêu gương cho toàn họ học tập , Nơi nêu gương học tập tốt và thành tích xuất sắc cần khuyến học .
- Hội trưòng: Nơi gặp gỡ để bàn việc Họ . Nếu tụ tập ở một nhà nào cũng rất chật chội . Có việc gì cần bàn kéo ra nhà thờ họ bàn việc riêng của họ là hợp lý . Có thể chi họp trưởng chi , hoặc chỉ họp hội đồng gia tộc hoặc họp toàn Họ này.

2.7 Để hiểu sâu hơn nữa mọi người có thể tham khảo Tìm hiểu một số nhà thờ Họ ở Hà Nội và chung quanh Hà Nội mà tôi đã sưu tầm đựoc địa chỉ như sau :

Tôi xin ghi Địa chỉ một số nhà thờ Họ :

1-Tổ nghề dệt thôn Xã Ỷ La , Từ Liêm Hà Nội 1776
2- Họ Nghiêm Cổ Dương , Đông Anh Hà Nội 1736
3- Nguyễn Quý Đức Đại Mỗ ,Từ Liêm Hà Nội 1721
4-Nguyễn , Đại mỗ , Từ Liêm , Hà Nội 1775
5- Nguyễn , thôn Xã Long , Đặng Xá Gia Lâm Hà Nội 1766
6- Đinh Xã Gia Cốc , Gia Lâm , Hà Nội 1664
7- Nguyễn Vĩ , Xã Gia Thuỵ Gia Lâm 1727
8- Trần Hạ Tốn Gia Lâm 9- Nguyễn Trọng Hợp Kim Lũ , Phọng Đình , Thanh Trì 1865
10- Nguyễn Huy Túc Kim Lũ , Thanh Trì Hà Nội 1789
11- Dơng Quang Phố Sinh Từ 1888
12- Nguyễn Hữu Độ Nguyễn Khuyến 1918
13- Ngô Thì Nhậm Tả Thanh Oai Thanh Trì 1743
14- Ngô Phụng Tiên Tả Thanh Oai 1795
15 Nguyễn Phố Thịnh Yên Hai Bà Trưng 1934
16- Đào Trung dich ụ Thanh Từ Liêm 1761
17- Hồ sĩ Dương Trung Mầu , Tiên Du Bắc Ninh
18 Nguyễn Thôn Yên Thị , Yên Thường , Từ Sơn Bắc Ninh 1766

2.8 Bước đầu tôi sưu tầm được một số câu đối ở Nhà thờ Họ :

Dưới đây xin ví dụ một số câu đối ở nhà thờ họ :

1- Có tổ có tông , tông tôt tôt tông , tông tổ cuc
Còn , non , còn nước , nước non non nước , nước non nhà

2- Tổ công tích đức tử tôn vinh
Thụ thảo phùng xuân chi diệp mậu

3- Tổ khảo tinh thần tại tử tôn Bản căn sắc thái hoa diệp

4- Thường thịnh thường yên , sự nghiệp chiếu thuỳ bỉnh bỉnh Tý xương tý xí , tử tôn vĩnh bảo tứ miên miên

5- Hữu khai tất tiên , minh đức giả viên hỹ Khắc xương quyết hậu , kế tự kỳ hoàng chi

6- Thuỷ lưu vạn phái tố tòng nguyên Mộc xuất thiên chi do hữu bản

7- Khói hương muôn thủơ làng nước ghi công Hiếu nghĩa nhiều đời cháu con hưởng phúc

8- Tử lý phấn hương y cựu nhi giang sơn tăng mỵ Tòng sơn cúc kính quy lai chi cảnh sức thiêm xuân

9- Nhớ trước tổ tiên gây dựng , kể công tân khổ biết là bao Đến nay con cháu đồi dào hưởng miếng trân cam còn đó mãi

10- Tổ tiên muôn thuở hiển linh , đời càng vững cây bên gôc Con cháu nhiều bề tiến bộ , ngày thẻm thắm lá tươi xanh

11- Tu bằng cảm cách tiền linh Dục cầu bảo an vu hậu duệ

12- Nhật nguyệt quang chiếu thập phương Tổ tông lưu thuỳ vạn tuế

13- Ái quốc mạc vong tổ Nhân dân tiên mục thân

14-Bách thế bản chi thừa cựu ấm Thiên thu hương hoả tráng tân cơ

15- Đức thừa tiên tổ thiên niên thịnh Phúc ấm nhi tôn bách thế vinh

16- Tộc tính quý tôn , vạn đại trường tồn danh kế thịnh Tổ đường linh bái , thiên niên hanừg tại đức lu quang

17- Lòng thành con cháu , năm năm nhớ ngày chiêm lễ Đức sáng tổ tông đời đời còn dấu anh linh

18- Đức tổ dài lâu muôn thuở thịnh Nếp nhà đầm ấm bốn mùa xuân

19- Muôn thuở nhớ : Nước nguồn cây cội Trăm năm lo: Đất nghĩa , trời kinh .

20- Nghĩa nhân tích tụ thiên niên thịnh Phúc đức tàI bồi vạn đại hanh

21- Gia phong hàm lạc tứ thời xuân Tổ đức vĩnh thuỳ thiên tải thịnh Trung hiếu trì gia viễn Đức nhân xử thế trờng

30- Cúc dục ân thâm đông hải đại Sinh thành nghĩa trọng thái sơn cao

31- Tài nhân khả tác quốc gia sự Hiếu tử năng an phụ mẫu tâm

32- Chín chữ cù lao đền nghĩa trớc Nghìn thu hơng hoả rạng nền cao

33- Bốn phơng hồ thỉ nam nhi trái Vạn lý thần hôn hiếu tử thân

34- Bách kế bất nh nhân đức thiện Thiên kim mạc nhợc tử tôn hiền

35- Hữu tác tiền tu kiêm xỷ đức Bất vong hậu thế cộng tôn thân

36- Bút thụ hữu hoa huynh đệ lạc Thư điền vô thuế tử tôn canh

37- Nền nhân nghĩa , phải vun trồng hậu ấm Nhà tư cơ nên gìn giữ thờng kinh

38- Biển rộng trời cao công ơn khôn kể xiết Cha sinh mẹ dỡng tình nghĩa biết là bao

39- Chồi lan quế toả hơng nông trớc cửa Gốc tử phần in sắc thắm trong phòng

Vấn đề câu đối hoành phi cho một nhà thờ Họ theo tôi là rất hệ trọng . Tâm lý của người bỏ tiền xây nhà thờ họ cứ muốn tất cả chữ trong nhà thờ phải là chữ Tàu . Có lẽ như vậy thì mới chứng tỏ Họ mình có từ lâu đời, nhà thờ họ của mình có từ lâu đời . Theo bà Phó giáo sư Tiến sỹ Đỗ Thị Hảo ( Viện Hán Nôm ) thì vừa qua bà cũng đã cho chữ Tàu ( Hoành phi , Câu đối - năm câu ) cho nhà thờ Họ ở Kim Thành Hải Dương của Nghệ sỹ Nhân dân Trọng Khôi ( anh vợ Nhà thơ Phạm Tiến Duật - Tổng biên Tập Tạp chí Diễn Dàn Văn Nghệ Việt Nam 51 Trần Hưng Đạo ).
Nhưng cũng từ những câu đối này có khi có những sai sót đáng tiếc , dưới đây tôi xin ví dụ một tôi câu đói mà tôi đã sưu tầm được ở Hà nội và nhiều tỉnh tôi đã sưu tầm Tôi có mua cuốn sách Phong tục cổ truyền ( Việt Nam ) Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin Hà nội, Quý IV năm 2002 , in 1000 cuốn khổ 13x19 cm . In Trường Trung học kỹ thuật in Giấy phép xuất bản số 553/XB-QLXB/10-VHTT , do Quỳnh Trang tuyển chọn . Sách này có 176 trang giá 29.000 đồng . , chịu trách nhiệm xuất bản Vũ An Chương , chịu trách nhiệm bản thảo Phạm Ngọc Luật , biên tập Nguyễn Bích Hằng , sửa bản in Ngọc Lan , Bìa Trung Dũng. Cuốn sách này là tuyển chọn , nhng cuối sách không có Mục lục những sách gì để tuyển soạn cuốn sách này. Do vậy những phân vân của độc giả không được giải quyết . Trong thư ngỏ này tôi chỉ nêu một ví dụ khi viết về Câu đối cho Bàn thờ gia tiên tác giả Quỳnh Trang tại trang 22 của cuốn sách này có có viết , ví như :

Tổ Tông công đức thiên nhiên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xung ( không phải Xương - TS Nguyễn Văn Hoa )

có nghĩa là :

Công đức tổ tông nghìn năm thịnh
Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay .

Đọc đôi câu đối này , tôi hơi ngờ ngợ . Tôi đến ngay Phố Hàng Quạt nơi bán nhiều câu đối loại này . Tại nhà số 5 Hàng Quạt thì bán đôi câu đối sơn son thiếp vàng :

Tổng tông công đức thiên niên thình
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương.

Tại số nhà 29 Hàng Quạt có bán đôi câu đối :

Tổ công tông đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh.

Tại số nhà 39 thì bán đôi câu đối :

Tổ công tông đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương

Tại số nhà 40 Hàng Quạt bán đôi câu đối :

Tổ tông công đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương.

Tại số nhà 48 Hàng quạt thì có bán đôi câu đối sơn son thiếp vàng ghi:

Tổ tông công đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương

Cũng tại cửa hàng 49 Hàng quạt này lại tồn tại một đôi câu đối khác :

Tổ công tông đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương

Tại trang 40 có bán đôi câu đối thêu vàng vải :

Tổ tông công đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương.

Nếu nhận xét kỹ , thì thấy :

1- Nhiều gia tộc mua câu đối loại trên về treo. Tôi thấy ý nghĩa của nó rất sâu sắc , có giá trị giáo dục rất cao.

2- Vì khắc bằng chữ Hán , nên ít người đọc được. Nên khi treo nó chỉ có chức năng trang trí .Người không biết chữ Hán thì thấy đẹp vì giả cổ kính .

Do vậy không phát hiện đựoc những sai sót khi mua hàng có kèm chữ Hán .

3- Cụ thể câu đối này có sai sót về trật tự về thứ nhất :

Tổ tông công đức thiên niên thịnh

theo cá nhân tôi có lẽ đúng thì phải là :

Tổ công tông đức thiên niên thịnh

Như vậy theo Luật làm câu đối thì mới cân bằng với vế dưới

Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương.

4- Tổ công tông đức thiên niên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương.

Như vậy câu đối này sẽ : Tổ đối với Tử , Tông đối với Tôn , Công đối với Hiếu , Đức đối với Hiền , Thiên đối với Vạn , Niên đối với Đại , Thịnh đối với Xương .
Như vậy ý đối ý , danh từ đối với danh từ , bằng trắc đối nhau cũng chuẩn

5- Vế thứ hai Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương

Người không biết chữ Hán Nôm thì không hiểu " Xương " có nghĩa gì ? Nên một chủ quán ở hàng Quạt có sáng kiến thay chữ Xương bằng chữ Vinh . Nhng tôi thấy cửa hàng này vẫn tồn tại hai loại câu đối vừa có chữ " Xương " ( có lẽ cho người biết Hán Nôm ? ) và loại câu đối có chữ " Vinh " ( có lẽ cho người ít biết Hán Nôm ) .

6- Cần xem lại chữ " Xưng " hay chữ "Xương" : Trong thư ngỏ này tôi chỉ nêu một ví dụ khi viết về Câu đối cho Bàn thờ gia tiên tác giả Quỳnh Trang tại trang 22 của cuốn sách này có có viết , ví như :

Tổ Tông công đức thiên nhiên thịnh
Tử hiếu tôn hiền vạn đại xưng .

có nghĩa là :

Công đức tổ tông nghìn năm thịnh
Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay .

Theo cá nhân tôi có lẽ chữ "xưng" nên thay bằng chữ "Xương ". Xng dịch là " Ngay " không biết đã ổn chưa ?

7- Tại sao tôi lại hiểu chữ " Xương " sâu sắc thế ? Bởi vì bố vợ tôi là Trần Vĩnh Xương . Tôi biết chắc chắn không phải là " Xương Thịt ", mà " Xương " nó ý nghĩa rất tốt đẹp .
Về các câu đối ở các nhà thờ họ theo tôi nên :

1- Giữ gìn bản sắc văn hoá đậm đà bản sắc văn hoá Việt nam là rất cần thiết . Thể hiện việc treo câu đối có nội dung hay như trên ở các gia đình và nhà thờ họ , rất đáng khuyến khích .
2- Cần thẩm định lại các sách in của nhà xuất bản Văn hoá Thông tin và các nhà xuất bản khác có liên quan đến sản phẩm văn hoá dài lâu .
3- Soát xét lại sách giáo khoa có liên quan đến Hán Nôm , để chuẩn hoá những nội dung Hán Nôm mà thợ thủ công có ý định thương mại hoá .
4- Nên "Dán Tem " những sản phẩm văn hoá tâm linh như Hoành phi , câu đối bằng Hán Nôm , để tránh những sai sót mà 50. 100 . 1000 năm sau con cháu chê cười chúng ta.

2.9 Về văn bia :

Bất cứ nhà thờ Họ nào cũng cần có một văn bia đặt ở nhà thờ Họ .
Kết cấu một văn bia gồm các phần sau đây:

Sơ lược lý lịch của Thuỷ tổ ngày tháng năm sinh tử , nêu nết tốt trong thành tích hoặc những thăng trầm trong lịch sử /thành tích
Nên có Cây gia phả từ thuỷ tổ đến hiện tại
Cần có lời nguyền toàn họ , ví dụ : "Xây nhà thờ họ nhằm :
Có nơi thờ cúng tổ tiên
Nơi ghi danh nêu gương sáng về văn /võ của họ ( Ví dụ từ thiếu tá trở nên , từ cử nhân trở lên )
Nơi hội họp bàn việc họ ví dụ : Lập quỹ khuyến học
Trong văn bia ( mặt thứ hai hoặc một chiếc bia thứ hai có Ghi công đức đóng góp của mọi người
Ngày tháng lập bia Ghi rõ ai viết văn bia .
Tôi xin đưa vào Phụ lục một số văn bia mà tôi đọc đựoc .

3- Về Gia phả :

Mỗi nhà thờ họ nên có lưu giữ Gia phả của Họ đó .
Tôi xin để vào Phụ lục một số Gia phả mà tôi sưu tầm được ( như Trần Vũ , Nguyễn ) để mọi người đọc thêm .

. 4. Phần kết luận Đề tài này :

Như trên tôi đã trình bày trí tuệ của các tác giả đi trước về thờ cũng tổ tiên của người Việt , vấn đề gia phả , vấn đề nhà thờ họ , vấn đề câu đối ... , dưới đây tôi xin có một số suy nghĩ thiển cận cá nhân nh sau :

1- Điều đáng mừng là Việt nam càng hội nhập kinh tế quốc tế ( hơn 4000 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với 50 van người trực tiếp ăn lương của nước ngoài , hàng năm tiếp nhận 2 tỷ USD tiền Kiều hối của 2 triệu Việt kiều , hàng năm tiếp nhận viện trợ của các chính phủ nước ngoài gần 2,5 tỷ USD , hàng năm có hàng triệu khách du lịch nước ngoài vào Việt nam , hàng năm có hàng vạn người Việt nam đi công tác , học tập , lao động ở nước ngoài ...) . Theo của tôi khuynh hướng phục hưng hoạt động các nhà thờ Họ là một khuynh hướng nên khích lệ . Theo Đào Duy Anh trước Công nguyên Việt nam cha có HỌ , như vậy Họ là ảnh hưởng của Tàu , nhưng đã đựoc Việt nam hoá . Nó thể hiện bản sắc văn hoá Việt nam , đồng thời nó thể hiện " tính tự vệ " của người Việt nam trước " cuộc xâm lăng mới " của kinh tế thị trường và mở cửa . Nó góp phần thức dậy tín tự tôn , lòng tự hào về dòng họ của mình. Qua đó nâng cao lòng yêu quê hương , dất nước Việt nam yêu quý .
2- Hà nội theo như Giáo sư Trần quốc Vượng là nơi Văn tài , võ tài và hội tục các bàn tay vàng , nên cũng tục hội các dòng họ " danh gia vọng tộc " của Việt nam. Nhưng trứơc sự biến đổi bể dâu của lịch sử nên Hà nội không có những nhà thờ Họ lớn , lâu đời ,mới nổi tiếng như những vùng quê . Ở Hà nội chỉ giữ đựơc Ban liên lạc các dòng họ từ các nơi đổ về Hà nội qua nhiều thời kỳ . Nó không cấu kết mạnh mẽ như ở nông thôn .
3- Chính quyền các cấp cần thường xuyên quan tâm đến hoạt động của các Nhà thờ Họ như một cơ cấu tín ngưỡng tâm linh như Đình , Chùa , Miếu , Điện . Thậm chí theo tôi cần lưu ý hơn nữa . Nếu nhà nước quan tâm sẽ là nơi truyền tải các chủ trương chính sách đến từng người dân như là các già làng trưởng bản của người dân tộc vùng sâu vùng sa . Nên nêu gương các điển hình như việc Lập Quỹ khuyến học dòng Họ và có hội nghị phổ biến cho toàn quốc học tập .
4- Theo tôi dự báo và ngăn chặn những mầm mồng không hướng thiện hướng phúc có hai cho thôn xã và cộng đồng của việc Họ . Ví dụ như chạnh choẹ Họ to , Họ nhỏ tranh giành chức tước trong làng trong xã gây mất đoàn kết ở địa phưong , tranh giành chi trên chi dưới , tranh giành con trưởng con thứ , tranh giành thừa kế trong nội tộc, tranh giành nhau cạnh khoé nhau trong việc công đức , khi ăn uống giỗ họ mượn rượu để gây gổ đánh chửi lẫn nhau gây mất an ninh nơi công cộng .
5- Tôi chia xẻ với một số ý kiến có lý có tình của tác giả Vũ Thế Khôi trong bài : "Về bộ tộc phả họ Vũ Mộ Trạch , đôi điều bán lại với ông Alain Fiorucci" trong tạp chí " "Xa và nay "số 135( 183 ) III-2003 năm thứ mời trang 18,19, 20 . Qua đó tránh các bệnh dich hay lây lan như "thấy người sang bắt quàng làm họ " hoặc " Một người làm quan cả họ được nhờ ."
Trên đây chỉ là ý kiến cá nhân thiển cận . Mong các Quý vị cao minh chỉ giáo thêm ./.