Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Hoành phi – câu đối

hoanhphidinhphong Hoành phi   câu đốiĐây là một cách tao nhã thể hiện gia phong của một gia đình Việt xưa mà Hà Nội không là ngoại lệ. Người ta khó hình dung được một nếp nhà Hà Nội cũ được xem là gia giáo- từng nhiều phen đói ăn, thiếu mặc- lại vắng ánh rực rỡ của, hoành phi – câu đối. Như thế đủ thấy “món” này từ lâu đã thành chuẩn mực về một lối sống mà đời nay cứ to tát lên gọi là truyền thống. Hoành phi – câu đối Hà Nội, với vẻ đẹp đáng trân trọng từng có thời đã hy sinh cả thân xác để ngăn bước quân thù. Đận hòa bình lập lại, gỗ hiếm chúng còn hiến mình làm bàn học cho lũ trẻ ở những gia đình đông con…
Xưa, mỗi khi nhà ai đó có việc trọng như: mừng nhà mới, vinh quy bái tổ, chúc thọ thầy, mẹ… người theo Nho học thường tặng nhau đôi câu đối vàng tâm sơn son – thếp vàng hoặc bạc; sang hơn thì tặng cả bức hoành. Người Kẻ Chợ vẫn giữ nếp này; có điều nay thợ chuyên nghề này đã vãn, nên lấy “trướng” thêu, “phong bao” thường thế chỗ. Câu đối quý nhất treo ở đôi cột đại đặt trên đế đá xanh tại gian giữa ngôi nhà “ba gian hai chái”. Đẹp lắm!
Còn bức hoành, đương nhiên bố cục theo chiều ngang- hoành- thường treo ngay xà ngang gian giữa, ở phía trên câu đối. Hoành phi – câu đối luôn đi thành bộ, thành một chỉnh thể trong lối chơi chữ được người dân trăm họ ưa chuộng từ lâu. Người có của – lấy của che thân – thường có hoành phi – câu đối sơn son – thếp vàng. Thứ đến, nhà không đủ ngân lượng để thếp vàng, thì vẫn nền son, nhưng chỉ thếp bạc thôi. Kẻ hàn sĩ không vàng cũng chẳng bạc, chỉ có son nải vóc để tỏ lòng tôn kính, còn nét chữ là chút nhựa- sức sống- cây sơn lấy ở mé đồi. Còn câu đối tre năm chữ hoặc bảy chữ – phần nhiều theo lối “đá thảo” – thường thấy nơi vách nhà mấy cụ đồ Nho. Thứ dân xưa- vắt mũi đút miệng- chẳng đủ, nhà tranh vách nứa, mơ gì đến hoành phi – câu đối; nhưng kính chữ của Thánh hiền, họ vẫn xin các bậc cao niên dăm nét trên giấy điều mỗi khi có dịp, dán lên vách, lên cửa. Như thế đã lấy làm hãnh diện lắm. Thời chiến tranh, bao cấp- lại bao cấp- người ta đã vẫn chẳng thấy sự tôn kính của hoành phi – câu đối một thời được thể hiện chỉ bằng bột màu in trên giấy cứng bán ở Phố Hàng Mã đó sao!
Như thế đủ thấy thú chơi hoành phi – câu đối đã vượt lên thói thường; thành cái đạo lý văn hóa mà nhờ đó một dân tộc đã vượt qua tất cả họa xâm lăng. Bức ảnh trong bài thấy, người con trai duy nhất (người mặc áo xanh, ở giữa) trong một gia đình Hà Nội cổ đang hạ bức hoành phi của tổ tiên để mang về nhà mới. Người viết bài may mắn được chứng kiến có người hỏi mua bức hoành thếp vàng trên nền then nhưng nhức này, nhưng chàng thanh niên Hà Nội ấy dù chẳng dư dả gì đã từ chối người dạm hỏi với tất cả sự cương quyết hiếm thấy. Sự thật hiển nhiên là hoành phi – câu đối đã làm một cuộc trường tồn; nhưng để hiểu nghĩa đôi câu đối hoặc một bức hoành lại không mấy người. Thật tiếc! Đây là hệ lụy từ một vết gẫy văn hóa không thể trách cứ trong mải miết cách tân quốc ngữ và chiến tranh của nước ta trong hơn nửa thế kỷ qua và đã đến lúc phải được các quan “Bộ Lễ” kế tục quan tâm.
Chẳng thế hôm nay, người biết đọc, biết viết hoành phi – câu đối vãn cũng là điều dễ hiểu. Đa phần trong số họ là những người biết Hán – Nôm từ thế kỷ trước; phần còn lại gồm một số trẻ hơn, do yêu chữ mà sớm trở thành “nhà Nho” bất đắc dĩ. Chính vì thế, hoành phi – câu đối cổ lại càng trở thành cổ ngoạn với tất cả sự bí hiểm chính bởi sự mai một của dạng văn tự này.
Thế mới có chuyện cười ra nước mắt rằng:
Có anh hý hửng mua được, rinh về nhà bức hoành thếp vàng tự cho là đắc ý và mãn nguyện. áp Tết cùng năm, có ông “đồ” hay chữ bất kỳ ghé chơi, chưa kịp nhấp chén trà, ông đã trợn mắt há miệng vì ngẩng lên thấy bức hoành. Gia chủ gặng về sự kinh ngạc, ông đồ mới thủng thẳng như đọc cho riêng mình: “Nhất Đẳng Thần”, “Bảo Đại Thập Nhất Niên Xuân”… Thì ra bức hoành này để thờ “Thần” của một ngôi chùa, miếu nào đó, chứ không phải là một bức hoành ngụ ý chúc tụng để treo chơi. Còn hàng chữ kèm “lạc khoản” – chữ ký của người viết – kia cho biết, bức hoành được làm vào mùa Xuân năm Bảo Đại thứ mười một. Vì sao bức hoành kia lọt ra dân gian và cái nhà ông nọ mua được, chỉ có trời biết, đất biết. Sau khi ông đồ gàn lỡ “tiết lộ thiên cơ” cáo lui, anh nhà giàu tá hỏa, cậy người khênh ngay bức hoành thờ “Thần” kia ra chợ đồ cổ ngày Tết- vừa khai trương vào ngày “ông Công ông Táo chầu trời” – trên phố Hàng Mã. Chợ cuối năm vãn, bức hoành cũng theo chủ mới về nhà nào chẳng rõ!
Thường hoành phi – câu đối bao giờ cũng đi cùng một diềm gỗ sơn thếp trang trí cho gian giữa của một ngôi nhà cổ. Phần điểm xuyết mang tính ước lệ để ngăn cách không gian giữa nhà chính với nơi thờ phụng trong một ngôi nhà cổ này gọi là: Cửa võng. Cửa võng thường làm theo lối chạm thủng, cũng có khi thấy chỉ đục “nẩy nền”. Nhưng dù cách nào, cửa võng cũng là do các tay nghề lão luyện đục chạm, trông chẳng khác dải đăng ten trong kiến trúc cổ với thiên hình vạn trạng các mô típ trang trí từ hoa lá, cỏ cây đến chim muông, cầm thú… Đa số cửa võng – như một điểm nhấn của kiến trúc – thường được thếp vàng hoặc bạc. Trải theo thời gian các cửa võng cổ còn đến nay nom rất cổ kính.
Phổ biến nhất và “lành” nhất vẫn là các bức hoành với hàng chữ: “Đức Lưu Quang”, nghĩa là đức còn sáng mãi, ngụ ý dạy con cháu trọng chữ “Đức” trong cách hành xử. Hoặc các chữ khác chỉ về sự trọng đạo và học vấn cũng như y thuật để cứu người… Cũng có bức hoành lại chạm, khắc theo lối cổ đồ – biểu tượng cho “Phúc – Lộc – Thọ”… Đa phần hoành phi là sơn thếp, nhưng cũng có khi lại khảm trai, khảm ốc. Có bức khảm ốc cũ, lên nước đỏ lịm rất quý; loại này hiếm lắm, giá rất cao, chỉ những con mắt tinh anh mới nhận ra và dám “xuống tiền” để có được. Nền của hoành phi có khi chỉ là lớp sơn ta đen nhức hoặc thuần một màu son sâu thẳm; nhưng cũng có khi chạy chữ vạn hoặc cẩm quy, điểm mây lãng đãng rồi phủ vàng hoặc bạc trông thật quý phái. Mỗi bức hoành thường chỉ ba đến bốn chữ.
Tương tự như hoành phi, câu đối – thường có số chữ nhất định gồm năm, bảy đôi khi là mười một chữ – khi chơi cũng cần cẩn trọng. An toàn nhất – nếu chưa hiểu lắm – cứ câu đối “bí”, “lựu” hoặc “lá chuối”, “lá sen” hay câu đối tre mà rước thì không có gì phải ngại. Câu đối dạng này có khi gọi là “liễn” ngụ ý ca ngợi thiên nhiên, tình người hoặc để tỏ lòng nhớ ơn tổ tiên mà thôi.
Hoành phi – câu đối có kiểu chữ chìm và khắc nổi (vào gỗ hoặc các chất liệu khác). Sợ phạm vào chữ của Thánh hiền nên nhiều hoành phi – câu đối khắc nổi. Người thợ chỉ dám đục đúng đến “mực” – chân chữ – rồi ngừng; để sau đó đi tiếp các hoa văn khác như tản vân, cẩm quy hoặc chữ vạn. Thường câu đối hay khắc chìm, tức là đục băng đi cả chữ mẫu để lấy nền. Loại này rất phổ biến trong các hoành phi – câu đối xứ Huế và các miệt vườn Nam bộ. Câu đối thường làm bằng một tấm gỗ phẳng, có mộng ngang ở hai đầu để “trị” cong vênh. Đúng là mẹo. Nhưng cũng không ít câu đối “lòng mo” – có hình cong, ôm lấy thân cột. Loại này thường gồm năm miếng gỗ ghép với nhau – hàm ý “Ngũ phúc” – nhưng cũng có khi chỉ là ba miếng – gợi ý “Tam đa” – đều rất đẹp. Câu đối lòng mo có khi được làm bằng thân cây cọ, nhưng dân trong nghề chẳng hiểu sao cứ gọi là câu đối “móc”. Loại này khá phổ biến ở vùng đồi núi Trung du, nơi đồi cọ, rừng chè!
Đa phần các hoành phi – câu đối đều sử dụng chữ Nho vì theo nếp cũ, đây là chữ chính thống; còn chữ Nôm – dù đích thực là chữ của nước Việt ta – nhưng vẫn bị cho là chữ của thứ dân nên ít được dùng. Do đó, nay tìm thấy một đôi câu đối chữ Nôm thật khó. Đây cũng là một thứ xính ngoại cần tự điều chỉnh. Nên hiểu chữ Hán cũng chỉ là một “ngoại ngữ”. Như thế chữ Nôm, dù khó cũng rất nên thành môn học cho trẻ trong tương lai. Còn như chữ quốc ngữ – gốc gác La-tinh – mà thành “Thư pháp” như ngày nay và có người ham, khác nào vẽ rắn thêm chân với đủ vành, đủ vẻ rồi tự tán tụng mà không hay rằng: đi tìm cái mới lạ mà sa vào kỳ quoặc. Buồn thay! Con trẻ theo gương, cứ “Thư pháp” quốc ngữ từ thủa vỡ lòng mà noi, thì cái sự vở sạch chữ đẹp đâu cần nữa! Và như thế, cái giá phải trả cho một tương lai gần không thể nói là rẻ khi người người vẫn tin: Chữ là Người.
Ba loại chữ thường được dùng trên hoành phi câu – đối là: “Chân”, “Lệ” và “Triện”. Thật khó nói kiểu nào đẹp hơn vì các trang thiếu niên anh tú- vốn tính bay nhảy- thường ưa chữ “Thảo”; trong khi bậc trung niên đã qua trải nghiệm lại thích lối chữ “Lệ” vốn mực thước; còn các bậc bô lão, cao nhân dật sĩ lại thích lối chữ “Triện” với tất cả tính khuôn phép của dạng chữ này… Tựu trung chữ tùy vào tạng người, nên không thể quyết dạng chữ nào hay hơn. Tuy nhiên, chưa bao giờ thấy trên hoành phi câu – đối sơn thếp những nét “cuồng thảo”!
Nhật Nam

Cách đặt tên con theo nghĩa Hán Việt

Hầu hết tên gọi hiện nay đều được đặt theo nghĩa Hán Việt, tuy nhiên không ít các bậc cha mẹ lại không hiểu hết nghĩa của tên con mình.




Về yếu tố giới tính trong tên gọi
Ngày xưa, khi đặt tên con, các cụ thường đệm Văn cho con trai và Thị cho con gái giúp người khác phân biệt được giới tính của con người ngay trong cái tên gọi. Đây là một quan niệm từ thời phong kiến, rằng con trai lo việc văn chương đèn sách, con gái thì đảm đang việc chợ búa, nội trợ.
Ngày nay, các tên đệm như "Văn" dành cho nam và "Thị" dành cho nữ ngày càng ít dùng bởi có thể họ chưa hiểu hết ỹ nghĩa của những tên đệm đó. Mặt khác, ngày nay đã hình thành nhiều xu hướng đặt tên con mới nghe rất hay và lạ. Tuy nhiên, tùy theo quan điểm của mỗi người mà chọn tên khác nhau cho con. Miễn sao đừng ngược giới tính khiến trẻ sau này phải chịu nhiều phiền hà, rắc rối.
Những cái tên thời nay đã thể hiện rõ nét tính phóng khoáng trong cách đặt tên. Nhìn lại sự biến động của tên gọi người Việt từ trước đến nay, chúng ta nhận thấy một số cách đặt tên cũ gần như đã mất đi, thí dụ như cách đặt tên bằng những từ có âm thanh xa lạ, cách đặt tên bằng những từ chỉ các bộ phận cơ thể hay hoạt động sinh lý của con người, cách đặt tên bằng những từ chỉ dụng cụ sinh hoạt sản xuất hoặc các động vật... Duy chỉ có cách đặt tên vẫn còn duy trì được là đặt tên bằng từ Hán Việt có ý nghĩa tốt đẹp.
Những cách đặt tên theo Hán Việt thường gặp
Theo các bộ chữ:
Những gia đình theo Hán học thường đặt tên theo các bộ chữ Hán. Tức là tên các thành viên trong gia đình đều có chung một bộ chữ.
Ví dụ:
- Bộ Thuỷ trong các tên: Giang, Hà, Hải, Khê, Trạch, Nhuận…
- Bộ Thảo trong các tên: Cúc, Lan, Huệ, Hoa, Nhị…
- Bộ Mộc trong các tên: Tùng, Bách, Đào, Lâm, Sâm…
- Bộ Kim trong các tên: Kính, Tích, Khanh, Chung, Điếu…
- Bộ Hoả trong các tên: Thước, Lô, Huân, Hoán, Luyện, Noãn…
- Bộ Thạch trong các tên: Châm, Nghiễn, Nham, Bích, Kiệt, Thạc…
- Bộ Ngọc trong các tên: Trân, Châu, Anh, Lạc, Lý, Nhị, Chân, Côn…
Nói chung, các bộ chữ có ý nghĩa tốt đẹp, giàu sang, hương thơm như Kim, Ngọc, Thảo, Thuỷ, Mộc, Thạch…đều thường được chuộng để đặt tên.
Bằng hai từ Hán Việt có cùng tên đệm:
Ví dụ: Kim Khánh, Kim Thoa, Kim Hoàng, Kim Quang, Kim Cúc, Kim Ngân.
Hoặc hai từ Hán Việt có cùng tên, khác tên đệm:
Ví dụ: Nguyễn Xuân Tú Huyên, Nguyễn Xuân Bích Huyên.
Theo các thành ngữ mà tên cha là chữ đầu:
Ví dụ: Tên cha: Trâm
Tên các con: Anh, Thế, Phiệt
Tên cha: Đài
Tên các con: Các, Phong, Lưu.
Tên cha: Kim
Tên các con: Ngọc, Mãn, Đường.
Theo ý chí, tính tình riêng:
Ví dụ:
- Phạm Sư Mạnh: thể hiện ý chí ham học theo Mạnh Tử.
- Ngô Ái Liên: thể hiện tính thích hoa sen, lấy ý từ bài cổ văn : "Ái liên thuyết".
- Trần Thiện Đạo: thể hiện tính hâm mộ về đạo hành thiện, làm việc lành.
Triết tự những cái tên
Mạnh, Trọng, Quý: chỉ thứ tự ba tháng trong một mùa. Mạnh là tháng đầu, Trọng là tháng giữa, Quý là tháng cuối. Vì thế Mạnh, Trọng, Quý được bố dùng để đặt tên cho ba anh em. Khi nghe bố mẹ gọi tên, khách đến chơi nhà có thể phân biệt được đâu là cậu cả , cậu hai, cậu út.
Có thể dùng làm tên đệm phân biệt được thứ bậc anh em họ tộc (Mạnh – Trọng – Quý):
Ví dụ: Nguyễn Mạnh Trung
Nguyễn Trọng Minh
Nguyễn Quý Tấn
Vân: tên Vân thường gợi cảm giác nhẹ nhàng như đám mây trắng bồng bềnh trên trời. Trong một số tác phẩm văn học thường dùng là Vân khói – lấy Vân để hình dung ra một mỹ cảnh thiên nhiên nào đó: Vân Du (rong chơi trong mây, con của mẹ sau này sẽ có cuộc sống thảnh thơi, nhàn hạ),...
Anh: Những cái tên có yếu tố anh thường thể hiện sự thông minh, tinh anh: Thùy Anh (thùy mị, thông minh), Tú Anh (con sẽ xinh đẹp, tinh anh), Trung Anh (con trai mẹ là người thông minh, trung thực),...
Băng: Lệ Băng (một khối băng đẹp), Tuyết Băng (băng giá như tuyết), Hạ Băng (tuyết giữa mùa hè),...
Châu: Bảo Châu (viên ngọc quý), Minh Châu (viên ngọc sáng),...
Chi: Linh Chi (thảo dược quý hiếm), Liên Chi (cành sen), Mai Chi (cành mai), Quỳnh Chi (nhánh hoa quỳnh), Lan Chi (nhánh hoa lan, hoa lau),...
Nhi: Thảo Nhi (người con hiếu thảo), Tuệ Nhi (cô gái thông tuệ), Hiền Nhi (con ngoan của gia đình), Phượng Nhi (con chim phượng nhỏ), Yên Nhi (làn khói nhỏ mỏng manh), Gia Nhi (bé ngoan của gia đình),...

Những câu hoành phi phổ biến trong thờ cúng, đình chùa miếu am

bài của chú Ngọc Sắc





Trích lời giới thiệu của sách “ Ngày nay số người biết chữ Hán và tinh thông văn học cổ để có thể làm được câu đối cũng hiếm dần, có nơi phải đi từ xã này sang xã khác hoặc huyện khác mới nhờ người viết hộ. Để khắc phục tình trạng đó, chúng tôi làm nhiệm vụ sưu tập “Mẫu câu đối hoành phi thường dùng” nhằm giúp các bạn không biết chữ Hán, chữ Nôm cũng có thể tự viết cho mình, đỡ phải mượn người viết hộ.”
Dưới đây là 55 câu hoành phi được trích từ cuốn “Mẫu câu đối hoành phi thường dùng” do Tân Việt- Thiều Phong tuyển dịch và giới thiệu, sách do nhà XBVH Dân tộc in lần thứ 12 năm 2008. Xin phép tác giả cho ngocsac đánh lại và chia sẻ trên Blog của mình.

A/ Mẫu Hoành phi tại Đình Miếu và Nhà thờ Tổ
1/万古英灵 Vạn cổ anh linh (muôn thủa linh thiêng)
2/护国庇民 Hộ quốc tí dân (bảo vệ nước, che chở dân)
3/追年前恩 Truy niệm tiền ân (tưởng nhớ ơn xưa)
4/留福留恩 Lưu phúc lưu ân (lưu giữ mãi ơn đức)
5/海德山功 Hải đức sơn công (công đức như biển rộng núi cao)
6/祭神如神在 Tế thần như thần tại (tế thần như thần đang sống)
7/事死如事生 Sự tử như sự sinh (thờ sau khi thác cũng như sau khi sống)
8/德流光 Đức lưu quang (đức độ tỏa sáng)
9/福来成 Phúc lai thành (phúc sẽ tạo nên)
10/福满堂 Phúc mãn đường (phúc đầy nhà)
11/木本水源 Mộc bản thủy nguyên (cây có gốc, nước có nguồn)
12/饮和思源 Ẩm hà tư nguyên (uống nước nhớ nguồn)
13/有开必先 Hữu khai tất tiên (có mở mang hiển đạt là nhờ phúc ấm đời xưa)
14/克昌厥后 Khắc xương quyết hậu (thịnh vượng cho đời sau)
15/光前裕后 Quang tiền dụ hậu (làm rạng rỡ đời trước, nêu gương sáng cho đời sau)
B/ Mẫu Hoành phi tại Nhà thờ tiểu chi và Bàn thờ gia tiên.
1/善最乐 Thiện tối lạc (làm điều lành được vui nhất)
2/必有兴 Tất hữu hưng (ắt sẽ hưng thịnh)
3/百忍泰和 Bách nhẫn thái hòa (trăm điều nhịn nhau giữ được hòa khí)
4/百福骈溱 Bách phúc biền trăn (trăm phúc dồi dào)
5/五福临门 Ngũ phúc lâm môn (năm phúc vào cửa: phú, quý, thọ, khang,ninh)
6/积善余庆 Tích thiện dư khánh (làm điều thiện sẽ được hưởng tốt lành)
7/忠厚家声 Trung hậu gia thanh (nếp nhà trung hậu)
8/庆留苗裔 Khánh lưu miêu duệ (điều tốt lành giữ lại cho đời sau)
9/永绵世泽 Vĩnh miên thế trạch (ân trạch tổ tiên kéo dài nhiều đời sau)
10/万古长春 Vạn cổ trường xuân (muôn thuở vẫn còn tươi tốt)
C/ Mẫu Hoành phi trang trí, chúc tụng hay trướng mừng
1/福禄寿成 Phúc lộc thọ thành ( được cả phúc, lộc, thọ; mừng thọ)
2/家门康泰 Gia môn khang thái (cửa nhà rạng rỡ yên vui)
3/和风瑞气 Hòa phong thụy khí (gió êm dịu, khí ấm nồng)
4/兰桂腾芳 Lan quê đằng phương (ý mừng nhà con cháu đông đúc, sum vầy)
5/增财进禄 Tăng tài tiến lộc (được hưởng nhiều tài lộc)
6/寿星辉 Thọ tinh huy (sao thọ chiếu sáng)
7/斗星高 Đẩu tinh cao (sao đẩu cao- sao đẩu là biểu tượng thầy giáo)
8/寿曜长辉 Thọ diệu trường huy (sao thọ chiếu sáng lâu dài)
9/寿进康期 Thọ tiến khang kỳ (chúc mạnh khỏe sống lâu muôn tuổi)
10/春松永茂 Xuân tùng vĩnh mậu (cây thông mùa xuân tươi tốt mãi)
11/龟鹤长春 Quy hạc trường xuân (tuổi xuân dài như rùa và hạc)
12/海屋添筹 Hải ốc thiêm trù (chúc mừng thêm tuổi)
13/喧和岁月 Huyên hòa tuế nguyệt (tháng năm đầm ấm, tươi vui)
14/寿脉延长 Thọ mạch diên trường (mạch thọ kéo dài)
15/百年皆老 Bách niên giai lão (mừng thọ ông bà, cháu con đông đúc, chỉ dùng trong trường hợp mừng song thọ)

D/ Trướng điếu lễ tang
1/生寄死归 Sinh ký tử quy (sống là gửi, thác là về)
2/一旦无常 Nhất đán vô thường (một buổi sớm bất thường)
3/壹朝千古 Nhất triêu thiên cổ (một buổi sáng thành người thiên cổ)
4/化机难测 Hóa cơ nan trắc (máy tạo hóa khó lường)
5/难挽芸车 Nan vãn vân xa (không cách nào líu lại được xe mây)
6/千秋永别 Thiên thu vĩnh biệt (ngàn năm cách biệt)
7/仙景闲游 Tiên cảnh nhàn du (dạo chơi tiên cảnh)
8/西方极乐 Tây phương cực lạc (sang miền Cực lạc ở Tây Trúc)
9/哀惜无边 Ai tích vô biên (vô cùng thương tiếc)
10/永想无忘 Vĩnh tưởng vô vong (tưởng nhớ mãi không quên)
11/星移芸散 Tinh di vân tán ( sao dời mây tan)
12/芸暗瑶池 Vân ám Dao Trì (mây ám chốn Dao Trì)
13/阴德不忘 Âm đức bất vong (không quên âm đức)
14/昊天望极 Hạo thiên vọng cực (ngóng lên trời cao)
15/永垂不朽 Vĩnh thùy bất hủ (đời đời bất diệt, dành cho liệt sĩ)

Nam mặc miếu trạch



Hà đức như sơn



Danh đằng lưỡng quốc



Thiên địa trường tồn

Hoành phi

Hoành phi có thể đặt ở mọi nơi thờ tư:
Hoành phi (H:橫扉,A: The horizontal lacquered board, P: Le panneau laqué horizontal) nguyên nghĩa là bảng nằm ngang vốn là bức thư họa 書畫 (tranh chữ), được dùng rộng rãi trong dân gian (đình, đền, nhà thờ họ, nhà ở...). Hoành phi có nhiều loại, có bức hoành phi sơn son chữ vàng, có bức sơn đen chữ đỏ hoặc vàng, cũng có những bức được khảm xà cừ rất cầu kỳ, đẹp mắt. Tuy nhiên, đặc sắc và độc đáo nhất phải kể đến những hức hoành phi được làm bằng kỹ thuật "chạm đắp", với việc chạm riêng một vài chi tiết như đầu rồng, đầu chim, các loại hoa văn...sau đó đắp vào bức chính. Hoành phi được làm bằng gỗ không mọt (như gỗ mít), được chạm lộng, chạm đắp, gắn kết với nhau thông qua ngàm mộng chứ không dùng đinh. Hoành phi cổ thường được cấu tạo theo hai dạng chính là dạng hình chữ nhật và hình cuốn thư, ngoài ra còn có bức dạng chiếc khánh, hình ô van.
Những chữ Hán (không dùng chữ Nôm) viết trên hoành phi (大字 đại tự) thường theo 3 kiểu cơ bản là chữ chân 真, chữ thảo草, chữ triện 篆. Nội dung có khi bày tỏ lòng tôn kính của con cháu đối với tổ tiên và những người có công với đất nước, thông thường chỉ có từ ba đến bốn chữ như: 万古英灵 "Vạn cổ anh linh" (muôn thuở linh thiêng), 留福留摁 Lưu phúc lưu ân (Lưu giữ mãi ơn đức), 護國庇民 Hộ quốc tí dân (bảo vệ nước che chở dân); có khi mang ý nghĩa chúc tụng như 僧财进禄 "Tăng tài tiến lộc" (được hưởng nhiều tài lộc), 福禄寿成 "Phúc lộc thọ thành" (được cả phúc, lộc, thọ), 家门康泰 Gia môn khang thái (Cửa nhà rạng rỡ yên vui)... Những chữ lạc khoản nhỏ hơn được ghi ở một hoặc hai bên bức hoành phi sẽ cho chúng ta biết thông tin về chủ nhân của hoành phi, người viết, người tặng, sự kiện tạo ra bức hoành phi đó, về thời gian xây dựng đình, đền, nhà thờ họ...Hình trang trí trên các bức hoành phi như tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ thời (mai, lan, cúc, trúc), hình quyển sách và cây bút, hình thanh gươm... ngoài việc làm nổi bật thêm nội dung của những chữ trên bức hoành phi, còn thể hiện sự sáng tạo và thẩm mỹ của người tạo tác.
Hoành phi được treo ở những nơi thờ cúng như đình, đền, nhà thờ họ, phía trên bàn thờ gia tiên, nơi lăng mộ...Vị trí của hoành phi thường treo ngay ngắn nơi chính giữa hoặc những vị trí trang trọng khác của đền, đình hoặc ngôi nhà, hướng ra ngoài, cố định và ít di chuyển, tạo cảm giác bền vững, lâu dài. Có gia đình chỉ treo tại bàn thờ tổ tiên một bức hoành phi, nhưng cũng có gia đình treo đến hai ba bức, thường là gia đình khá giả. Xưa, những nhà nghèo không có hoành phi bằng gỗ thường dùng những tấm cót, nẹp vào rồi dán những tấm giấy đỏ có viết đại tự lên.
Ngày nay, những bức hoành phi cổ, vốn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa còn lại không nhiều. Ở một số di tích người ta đã đưa những tấm hoành phi mới vào để thay thế cho các bức cũ đã bong sơn, long mộng hoặc tạo bức Hoành phi mới hoàn toàn.Trong buổi gặp mặt Rằm tháng Giêng năm Đinh Hơị tại nhà mẫu thân tôi đư ảa ý kiến và đại diện 24 gia đình Lương Đức tại Lào Cai đã nhất tâm công quả được 2.000.000 đ và tối đã đạt bức Hoành phi mang dòng chữ 海德山功 (Hải Đức sơn công) với nghĩa Công Đức của Tổ tiên cao như núi, sâu như biển đồng thời có chữ Hoành phi (H:橫扉,A: The horizontal lacquered board, P: Le panneau laqué horizontal) nguyên nghĩa là bảng nằm ngang vốn là bức thư họa 書畫 (tranh chữ), được dùng rộng rãi trong dân gian (đình, đền, nhà thờ họ, nhà ở...). Hoành phi có nhiều loại, có bức hoành phi sơn son chữ vàng, có bức sơn đen chữ đỏ hoặc vàng, cũng có những bức được khảm xà cừ rất cầu kỳ, đẹp mắt. Tuy nhiên, đặc sắc và độc đáo nhất phải kể đến những hức hoành phi được làm bằng kỹ thuật "chạm đắp", với việc chạm riêng một vài chi tiết như đầu rồng, đầu chim, các loại hoa văn...sau đó đắp vào bức chính. Hoành phi được làm bằng gỗ không mọt (như gỗ mít), được chạm lộng, chạm đắp, gắn kết với nhau thông qua ngàm mộng chứ không dùng đinh. Hoành phi cổ thường được cấu tạo theo hai dạng chính là dạng hình chữ nhật và hình cuốn thư, ngoài ra còn có bức dạng chiếc khánh, hình ô van.
Những chữ Hán (không dùng chữ Nôm) viết trên hoành phi (大字 đại tự) thường theo 3 kiểu cơ bản là chữ chân 真, chữ thảo草, chữ triện 篆. Nội dung có khi bày tỏ lòng tôn kính của con cháu đối với tổ tiên và những người có công với đất nước, thông thường chỉ có từ ba đến bốn chữ như: 万古英灵 "Vạn cổ anh linh" (muôn thuở linh thiêng), 留福留摁 Lưu phúc lưu ân (Lưu giữ mãi ơn đức), 護國庇民 Hộ quốc tí dân (bảo vệ nước che chở dân); có khi mang ý nghĩa chúc tụng như 僧财进禄 "Tăng tài tiến lộc" (được hưởng nhiều tài lộc), 福禄寿成 "Phúc lộc thọ thành" (được cả phúc, lộc, thọ), 家门康泰 Gia môn khang thái (Cửa nhà rạng rỡ yên vui)... Những chữ lạc khoản nhỏ hơn được ghi ở một hoặc hai bên bức hoành phi sẽ cho chúng ta biết thông tin về chủ nhân của hoành phi, người viết, người tặng, sự kiện tạo ra bức hoành phi đó, về thời gian xây dựng đình, đền, nhà thờ họ...Hình trang trí trên các bức hoành phi như tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ thời (mai, lan, cúc, trúc), hình quyển sách và cây bút, hình thanh gươm... ngoài việc làm nổi bật thêm nội dung.
----------------------------------------------------------------------------
 Theo thiển ý của tôi thì các bức hoành phi cổ tồn tại trong các nhà thờ họ. Ở đó có ít nhất ba đời thờ cúng gia tiên theo thứ tự con trưởng.
Các bức hoành phi, câu đối hai bên, ban thờ, treo hình ảnh, bát nhang và rất nhiều thứ khác.
Nói chung, nếu không có một sự tuần tự truyền lại, bị ngắt quãng là rất khó cho con thứ.
Thật ra, nếu bạn ở thành phố thì có phần giản đơn hơn, nhưng nếu ở quê thì bạn nên tìm hiểu kỹ phong tục nơi bạn sinh ra mà có ứng xử cho phù hợp.
Tôi cũng đang trong tình cảnh như bạn và chờ mong các ý kiến khác.
----------------------------------------------------------------------------
 Tôi không biết có sự phân biệt nào giữa hoành phi ở nhà con trưởng và nhà con thứ không (hình như là không?), vì thông thường con trưởng là người giữ nghiệp tổ, quản việc giỗ chạp trong (đại) gia đình nên mới có bàn thờ hoàn chỉnh, còn nhà con thứ không cần phải có riêng một bàn thờ, nên cũng chẳng cần hoành phi làm gì cả.

Nhưng vẫn có ngoại lệ. Trong cuốn "Phong tục Việt Nam (Thờ cúng tổ tiên)", Toan Ánh có viết: "Cũng có những gia đình con thứ không phải cúng giỗ, lý ra không cần phải có một bàn thờ, nhưng vì lòng thành kính đối với tổ tiên, người ta vẫn lập bàn thờ để thờ vọng, và để cúng vọng trong những ngày giỗ, nếu vì lý do gì người ta không thể tới nhà trưởng được, nhất là trong trường hợp xa nhà, không thể như mọi người hàng năm về dự giỗ tết".

Theo tôi, trong trường hợp người con trưởng không câu nệ quá thì người con thứ có thể lập bàn thờ đầy đủ hoành phi, câu đối... như ở nhà trưởng. Cho nên, khi người con thứ muốn lập bàn thờ riêng cũng như treo hoành phi, câu đối trên bàn thờ thì nên bàn với người con trưởng, cốt sao trong gia đình được yên ấm, không xảy ra xích mích chỉ vì một bức hoành phi (và như thế sẽ làm hỏng ý nghĩa của việc treo hoành phi vì chẳng tổ tiên nào lại muốn con cháu bất hòa do việc thờ tự mình mà ra).

Các hoành phi trên bàn thờ gia tiên đều tỏ lòng thành kính và ca tụng công đức tổ tiên. Bạn có thể xem vài ví dụ dưới đây:

KÍNH NHƯ TẠI
(nghĩa là con cháu kính trọng tổ tiên như tổ tiên lúc nào cũng tại vị trên bàn thờ)

PHÚC MÃN ĐƯỜNG
(nghĩa là gia đình đầy đủ dư phúc đức, ý nói nhờ có sự phù hộ của tổ tiên nên mới được như thế)

BÁCH THẾ BẤT THIÊN
(nghĩa là bao giờ con cháu cũng ăn ở đúng mực không thiên lệch)

ĐỨC LƯU QUANG
(nghĩa là đức để lại sáng)

ĐỨC DUY HINH
(nghĩa là đức dày, truyền có tiếng thơm)

ẨM HÀ TƯ NGUYÊN
(uống nước sông, nhớ nguồn)

KHẮC XƯƠNG QUYẾT HẬU
(để tốt lành về sau)

SƠN CAO HẢI TUẤN
(núi cao bể sâu)

VIỄN ĐIỀU PHỒN DIỄN
(ý nói dòng họ lâu đời, con cháu phồn thịnh)

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Cách lựa chọn và bảo quản trang sức ngọc trai


Ngọc trai là loại trang sức được nữ giới ưa chuộng. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách chọn được loại ngọc trai phù hợp, đúng giá trị và bảo quản làm sao để kéo dài tuổi thọ cho loại trang sức đặc biệt này.

BST trang suc 300x209 Cách lựa chọn và bảo quản trang sức ngọc trai
Bộ sưu tập trang sức ngọc trai
Là một đơn vị chuyên nghiệp có thâm niên trong ngành nuôi cấy và chế tác ngọc trai, Công ty Ngọc Trai Hoàng Gia sẽ chia sẻ những thông tin hữu ích về việc chọn và giữ gìn các trang sức từ ngọc trai.
Ngoctrai H1 Cách lựa chọn và bảo quản trang sức ngọc trai
Độ sáng của trang sức ngọc trai
Trên thị trường Việt Nam hiện nay, người tiêu dùng thường không phân biệt được ngọc trai nuôi nước biển và nước ngọt, trong khi giá trị của chúng có thể chênh nhau đến 10 lần.

Độ sáng (lustre)

Độ bóng sáng là tiêu chuẩn quan trọng trong việc đánh giá chất lượng của viên ngọc, thông qua mức độ phản chiếu ánh sáng trên vỏ ngọc. Độ sáng của ngọc được xác định bởi chất lượng của lớp xà cừ cũng như độ dày của lớp ngọc bao phủ. Điều này bị ảnh hưởng lớn từ kỹ thuật, thời gian nuôi và cả giống trai được nuôi cấy.
Ví dụ thấy rõ về độ bóng có thể bắt gặp ở giống trai Tahiti màu đen ánh xanh, hoặc giống trai South Sea màu nhũ vàng, độ bóng của những loại ngọc này dễ dàng phân biệt và làm tôn lên màu sắc đặc trưng trên lớp ánh xà cừ của nó.
Ngoc Trai  H21 Cách lựa chọn và bảo quản trang sức ngọc trai
Màu sắc của trang sức ngọc trai

Có thể tạm chia màu sắc của ngọc trai thành 2 nhóm: nhóm màu sáng (bạc, trắng, vàng chanh, nhũ vàng) và nhóm màu tối (đen ánh xanh, đen ánh chì, xám). Việc chọn màu sắc của ngọc phụ thuộc vào sở thích cá nhân và không phản ánh chất lượng của viên ngọc. Tuy nhiên, do đặc tính của một số giống trai ở những vùng biển đặc biệt có thể cho ra những màu ngọc lạ, hiếm nên giá trị ngọc có thể chênh lệch khá lớn đối với những màu sắc này. Ví dụ như màu đen ánh chì hoặc ánh xanh của loại ngọc Tahiti, gam màu này chỉ được nuôi và phát triển đa số tại đảo quốc Tahiti thuộc Pháp.

Màu sắc

Ngoc trai H3 Cách lựa chọn và bảo quản trang sức ngọc trai
Hình dạng của trang sức ngọc trai


Hình dáng viên ngọc đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị. Ngọc trai có thể chia thành các nhóm cơ bản: tròn, bầu dục, giọt nước, bầu, hình biến dạng.
Hình dáng

Từ xưa đến nay, chuẩn mực của một viên ngọc chính là độ tròn đều không tì vết của nó. Nhưng dưới sức sáng tạo của các nghệ nhân, những viên ngọc có hình dáng bất thường đôi khi lại tạo ra được những mẫu trang sức đặc trưng và cá tính.

Bề mặt

Bề mặt của viên ngọc cũng là một đặc tính giúp xác nhận giá trị, chỉ một vài tì vết nhỏ trên bề mặt cũng sẽ làm giảm giá trị và vẻ đẹp tổng thể của chúng.
Ngoc trai H4 Cách lựa chọn và bảo quản trang sức ngọc trai
Kích thước của trang sức ngọc trai
Kích thước
Kích cỡ của viên ngọc được đo bằng đường kính tính theo đơn vị mm. Viên ngọc sẽ được định giá chủ yếu dựa trên tiêu chí này. Đối với một số viên ngọc, một vài mm chênh lệch cũng có thể dẫn đến sự khác biệt lớn về giá trị từ 100 đến 200%.

Bảo quản

Điều đầu tiên nên lưu ý là tính chất của ngọc trai, bản thân nó là một loại đá quý hữu cơ, được tạo ra từ cơ thể của một sinh vật sống. Do đó, để duy trì độ sáng đẹp và kéo dài tuổi thọ ngọc, bạn cần cách ly ngọc với những hoạt chất chứa clo, các loại axit trong trái cây tươi, các hóa chất có trong nước hoa, mỹ phẩm… và tránh để ngọc gần nơi có nhiệt độ quá cao.
Việc cất giữ cũng nên cẩn trọng, ngọc trai cần được để trong túi vải mềm, tránh ma sát trực tiếp với các bề mặt cứng dễ gây trầy xước lớp vỏ bọc bên ngoài, ảnh hưởng đến độ sáng và vẻ đẹp của viên ngọc. Nói chung, trong quá trình sử dụng, bạn nên hạn chế đến mức tối đa việc tiếp xúc với xà phòng, nước hoa, nước rửa chén… Trong trường hợp đã lỡ để ngọc tiếp xúc với các hóa chất trên, bạn cần nhanh chóng rửa lại thật kỹ dưới vòi nước sạch và lau khô bằng khăn mềm.

Phân biệt ngọc trai nước ngọt và ngọc trai nước mặn

2 vien ngoc tai 300x165 Phân biệt ngọc trai nước ngọt và ngọc trai nước mặn
Ngọc trai nước ngọt:
Ngọc trai nước ngọt được loài trai sống ở hồ, sông và những nơi nước ngọt khác tạo ra. Phần lớn ngọc trai nuôi nước ngọt ngày nay được Trung Quốc sản xuất. Ngọc trai nước ngọt được nuôi cấy bằng mô tế bào không có nhân định hình nên hình dáng của nó thường có hình giọt lệ, oval, hình nút,…Một lượng ít ngọc trai nước ngọt có chất lượng hoàn hảo sẽ có hình dáng tròn đều. Mỗi con trai nước ngọt có kích thước lớn và có thể tạo ra 30 đến 40 viên ngọc trong thời gian 1 năm đến 1 năm rưỡi. Trong điều kiện sống ở sông hồ, hàm lượng khoáng chất ít nên ngọc trai nước ngọt không bóng sáng bằng ngọc trai nước biển. Chính vì vậy, ngọt trai nước ngọt có giá thành rẻ hơn và nó chỉ là một loại trang sức, không có các tác dụng khác như chữa bệnh, làm mỹ phẩm.
Ngọc trai nước mặn:
Ngọc trai nước mặn được những con điệp, hàu bao sống ở các vịnh biển tạo ra. Ngọc trai nước mặn được nuôi cấy bằng mô tế bào và nhân định hình nên nó có hình dáng tròn đền tuyệt đối. Mỗi con trai biển chỉ có thể tạo ra một viên ngọc trai duy nhất trong thời gian nuôi cấy từ 3 năm đến 3 năm rưỡi. Trong nước biển có nhiều khoáng chất nên ngọc trai nước mặn bóng sáng hơn và có nhiều tác dụng chữa bệnh khác. Akoya, Tahiti, Nam Hải là ba loại ngọc trai nước mặn chủ yếu.
Sưu tầm từ internet

Vẻ đẹp sang trọng của ngọc trai

ngoc trai den hoang da Vẻ đẹp sang trọng của ngọc trai
Ngọc trai đen hoang dã

Không nữ trang nào chiều lòng phái đẹp như ngọc trai, từ những phụ nữ đứng tuổi đến các thiếu nữ đều có thể tạo nét sang trọng và nữ tính cho mình từ những viên ngọc trai lấp lánh.

Tặng vật cho phái đẹp
Có lẽ duyên tình gắn kết phái đẹp với trang sức ngọc trai bắt nguồn từ sự hình thành của nó. Một quá trình đầy nước mắt.
Dưới đáy biển xanh thẳm, có những con trai đau đớn ôm mình khi hạt cát lọt vào vỏ. Chúng kiên cường, bền bỉ tạo chất “cô lập kẻ thù”.
Để rồi từng ngày trôi đi, công sức tích tụ và tạo cho đời báu vật vô giá – những viên ngọc huyền bí lấp lánh sắc cầu vồng. Chúng tôn vẻ sang trọng, cao quý cho các quý bà, tạo nét thanh lịch, nữ tính cho các quý cô và tăng thêm sức quyến rũ cho các nàng dâu trong ngày cưới.
Nhưng để tạo được phong cách như ý, bạn cũng cần biết cách phối hợp sắc ngọc theo độ tuổi và trang phục.
Phụ nữ đứng tuổi thường chọn ngọc trai theo phong cách cổ điển. Đó là những hạt ngọc trai được kết thành chuỗi và cân đối. Trong đó, những viên ngọc to nhất sẽ được xâu ở giữa và các viên khác nhỏ dần về hai bên móc đeo; là những dây chuyền mặt ngọc trai; nhẫn điểm xuyết ngọc trai
chung loai ngoc trai Vẻ đẹp sang trọng của ngọc trai
Các chủng loại ngọc trai
Còn các cô gái trẻ lại hứng thú “săn lùng” những biến tấu lạ từ sự kết hợp phá cách. Đó là cuộc “giao lưu” giữa ngọc trai và những viên đá vân màu tự nhiên trạm hình hoa, bướm; là những họa tiết trang trí độc đáo đính bằng ngọc trai trên trang phục…
Ngoài kiểu hạt dạng tròn cổ điển, nhiều kiểu dáng khác như hình giọt lệ, trái tim, hình bầu dục cũng tạo nên nhiều góc nhìn mới, vẻ đẹp lạ cho thiếu nữ.
Trong trò chơi sắc màu, ngọc trai cũng có những quy tắc riêng. Như chiếc vòng cổ ngọc trai màu trắng ngà chỉ phù hợp với trang phục trắng hoặc đen tuyền.
Một bộ trang sức đồng màu, đồng kiểu được chế tác từ ngọc trai luôn tôn vẻ sang trọng cho người sử dụng. Ngọc trai thường hợp với làn da trắng, nhưng nếu bạn sở hữu một làn da nâu hay ngăm đen cũng không đáng ngại, vì những nữ trang ngọc trai màu hồng đậm, cam hoặc màu mỡ gà sẽ là lựa chọn phù hợp nhất cho bạn.
nhan doi ngoc trai Vẻ đẹp sang trọng của ngọc trai
Nhẫn đôi ngọc trai
Nếu bạn may mắn có bờ vai và lưng thon, nõn nà hãy tô điểm bằng các loại hạt ngọc trai. Những kiểu đầm dạ hội, áo hở lưng sẽ thêm quyến rũ khi có những chuỗi ngọc dài trang điểm.
Bạn cũng có thể làm điệu mái tóc bằng cách xỏ ngọc trai thành chuỗi, suôn theo mái tóc; tạo cá tính khi nhấn trang phục của mình bằng những họa tiết thêu, đính ngọc trai
Mỗi sắc màu, kiểu dáng của ngọc đều giúp bạn thăng hoa cảm xúc, tạo nên nét đẹp riêng cho mình.
Bí quyết chọn ngọc
Chọn được ngọc trai đẹp đã khó, bảo quản và gìn giữ ngọc sáng mãi theo thời gian còn khó và công phu hơn. Những tham khảo dưới đây sẽ không thừa khi bạn có ý định “tân trang” sắc đẹp cùng ngọc trai.
mau ngoc trai trung bay Vẻ đẹp sang trọng của ngọc trai
Mẫu ngọc trai trưng bày
Ngọc trai được chia làm hai loại là ngọc trai nước mặn và ngọc trai nước ngọt. Ngọc trai nước mặn thường có giá thành cao hơn nhưng quý và hiếm nhất vẫn là ngọc trai đen. Loại “hắc trân châu” này được coi là tặng vật vô giá, báu vật của đại dương.
Ngọc trai chất lượng tốt, đẹp thường không bị trầy xước, kích thước tròn đều, có độ sáng bóng và lớp vỏ ngọc dày.
nhan ngoc trai den Vẻ đẹp sang trọng của ngọc trai
Nhẫn ngọc trai đen
Ngọc trai hợp với trang phục bằng lụa tơ tằm, nhung, phi bóng… Chúng sẽ tạo cho bạn phong cách cổ điển, sang trọng và quý phái.
vong co ngoc trai Vẻ đẹp sang trọng của ngọc trai
Vòng cổ ngọc trai
Để nhận biết ngọc trai thật hay giả, cách đơn giản nhất là lấy hai viên cọ xát vào nhau, nếu là ngọc tự nhiên sẽ không bị trầy xước.
Ngọc tốt khi lia qua tia lửa vẫn sáng bóng và sẽ không bị tác động của mồ hôi hay mỹ phẩm. Nhưng cách bảo đảm tốt nhất là bạn nên mua ở những cửa hàng lớn, uy tín để được tư vấn và lựa được nữ trang phù hợp với mình
Theo Sức khỏe và Đời sống

Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ

Kết hợp bộ trang sức bạc tỷ “Phượng Hoàng tung cánh” cùng bộ đầm dạ hội màu đen, Hoa hậu đẹp nhất châu Á còn tiết lộ nhiều bí quyết sử dụng nữ trang ngọc trai.

Hinh 1 Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ
Khi diện những bộ váy sang trọng, Hương Giang thích kết hợp với nữ trang làm từ ngọc trai.
Huong gian Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ
Hinh 2 Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ
Người đẹp liên tục thay đổi phong cách từ dịu dàng, trẻ trung cho đến sang trọng, quyến rũ bằng cách khéo léo kết hợp trang phục với bộ trang sức ngọc trai tinh xảo.
thu giang1 Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ
Thánh thiện và rạng ngời với chiếc đầm trắng muốt, Hương Giang chọn những kiểu vòng với thiết kế tinh xảo, cầu kỳ, khoe vẻ đài các. Mái tóc đen dài buông lơi khoe vẻ đẹp duyên dáng của Hoa hậu đẹp nhất châu Á.
Hinh 4 Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ
Trong bộ váy phối màu đỏ – trắng với thiết kế lệch vai, điểm tô những bông hoa hồng khoe vẻ đẹp trẻ trung, tươi sáng, thêm chút chấm phá nhẹ nhàng với bộ ngọc trai đen, người đẹp trông thật rạng rỡ. Khi mặc váy lệch vai, cô không dùng vòng đeo cổ vì sẽ tạo vẻ nặng nề.
Hinh 5 Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ
Vẻ đẹp huyền bí của Hương Giang với vai trần và chiếc băng đô trán tinh xảo.
Hinh 6 Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ
Bộ váy đỏ mang lại cho người đẹp vẻ gợi cảm, quyến rũ.
Hinh 7 Hương Giang kiêu sa với trang sức bạc tỷ
Với lợi thế làn da trắng mịn, người đẹp Hải Dương đặc biệt ưu ái gam màu đỏ. Rực rỡ trong chiếc đầm quây màu đỏ tươi, cô chọn những bộ ngọc trai màu trắng muốt với thiết kế sang trọng như Nữ hoàng để thể hiện vẻ đẹp kín đáo mà sang trọng.
Photo: Lý Võ Phú Hưng
Make-up: Nguyễn Hùng
Trang sức: Ngọc Trai Hoàng Gia
Mai Thương

Hành trình của viên ngọc trai 240 tỷ đồng

ngoc trai 244x300 Hành trình của viên ngọc trai 240 tỷ đồngQua nhiều năm tháng, qua tay bao nhiêu người chủ, từ lục địa này sang lục địa khác, đằng sau viên ngọc trai “La Peregrina” trị giá 11,8 triệu USD (khoảng 240 tỷ đồng) là cả một câu chuyện ly kỳ.
Hãng Christie’s đã bán đấu giá viên ngọc trai “La Peregrina” hình giọt lệ, nặng 55 carat của Elizabeth Taylor sau khi bà qua đời. Viên ngọc do chồng bà – diễn viên nổi tiếng Richard Burton mua tặng năm 1969 được trả giá 11,8 triệu USD (khoảng 240 tỷ đồng).
Elizabeth Taylor được chồng mua tặng viên ngọc quý giá này.
Trước khi được Burton mua, “La Peregrina” đã trải qua cuộc hành trình hàng thế kỷ qua tay nhiều người, từ nô lệ Tây Ban Nha cho đến gia đình hoàng tộc Pháp và triệu phú Mỹ.
“Nó đã trở thành viên ngọc trai đắt nhất từng được bán đấu giá”, Rahul Kadakia, người đứng đầu hãng trang sức Christie’s cho biết.
Từ hoàng tộc Tây Ban Nha đến huyền thoại Hollywood
La Peregrina được một nô lệ châu Phi phát hiện tại đảo Pearl ở vùng vịnh Panama vào đầu những năm 1500.
Cái tên La Peregrina có nghĩa là “hiếm” hoặc “đặc biệt”. Viên ngọc được dâng cho vua Phillip II của Tây Ban Nha và ông tặng nó cho vợ mình, Mary Tudor vào ngày cưới. Vào thời điểm đó, nó trị giá 714.000 maravedí, tương đương 8.000 USD.
La Peregrina được Phillip III thừa hưởng và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoàng tộc. Tuy nhiên, năm 1808, khi Joseph Napoleon được em trai mình là Hoàng đế Napoleon của nước Pháp chỉ định lên ngôi vua Tây Ban Nha, thì La Peregrina rơi vào tay ông. Joseph Napoleon mang La Peregrina tặng vợ mình, Julie Clary.
Bà luôn đeo nó cho đến khi cuộc hôn nhân kết thúc. Joseph Napoleon sau đó mang theo viên ngọc đến TP New York và Philadelphia (Mỹ) và để lại cho Napoleon III, người đang cai trị nước Pháp.
Năm 1815, Napoleon III bị hạ bệ. Sau khi lưu lạc đến Anh, ông bán La Peregrina cho James Hamilton, sau này là Công tước xứ Abercorn.Công tước tặng viên ngọc trai cho vợ mình – Louisa Hamilton. Bà đánh mất nó hai lần vì viên ngọc nặng rơi ra khỏi sợi dây chuyền nhưng sau đó đều tìm lại được.
La Peregrina nằm trong tay nữ Công tước cho đến năm 1914. Đến năm 1969, nó được bán đấu giá ở Sotheby’s. Richard Burton và Taylor lúc đó mới kết hôn lần đầu và vẫn đang ngây ngất sau thành công của bộ phim “Người sợ sói Virginia” – tác phẩm đã mang lại cho Taylor giải Oscar thứ hai.
Viên ngọc trai đắt giá La Peregrina
Cặp đôi này ly hôn vào năm 1974 và tái hôn 16 tháng sau, rồi lại ly hôn một lần nữa. Nhưng vào năm 1969, cũng là lúc viên ngọc trai xuất hiện ở phiên bán đấu giá, Burton vẫn còn đang yêu Taylor tha thiết. Ông đã mua tặng nó cho vợ của mình.
Hoàng tộc Tây Ban Nha đã cho phái viên Alfonso de Borbón Dampierre đến phiên đấu giá để mua viên ngọc và mang nó trở lại Cung điện Hoàng gia Madrid.
Tuy vậy, Burton đã trả giá cao hơn giá mà hoàng tộc Tây Ban Nha sẵn sàng chi cho viên ngọc, do đó ông đã sở hữu viên ngọc với giá 37.000USD.
Tên trộm bất ngờ
Burton tặng vợ viên ngọc vào ngày lễ tình nhân và như những gì đã xảy ra một thế kỷ trước, một ngày La Peregrina biến mất khỏi tư gia của cặp vợ chồng ở Las Vegas (Mỹ).
“Tôi cúi xuống tìm La Peregrina nhưng nó không có ở đó”, Elizabeth Taylor đã viết trong cuốn sách “Elizabeth Taylor: Chuyện tình của tôi với đồ trang sức“. “Tôi nhìn Richard và may mắn làm sao, lúc đó anh không nhìn tôi. Tôi đi vào phòng ngủ và nằm vật xuống giường, vùi đầu vào gối và hét lên. Sau đó, tôi tìm kiếm viên ngọc ở khắp mọi nơi nhưng vẫn không thấy”. Cuối cùng, một cách ngẫu nhiên, Taylor lại tìm thấy viên ngọc trong miệng con chó.
May mắn làm sao, viên ngọc không hề bị trầy xước. Nó nằm trong bộ sưu tập trang sức khổng lồ trị giá hàng chục triệu USD của Taylor cho đến khi bà qua đời.
(Theo Bee.net.vn /MSNBC)

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Cảnh tượng kỳ thú dưới biển tại Indonesia

Hải quỳ bám vào cua biển để đi nhờ là một trong những hình ảnh ấn tượng nhất mà các nhà khoa học chụp được trong chuyến thám hiểm vùng biển thuộc Indonesia gần đây.
Các nhà khoa học thuộc Cục Hải dương và Khí quyển Mỹ (NOAA) cùng các nhà khoa học Indonesia vừa thực hiện một cuộc thám hiểm dưới đáy đại dương gần đảo Sulawesi của Indonesia. Họ đi bằng tàu Okeanos Explorer của Mỹ và sử dụng những tàu ngầm mini được điều khiển từ xa để khám phá đáy biển.
Cuộc thám hiểm bắt đầu từ ngày 23/6 và kết thúc vào ngày 14/8. Các nhà khoa học chụp vài trăm nghìn bức ảnh, còn thời lượng video mà họ ghi lại lên tới vài trăm giờ.

Hải quỳ bám vào cua Hermit để "đi nhờ" gần đảo Sulawesi của Indonesia là một trong những bức ảnh hiếm và thú vị nhất mà đoàn thám hiểm chụp được. Cua Hermit thường lấy vỏ của ốc, sò hoặc sên để bảo vệ cơ thể.

Con sao biển 10 chân này được phát hiện ở độ sâu 270 m vào ngày 2/8. Phần lớn sao biển chỉ có 5 chân.

Huệ biển là tên một loài đông vật da gai giống loài nhím biển, có khả năng chạy trốn khi gặp nguy hiểm. Chúng là nhóm động vật da gai cổ nhất còn tồn tại đến ngày nay, với khoảng 5.000 loài hoá thạch và hơn 600 loài hiện sống. Phần lớn huệ biển sống bám với cuống dài, một số ít sống tự do. Ngày nay người ta hiếm khi nhìn thấy huệ biển, dù chúng từng thống trị đáy đại dương.

Cá chào mào đỏ có nhiều bộ vây khác nhau trên cơ thể, mỗi loại có một chức năng riêng. Chẳng hạn, một bộ vây giúp cá bơi, còn một bộ khác cho phép nó bám xuống đáy biển.

Hải sâm bơi trong tầng nước lạnh giá ở độ sâu 3.200 m. Khoảng 1.250 loài hải sâm đang sống trong các đại dương. Chúng có thân hình trụ với lớp da dẻo, tròn bóng và có thể có gai sần sùi. Ảnh được chụp vào ngày 27/7.

Một con sao biển gai bò qua cây san hô bubblegum.

Tôm hùm chân dài bám vào bọt biển.

Một con cá mập ma gần đảo Sulawesi. Chúng và họ cá mập có cùng tổ tiên, song tiến hóa theo hai hướng khác nhau từ 400 triệu năm trước.

Một cây san hô cứng ở độ sâu 1.400 m. Nó đã tồn tại từ 1.000 tới 6.000 năm.

Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Những địa điểm du lịch tại Nha Trang


1. Di tích Am Chúa
Vị trí: Am Chúa được xây dựng trên một ngọn núi có tên là núi Ðại An (hoặc núi Dưa), thuộc xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Ðây là nơi thờ Thiên Y Ana Thánh Mẫu, một vị phúc thần rất được kính trọng ở Khánh Hòa.
2. Đình Phú Cang
Vị trí: Đình Phú Cang nằm trên địa phận xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Đình toạ lạc trong một khuôn viên rộng, thoáng, có diện tích 1.700m2, và bài trí nội thất theo kiểu thường thấy ở các đình quê.
3. Chùa Long Sơn
Vị trí: Chùa Long Sơn nằm ngay trong nội thành Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, bên quốc lộ 1A, dưới chân Hòn Trại Thủy.
Ðặc điểm: Chùa được khai sơn vào cuối thế kỷ 19 và được xây dựng mới vào năm 1940 với nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc mang đậm dấu ấn thời hiện đại.
4. Lăng Bà Vú
Vị trí: Lăng Bà Vú nằm ở thôn 3, thị trấn Ninh Hoà, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Lăng Bà Vú là một công trình kiến trúc chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa tiêu biểu và đặc sắc, trong đó yếu tố mỹ thuật chiếm vai trò chủ đạo. Một số yếu tố nghệ thuật cung đình và dân gian đầu thế kỷ 19 đã được thể hiện ở đây khá rõ nét.
5. Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa
Địa chỉ: 16 Trần Phú, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Điện thoại: (84-58) 813 654.
Đặc điểm: Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa hiện đang bảo quản gần 10.000 hiện vật gốc, hơn 5.000 tư liệu hình ảnh thuộc về các thời kỳ lịch sử khác nhau, trong đó có nhiều hiện vật thuộc loại quý hiếm.
6. Khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin
Địa điểm: Tỉnh Khánh Hoà có 3 khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin tại thành phố Nha Trang và huyện Diên Khánh.
Ðặc điểm: Khu tưởng niệm bác sĩ Alexandre Yersin là công trình xây dựng để tưởng niệm nhà bác học tài ba - Alexandre Yersin (1863 - 1943), đã sống và cống hiến hết mình cho khoa học của nhân loại.
7. Văn miếu Diên Khánh
Vị trí: Văn miếu Diên Khánh tọa lạc tại khóm Phú Lộc Tây, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Được xây dựng theo truyền thống nho giáo trước đây, nhằm ghi nhận công lao của những người có tài, học giỏi, đã được đỗ đạt.
8. Viện Hải Dương Học
Vị trí: Viện Hải Dương Học nằm trên một khu đất cao ráo, rộng rãi tại số 1, Cầu Đá, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Được thành lập năm 1923, là một trong những cơ sở nghiên cứu khoa học được ra đời sớm nhất ở Việt Nam và được coi là cơ sở lưu trữ hiện vật và nghiên cứu về biển lớn nhất Đông Nam Á.
9. Tháp Bà PôNagar
Vị trí: Tháp Bà Pô Nagar nằm trên một ngọn đồi nhỏ, bên cửa sông Cái và quốc lộ 1A, thuộc phường Vĩnh Phước, phía bắc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Tháp Bà Pô Nagar là một công trình tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc dân tộc Chăm, đã tồn tại trên 10 thế kỷ.
10. Hòn Bà
Vị trí: Hòn Bà thuộc huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang 37km về phía tây nam.
Ðặc điểm: Đến với Hòn Bà là đến với một khu rừng nguyên sinh để tận hưởng khí hậu của vùng ôn đới.
11. Thác Yang Bay
Vị trí: Thác Yang Bay nằm trong khu vực buôn Y Bay, xã Phước Thượng, huyện miền núi Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Thác Yang Bay nằm ở độ cao 600m so với đất liền, ngọn thác này được coi như là thượng nguồn của một nhánh sông từ trên cao nguyên đổ về sông Cái, Nha Trang.
12. Khu du lịch Hồ cá Trí Nguyên
Vị trí: Khu du lịch Hồ Cá Trí Nguyên nằm trên đảo Bồng Nguyên hay còn gọi là Hòn Miễu (Đảo Cá) thuộc vịnh Nha Trang, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Đó là một vùng hồ trên biển được ngăn lại bằng hệ thống kè đá. Trong hồ được nuôi thả hàng trăm loại sinh vật biển quý hiếm và đẹp mắt như một bảo tàng sống về biển.
13. Suối khoáng nóng Tháp Bà
Địa điểm: Trung tâm suối khoáng nóng Tháp Bà nằm tại tổ 25, khóm Ngọc Sơn, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Đây là một loại hình dịch vụ chăm sóc sức khoẻ độc đáo, lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam: ngâm tắm bùn khoáng, ngâm tắm khoáng nóng, hồ bơi khoáng ấm và hồ phun mưa khoáng nóng.
14. Bãi biển Đại Lãnh
Vị trí: Bãi biển Đại Lãnh thuộc địa phận huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, nằm bên quốc lộ 1A, cách Nha Trang khoảng 80km về phía bắc.
Ðặc điểm: Đại Lãnh là một trong những bãi biển đẹp nhất miền Trung với dải cát dài trắng mịn và những hàng phi lao chạy dài.
15. Bãi Trũ
Vị trí: Bãi Trũ nằm trên đảo Hòn Tre thuộc phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Đây là một trong những bãi tắm tự nhiên vào loại lý tưởng và đẹp nhất của tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt là độ tinh khiết của nước biển, của bờ cát cùng môi trường xung quanh.
16. Hòn Ông
Vị trí: Hòn Ông là một đảo nhỏ nằm trong vịnh Văn Phong thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Hòn Ông - điểm du lịch của Khánh Hòa vẫn giữ được vẻ hoang sơ với những dải cát trắng mịn bên bờ biển xanh tinh khiết.
17. Hòn Tằm
Vị trí: Hòn Tằm nằm ở phía nam vịnh Nha Trang, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Khu du lịch Hòn Tằm là một điểm du lịch sinh thái biển đảo hấp dẫn, nơi đây vẫn còn lưu lại vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới xanh mướt, bờ cát dài lãng mạn.
18. Khu bảo tồn biển Hòn Mun
Vị trí: Hòn Mun nằm ở phía nam vịnh Nha Trang, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Được gọi là Hòn Mun vì phía đông nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác.
19. Vịnh Cam Ranh
Vị trí: Vịnh Cam Ranh thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Vịnh Cam Ranh được xem là một trong ba vịnh thiên nhiên tốt và đẹp nhất thế giới, với diện tích vùng vịnh kín tới 60km² và độ sâu trung bình 18 - 20m nước.
21. Khu du lịch Dốc Lết
Vị trí: Khu du lịch Dốc Lết nằm ở địa phận bờ biển Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang chừng 50km về phía bắc.
Ðặc điểm: Dốc Lết có những cồn cát trắng tinh chạy dài, cao hàng chục mét phía trênhàng dương, ngăn cách đất liền với biển.
22. Vịnh Vân Phong
Vị trí: Vịnh Vân Phong thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang khoảng 80km về phía bắc.
Ðặc điểm: Đây thực sự là một kỳ quan thiên nhiên với khí hậu ôn hoà, bãi biển đẹp, cát mịn, núi đồi hùng vĩ bao quanh.
23. Khu du lịch Con Sẻ Tre
Vị trí: Khu du lịch Con Sẻ Tre nằm trải dài ở phía nam đảo Hòn Tre thuộc vịnh Nha Trang, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, đối diện và cách bờ biển Nha Trang 3km.
Ðặc điểm: Từ một hòn đảo đá, Con Sẻ Tre được xây dựng thành một khu du lịch thơ mộng tại Nha Trang.
24. Khu du lịch Hòn Chồng
Vị trí: Khu du lịch Hòn Chồng thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Hòn Chồng là một quần thể khối đá lớn với đủ loại hình thù, xếp chồng lên nhau chạy từ bờ cao xuống biển như có một bàn tay khổng lồ nào xếp đặt, tạo dựng trong một trò chơi xếp hình tinh nghịch.
25. Đầm Nha Phu, Hòn Lao, Hòn Thị
Vị trí: Khu du lịch sinh thái đầm Nha Phu, Hòn Thị, Hòn Lao thuộc địa phận huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố biển Nha Trang 15km về phía bắc.
Ðặc điểm: Vịnh Nha Phu quanh năm sóng lượn êm đềm, giữa biển trời trong xanh, cụm đảo thơ mộng như những cánh buồm no gió lao ra biển khơi xa.
26. Làng cổ Phú Vinh
Vị trí: Làng cổ Phú Vinh thuộc xã Vĩnh Thạnh, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Ðặc điểm: Làng cổ Phú Vinh có lịch sử trên 200 năm và còn lưu lại trong lòng mình khá nhiều ngôi nhà cổ, mang đậm nét miền Trung.
27. Đàn đá Khánh Sơn
Vị trí: Đàn đá Khánh Sơn thuộc huyện miền núi Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hoà.
Ðặc điểm: Từ năm 1979, tại Khánh Sơn đã phát hiện ra những bộ đàn đá, một loại nhạc cụ vào loại cổ sơ nhất của loài người (bộ đàn đá đầu tiên trên thế giới được phát hiện năm 1949 tại Tây Nguyên - Việt Nam do ông G.Condominas, kỹ sư người Pháp).
28. Khu du lịch sinh thái Ba Hồ
Vị trí: Khu du lịch sinh thái Ba Hồ nằm trên địa phận huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang gần 30km.
Ðặc điểm: Địa danh Ba Hồ nổi tiếng hấp dẫn du khách bằng vẻ đẹp thiên nhiên còn giữ nguyên nét hoang sơ, lãng mạn của sông hồ, rừng núi.
29. Lễ hội Tháp Bà - Pô Nagar
Thời gian: 20 - 23/3 âm lịch.
Địa điểm: Phường Vĩnh Phước, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đối tượng suy tôn: Nữ thần Xứ Sở (người Chăm).
Đặc điểm: Các nghi lễ: tắm tượng và thay y, múa dâng Bà, đua ghe và đêm có hát bội.
30. Khu vui chơi và giải trí Vinpearl land
địa điểm: đảo Hòn Tre, Nha Trang, Khánh hòa
web: vinpearlland.com

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

âu chuyện ly kỳ về Tỳ Hưu phong thủy

Tỳ Hưu là linh vật có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm.

Nguồn gốc Tỳ Hưu

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.
Tyhuu1.jpg
Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.

Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.
Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy. Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.
Tyhuu2.jpg
Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung Vua và Hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng sự linh nghiệm của con vật này đã khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.

Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.
Tyhuu3.jpg
Tỳ Hưu chế tác bằng độc ngọc, một loại ngọc cực hiếm
Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh?

Người Trung Quốc quan niệm chữ Vương có một "dấu chấm thủy" thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm, mà ngọc tự nhiên thì mới quý.

Chuyện Tỳ Hưu với Hoà Thân

Thiếu thời nhà Hòa Thân rất nghèo, nghèo đến nỗi không có đủ 10 lượng bạc nộp cho quan để xin nhận lại chức quan nhỏ của cha truyền lại. Nhờ ông Liêm (sau này là cha vợ) cho 10 lạng bạc mà Hòa Thân có cơ hội bước vào quan trường.

Thời Vua Càn Long, Hòa Thân là nhân vật “dưới một người trên triệu triệu người” (Trong phim “Tể Tướng lưng gù hoặc Lưu gù (Lưu Dung)” chúng ta đã biết về nhân vật Hòa Thân). Ngân khố nhà vua ngày càng vơi mà nhà Hòa Thân ngày càng giàu với câu nói nổ tiếng: “Những gì nhà Vua có thì Hoà Thân có, còn những gì Hoà Thân có Vua chưa chắc đã có”.

Đến khi Hòa Thân bị giết, quan quân đã tá hỏa khi thấy tài sản Hòa Thân bị tịch thu nhiều gấp 10 lần ngân khố nhà vua đang có.
Tyhuu4.jpg
Hòa Thân có 2 vật trấn trạch được cất giấu trong hòn giả sơn trước nhà đó là con Tỳ Hưu và chữ Phúc do chính vua Khang Hy viết tặng bà nội, nhân ngày mừng thượng thọ. Khi đập vỡ hòn giả sơn, các quan mới phát hiện trong núi đá ấy có con Tỳ Hưu, mà con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn Tỳ Hưu của vua.

Ngọc để tạc con Tỳ Hưu của Hoà Thân là ngọc phỉ thúy xanh lý mát rượi, trong khi Vua chỉ dám tạc bằng bạch ngọc. Bụng và mông con Tỳ Hưu của Hòa Thân to hơn bụng, mông con Tỳ Hưu của Vua và như thế khiến Hòa Thân nhiều vàng bạc hơn Vua.

Sau khi tịch thu con Tỳ Hưu, nhà Vua không thể tịch thu chữ “Phúc” kia được bởi chữ Phúc đã được gắn chết vào đá hồng ngọc; nếu đập đá ra lấy chữ thì đá sẽ vỡ, như thế thì phúc tan. Mà chữ thì do Vua Khang Hy viết nên không ai dám phạm thượng. Thế là đành để “Phúc” lại cho nhà Hòa Thân, có lẽ vì thế nên dù phạm nhiều tội tày đình nhưng Hòa Thân chỉ chết một mình, thay vì phải bị tru di tam tộc.

Và ngày nay sự linh nghiệm của Tỳ Hưu vẫn hiện hữu trong nhân gian, vẫn mang lại nhiều may mắn về tài lộc, sức khỏe, công danh cho người sử dụng theo từng màu sắc của Tỳ Hưu.