Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Xī Shī / Tây Thi 西施



Tây Thi (西施; 506 TCN-?) là một người con gái đẹp thời Xuân Thu và là một trong Tứ đại Mỹ nhân Trung Quốc. Tây Thi có sắc đẹp được coi làm lặn (trầm ngư), là người đã có công trong việc giúp Phạm Lãi, Việt Vương Câu Tiễn diệt vua Ngô Phù Sai
Truyền thuyết
Tây Thi là con một người kiếm củi họ Thi, nàng dệt vải ở núi Trữ La, Gia Lãm, thuộc nước Việt cổ. Trữ La có hai thôn: thôn Đông và thôn Tây, vậy nên gọi là Tây Thi. Tương truyền Tây Thi đẹp đến nỗi, ngay cả khi nàng nhăn mặt cũng khiến người ta mê hồn.
Khi cô giặt áo bên bờ sông, bóng cô soi trên mặt nước sông trong suốt làm cô thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy cô, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng cô là "Tây Thi Trầm Ngư".
Trong trận đánh quyết tử với Ngô, do không nghe lời can gián của Văn Chúng và Phạm Lãi nên vua nước Việt là Câu Tiễn bại trận, bị bên Ngô buộc vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin. Câu Tiễn quyết chí trả thù, Văn Chủng trước khi Câu Tiễn sang Ngô đã hiến cho vua 7 kế, trong đó có một kế là "Mỹ nhân kế"-dâng người đẹp mê hoặc vua Ngô. Trong vòng nửa năm, Câu Tiễn tuyển được 2000 mỹ nữ, trong đó có hai người đẹp nhất là Tây Thi và Trịnh Đán.
Nam Cung Bắc tả Tây Thi qua con mắt của Câu Tiễn và Phạm Lãi:
Câu Tiễn bắt gặp ngay đôi mắt trong suốt như dòng suối lạnh, lòng đen đen tuyền óng ánh phát hào quang, thoáng chốc như hớp hồn nhà vua
Tây Thi như một đóa hoa còn chớm nụ hàm tiếu, bao nhiêu nét tươi trẻ thanh xuân dường như ẩn hiện trong góc mắt đuôi mày. Mắt nàng trong suốt, mày nàng phương phi, miệng nàng chúm chím, đường nét tạo thành nàng dường như là ảo tưởng.
Có nhiều chuyện đã được dựng thành phim kể về mối tình Tây Thi - Phạm Lãi, Tây Thi - Phù Sai.

Tây Thi - Phạm Lãi

Khi lựa chọn Tây Thị và Trịnh Đán đưa sang Ngô, lúc ấy Phạm Lãi và Câu Tiễn chưa hề biết mặt nàng. Nhưng khi qua đến xứ người, Tây Thi bí mật liên lạc với hai người này, đồng thời lo lót cho Bá Hi vốn là nịnh thần của Ngô vương Phù Sai để y nói giúp Phù Sai nhằm giảm bớt cực nhọc cho Câu Tiễn.
Công lao của Tây Thi ở nước Ngô rất lớn, mặc dù nàng và Phạm Lãi lúc ấy đã phải lòng nhau, nhưng không hề bộc lộ ra mặt mà âm thầm giúp sức cho Câu Tiễn vốn đang nhịn nhục tìm cách trả thù. Ngô Phù Sai bắt vợ chồng Câu Tiễn phải làm cỏ mộ, mặc áo vải xấu, mỗi ngày chỉ ăn một chén cơm hẩm. Tây Thi và Phạm Lãi cũng âm thầm cấu kết với Bá Hi trợ cấp thêm một số lương thực cho vợ chồng Câu Tiễn khỏi chết đói. Có giả thuyết cho rằng, sau khi diệt được Ngô vương Phù Sai, vợ của Việt vương Câu Tiễn sợ rằng sắc đẹp của Tây Thi sẽ lôi cuốn Câu Tiễn nên tìm kế giết. Phạm Lãi biết chuyện đã dắt Tây Thi bỏ đi trốn vào Ngũ Hồ.

Tây Thi - Phù Sai

Phù Sai được Tây Thi, mừng và rất chiều chuộng nàng:
Tây Thi được ở đài Cô Tô với Phù Sai, mỗi khi đi chơi đâu thì nghi vệ chẳng khác gì phi hậu. Trịnh Đán ở Ngô cung, ghen với Tây Thi, uất ức không nói ra được, hơn một năm thì chết. Phù Sai thương lắm, đem chôn ở núi Hoàng Mao và lập đền thờ cúng. Chuyện này sau sẽ kể tiếp, bây giờ hãy nói Phù Sai yêu Tây Thi, sai Vương Tôn Hùng lập ra cung Quán Khuê ở núi Linh Nham, trang sức toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra chơi. Ở đấy có lập ra Hưởng Điệp lang. Tại sao lại gọi là Hưởng Điệp? Điệp là chiếc guốc. Nguyên là người ta đào hầm ở dưới đất chỗ hành lang, đặt ở đấy rất nhiều chum, bên trên lát ván, để Tây Thi và cung nhân đi guốc lượn ở đấy, tiếng kêu leng keng, cho nên gọi là hưởng điệp. Trên núi có hồ Ngoạn Hoa, ao Ngoạn Nguyệt. Lại có giếng gọi là giếng Ngô Vương, nước trong suốt, Tây Thi thường đứng ở trên mà soi mặt, Phù Sai đứng ở bên cạnh, sẽ lấy tay vuốt tóc cho Tây Thi. Lại có động gọi là động Tây Thi, Phù Sai và Tây Thi cùng ngồi ở đấy, đá ở ngoài cửa động có nhiều chỗ sụt, nay người ta gọi là vết chân Tây Thi. Trên núi lại có Cầm Đài, Phù Sai thường cùng với Tây Thi gẩy đàn ở đấy. Phù Sai lại sai người trồng hoa ở Hương Sơn, để Tây Thi và cung nhân chở thuyền đi hái hoa. Nay vẫn còn một dãi nước ở phía nam núi Linh Nham, đó tức là chỗ Tây Thi hái hoa ngày xưa. Lại có Thái Liên hình ở phía đông nam thành đô, đó là chỗ Phù Sai cùng Tây Thi hái sen. Phù Sai lại bắt đào một con sông nhỏ ở trong thành, từ nam sang bắc, rồi làm cái buồm gấm để đi chơi thuyền, gọi là Cẩm Phàm hình. Phía nam đô thành có Trường Châu uyển, để làm nơi săn bắn. Lại có Ngư Thành để nuôi cá, Áp Thành để nuôi vịt, Kê Bi để nuôi gà, Tửu Thành để nấu rượu. Lại thường cùng với Tây Thi ra nghỉ mát tại Nam Loan ở Tây động đình, đó là một cái vịnh độ hơn mười dặm, ba mặt đều là núi, chỉ có mặt nam trông như cửa khuyết. Phù Sai cho chỗ ấy là một nơi có thể qua mùa hè được, mới đặt tên là chỗ Tiên.(Trích đoạn Đông Chu liệt quốc)
Phù Sai là một vị vua anh hùng, nhưng từ khi Tây Thi xuất hiện thì lại lơi lỏng việc nước, bỏ bê chính sự. Tây Thi theo kế của Văn Chủng ra sức mê hoặc khiến vua Ngô ngày đêm cùng nàng chìm đắm trong xa hoa, hưởng lạc, dần dần mất hết ý chí. Bởi chỉ khi nước Ngô suy yếu thì Việt mới có cơ hội phục thù.
Tuy nhiên, việc Phù Sai cho Câu Tiễn về nước phần lớn đều do Tây Thi tác động. Trong một đêm trà dư tửu hậu, Tây Thi sau khi hết lời ca ngợi Phù Sai rồi chuyển qua phỉ báng vua của mình. Nàng khuyên Phù Sai nên tha cho Câu Tiễn vì nhìn vợ chồng ông vua này đã ở dưới đáy bùn của sự sỉ nhục, không còn khí thế của vua chúa nữa. "Ngài đối xử tệ bạc với họ chẳng khác nào để cho quần hùng trong thiên hạ chê cười". Sau nhiều lần suy nghĩ, bỏ mặc ngoài tai lời can ngăn của Ngũ Tử Tư, Phù Sai thả vợ chồng Câu Tiễn và Phạm Lãi về nước Việt. Vì vậy trong mắt người nước Ngô, Tây Thi đích thực là một yêu cơ khuynh đảo cả triều chính, còn đối với dân nước Việt thì nàng là một nữ nhi yêu nước, đem thân mình ra cứu nguy xã tắc nước Việt.

Hậu sự

Có nhiều thuyết nói về kết cục của Tây Thi. Có thuyết cho rằng Phạm Lãi rủ người đẹp Tây Thi lên thuyền đi vào Ngũ Hồ, cắt đứt mọi mối quan hệ với thế giới bên ngoài, sống cuộc đời phóng khoáng tự do, khi ca hát, khi câu cá, lúc đọc sách, mặc cho thời gian trôi qua.
Nhưng có thuyết khác bác bỏ ý trên. Đông Chu Liệt Quốc cho rằng khi diệt được Ngô, Câu Tiễn định mang Tây Thi về Việt nhưng vợ Câu Tiễn ghen nên bí mật sai người bắt nàng, buộc đá vào cổ và đẩy xuống sông cho chết. Vì thế Phạm Lãi chỉ đi một mình.
La Ôn có thơ minh oan cho Tây Thi rằng:
"Nước nhà còn mất bởi cơ trời
Sao cứ Tây Thi đổ lỗi hòài ?
Tây tử nếu làm Ngô mất nước
Thì xưa Việt mất bởi tay ai ?"

Văn học

Hình ảnh nàng Tây Thi hấp dẫn hơn khi đang nhăn mặt vì đau trên bờ suối khiến cho một cô gái khác bắt chước nhăn mặt theo, nhưng lại bị nhiều người cười chê đã trở thành một điển tích văn học.
Truyện ngắn Việt Nữ kiếm của Kim Dung đưa nhân vật Tây Thi vào với tên là Di Quang. Trong truyện, khi gặp Tây Thi, nhân vật A Thanh đang sát khí đằng đằng cũng phải khâm phục thốt lên:"Trong ... trong đời này, sao lại có người ... có người đẹp đến thế? Phạm Lãi, cô ấy còn đẹp hơn những gì ông mô tả!" [1]

Liên kết ngoài

http://www.sznews.com/reading/images/site3/20060809/re060801022.jpg

Quốc sắc Trung Hoa


Nhiều triều đại quân chủ ở Trung Hoa xưa kia từng tổ chức tuyển lựa quốc sắc thiên hương không phải để trao danh hiệu hoa hậu như ngày nay, mà cốt kén chọn bậc “mẫu nghi thiên hạ” nhằm tấn tôn hoàng hậu. Bài này điểm qua những sự kiện lịch sử liên quan, rồi trình bày về quy mô, trình tự và tiêu chí tuyển lựa “siêu mỹ nữ” của cung đình nhà Minh.




TỪ THỜI XUÂN THU ĐẾN NHÀ NGUYÊN

    Đợt tuyển chọn mỹ nữ mang tính chất nhà nước đã được tiến hành lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa từ bao giờ? Từ năm 845 trước Công nguyên.

    Theo sách Ngô Việt Xuân Thu do Triệu Hoa soạn vào thời Đông Hán, Việt vương Câu Tiễn bị Ngô vương Phù Sai cầm tù. Sai được thả về, Câu Tiễn nuôi chí báo thù, bèn hỏi đại phu Văn Chủng: “Ta nghe Ngô vương đa dâm hiếu sắc, vậy tính kế gì hay chăng?”. Văn Chủng đề nghị dùng mỹ nhân kế bằng cách chọn đôi nàng tuyệt đẹp để dâng Phù Sai khiến y say đắm mà xao lãng chính sự. Câu Tiễn liền phái người lùng khắp nước Việt, tìm bằng được hai thiếu nữ cá lặn chim sa, rốt cuộc phát hiện hai cô gái quê mùa ở sâu trong xòm núi Trữ La. Một nàng là Trịnh Đán. Nàng kia là Tây Thi. Họ được đưa về cung Mỹ Nhân bên ngoài thành Cối Kê suốt ba năm ròng để học lễ nghi, điểm trang, ca múa. Xong, Câu Tiễn mới cử tướng Phạm Lãi đưa hai nàng tới hiến cho Phù Sai. Thoạt liếc dung nhan hai nàng, nhất là Tây Thi, Ngô vương cảm thấy… mê tít. Mặc dầu trung thần Ngũ Tử Tư đề cao cảnh giác đã lên tiếng can gián, Phù Sai vẫn thu nhận hai nàng. Ngô vương đặt Tây Thi hiệu Di Quang, đặt Trịnh Đán hiệu Tu Minh, rồi cho xây sửa bao công trình sang trọng – như đài Cô Tô, hồ Thiên Trì, quán Hải Linh, cung Quảng Oa – làm nơi hưởng lạc cùng các giai nhân. Kế sách của Câu Tiễn đạt kết quả khả quan: chỉ thập niên sau, nước Việt chuyển yếu thành mạnh, tiến quân tiêu diệt nước Ngô vào năm 473 trước Công nguyên.

    Sự kiện và nhân vật nêu trên được nhiều thư tịch ghi nhận với lắm tình tiết khác nhau. Chiến quốc sách còn chép: “Tây Thi bận áo vải thô, thiên hạ cũng thảy đều khen đẹp”. Vô số tác phẩm văn học nghệ thuật ở Trung Hoa xưa nay tán dương nhan sắc Tây Thi chẳng tiếc lời. Riêng thơ Đường có hàng loạt bài lấy nhân vật ấy làm đề tài sáng tác, như Tây Thi của La Ẩn, Vịnh nàng Tây Thi của Vương Duy, Phiến đá Tây Thi của Lâu Dĩnh, Vịnh núi Trữ La của Đỗ Phủ, v.v. Dư luận cũng nhất trí xếp Tây Thi đứng đầu “tứ đại mỹ nhân” của Trung Hoa, tuy rắng hậu thế chẳng hề biết cụ thể về… thể hình nàng!

    Mãi tới thời Hán, triều đình mới bắt đầu từng bước hoàn chỉnh việc tuyển chọn quốc sắc để làm hậu phi cho đấng thiên tử: cứ đến tháng 8 âm lịch hằng năm đều tổ chức kén lựa mỹ nhân tại Lạc Dương. Trước tiên, đòi hỏi đối tượng phải là thiếu nữ trong độ tuổi 13~20, xuất thân từ lương dân. Kế đến, chọn người tính tình hiền thục, có ngoại hình xinh xắn cùng tác phong đoan trang. Tiếp theo, một nữ quan giỏi tướng pháp đưa từng thí sinh vào buồng kín để tắm gội cho nàng, thực chất là kiểm tra toàn bộ cơ thể rồi mật trình bằng văn bản để hoàng đế quyết định.

    Cuộc tuyển lựa giai nhân “vô tiền khoáng hậu” xảy ra năm Quý Tị 273, niên hiệu Thái Thủy thứ IX, đời Tấn Vũ Đế. Nhà vua hạ chiếu: buộc con gái chưa gả chồng của các gia đình sĩ tộc tập trung để triều đình chọn làm cung nữ. Người quyết định kết quả các đợt tuyển là Dương Quỳnh Chi – chính là… hoàng hậu của Tấn Vũ Đế. Tiêu chí lựa chọn gói gọn trong 4 chữ: mỹ nhi trường bạch (xinh đẹp, trẻ trung, cao lớn, trắng trẻo). Độc đáo nhất là chiếu chỉ quy định: “Cuộc tuyển chưa xong thì cấm tuyệt thiên hạ làm lễ cưới hỏi!”. Sau cuộc tuyển sắc đại quy mô ấy, theo Tấn thư, số lượng mỹ nữ trong hậu cung tăng tới mức kỷ lục: 5.000 nàng.

    Thời Tống hoàn toàn không tổ chức tuyển chọn giai nhân công khai. Thành phần phi tần tiến ngự được triều đình nhà Tống kín đáo kiếm tìm một cách nghiêm cẩn trong tầng lớp danh gia vọng tộc mà thôi.

    Nhà Nguyên do người Mông Cổ thiết lập, song chuyện triều chính có nhiều điều phỏng theo hoàng gia Hán tộc, kể cả việc tuyển gái đẹp trong dân gian song lại hạn chế số lượng nạp cung. Nguyên Thái Tổ rồi Nguyên Thái Tông, mỗi vị chỉ thu nhận 28 mỹ nữ. Đến đời Nguyên Huệ Tông (tức Thuận Đế), số lượng cung nhân phát triển hơn trăm người, đặc biệt là tuyển cả người… nước ngoài. Hoàng Giả Hốt Đô, một phụ nữ Cao Ly (Triều Tiên), rất được Thuận Đế sủng ái nên sách phong hoàng hậu.

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Tại sao Israel luôn xung đột với thế giới Ả Rập?

Thực chất và nguồn cội dẫn đến cuộc xung đột không chấm dứt giữa các quốc gia Ả Rập và chính quyền Do Thái Israel trong hàng thập kỷ qua là vấn đề Palestine. Đây là cuộc tranh chấp lãnh thổ tồn tại nhiều mâu thuẫn đan xen và lâu đời nhất trong lịch sử thế giới thời kỳ đương đại.

Sự tranh chấp ấy đã gây ra các cuộc chiến tranh và xung đột tranh giành liên miên có lúc chấm dứt, lúc tiếp tục làm cho Trung Đông trở thành một trong những điểm nóng mà cả thế giới đều quan tâm.

Xin giới thiệu loạt bài tư liệu có tính chất lịch sử giúp độc giả nắm thêm thông tin về nguồn gốc cuộc xung đột giữa Israel và người Palestine.

  Lịch sử hình thành vùng đất Palestine

Palestine có lịch sử văn minh lâu đời, Jerusalem là nơi hội tụ của ba tôn giáo lớn là đạo Ki tô; đạo Do Thái và đạo Hồi. Tên gọi xa xưa của Palestine là Canaan. Tổ tiên của người Palestine và người Do Thái đã xây dựng quốc gia ở đây. 3.000 trước Công Nguyên, một số người Canaan của bộ lạc bán du mục từ bán đảo Ả Rập chuyển đến sinh sống và định cư tại đây.

Năm 2.000 trước Công Nguyên họ lập ra nhà nước Canaan, sau đó người Phoenicia chuyển đến sinh sống tại khu vực ven biển Palestine và thành lập nhà nước Phoenicia. Từ Phoenicia theo tiếng Hy Lạp là Palestine và tên gọi này vẫn được sử dụng cho đến tận bây giờ.

Khoảng thế kỷ thứ XIX trước Công Nguyên, tổ tiên của người Do Thái là người Ebrai sinh sống gần sông Phơrát chuyển đến vùng đất của người Palestine sinh sống. Bộ tộc đầu tiên của người Do Thái tiếp nhận nền văn hoá của người Palestine và bắt đầu cuộc sống định cư tại khu vực này. Người Ebrai liên tục đánh nhau với người Canaan và người Phoenicia đã sinh sống ở khu vực này từ trước.



Người Do Thái (ảnh minh họa - AP)
Năm 1023 trước Công Nguyên, vương quốc đầu tiên của người Ebrai được thành lập trên đất Palestine và đóng đô ở Jerusalem (Từ Jerusalem theo ngôn ngữ Do Thái có nghĩa Thành phố hoà bình). Người Do Thái từ đó đã xây dựng ở đây thánh điện riêng có quy mô rất bề thế. Chính vì vậy, Jerusalem đã trở thành một trung tâm tôn giáo và chính trị đầu tiên của tộc người Do Thái.

Năm 64 trước Công Nguyên, đế quốc La Mã đánh chiếm Palestine và thực hiện chế độ thống trị tàn bạo đối với vùng đất Palestine. Người Do Thái vùng lên chống lại chế độ thống trị của La Mã và đã tiến hành lần lượt 4 cuộc khởi nghĩa quy mô lớn.

Tuy nhiên, người La Mã thực thi các biện pháp đàn áp đẫm máu, giết chết cả triệu người Do Thái, rất nhiều trong số họ được đưa sang châu Âu làm thân phận nô lệ. Nhiều nhóm người Do Thái chạy trốn được sang các nước thuộc Tây Âu ngày nay là Anh, Pháp, Đức, Italia.

Một số khác chạy sang khu vực Đông Âu và Nga, thậm chí cả sang khu vực Bắc Mỹ. Thánh địa của người Do Thái bị tàn phá chỉ còn lại vài bức tường phế tích. Đối với người Do Thái ở khắp nới trên thế giới Jerusalem được xem như vùng đất thánh thiêng liêng.

Thế kỷ thứ VII sau Công Nguyên, đạo Hồi ra đời và phát triển mạnh mẽ ở bán đảo Ả Rập, phong trào Ả Rập nổi lên và chủ nghĩa Ả Rập ra đời. Năm 637 người theo đạo hồi đưa quân sang chinh phục vùng đất Palestine biến nơi đây thành một bộ phận của thế giới Ả Rập.

Năm 692, Vua Halipha tiến hành xây dựng tại thánh điện Jerusalem nhà thờ hồi giáo Al Aqsa – nhà thờ đạo Hồi lớn thứ 3 sau thánh địa Mecca và Đền tiên tri Medine. Về sau này người Ả Rập từ bán đảo Ả Rập liên tục kéo đến sinh sống tại Palestine.

Người Ả Rập từng bước đồng hoá dân cư bản địa hình thành người Ả Rập Palestine hiện đại như ngày nay. Từ đời này qua đời khác, họ sinh sôi nảy nở và định cư tại đây, và nghiễm nhiên trở thành những chủ nhân của mảnh đất Palestine.

Từ năm 1096 đến năm 1291, Palestine đã từng bị Thập tự chinh châu Âu tiến đánh về phía Đông. Năm 1518 lại bị quân đội của Đế chế Oman xâm chiếm, thống trị trong 400 năm liên tục. Tuy nhiên, cả nửa thế kỷ bị thống trị nhưng người Ả Rập Palestine vẫn không bị đồng hoá và thay đổi thuộc tính.

Lúc này, những người Do Thái đang phiêu bạt ở khắp nới trên thế giới được gần 2.000 năm, một số đã đồng hoá với dân cư bản địa. Tuy vậy, phần đông các cộng đồng người Do Thái vẫn giữ được tín ngưỡng, văn hoá và tập tục riêng của mình. Một số người rất giỏi kinh doanh buôn bán đã lập những xí nghiệp và tập đoàn lớn ở các nơi trên thế giới nơi họ đang sinh sống.

Những người này dần dần tích luỹ được nhiều vốn liếng và của cải và luôn mâu thuẫn với giai cấp tư sản nơi đó. Chính vì vậy, tại các nước tư bản dấy lên các phong trào chống Do Thái, thậm chí tiến hành các chiến dịch giết hại dã man người Do Thái trên khắp thế giới.



Người Do Thái cầu nguyện
Trước làn sóng chống Do Thái xảy ra liên tục thời kỳ đó, từ đầu thế kỷ XVII, người Do Thái đã có chủ trương trở về nơi tổ tiên của họ đã từng khởi nghiệp là vùng đất thánh Jerusalem xây dựng lại đất nước của riêng người Do Thái. Tuy nhiên, tư tưởng phục quốc của các cộng động người Do Thái trên khắp thế giới mới vừa được nhen nhóm hình thành nên ảnh hưởng vẫn còn chưa lớn và còn được ít người ủng hộ.

Đến giữa thế kỷ XIX, sau khi Sa Hoàng Nga tàn sát người Do Thái trên quy mô lớn, châu Âu lại tiếp tục dấy lên phong trào bài Do Thái do giai cấp tư sản phát động đã làm tiêu tan hy họng dựa vào giai cấp tư sản của châu Âu để giành lại chính quyền từ tay người Ả Rập Palestine.

Sau thời kỳ khó khăn đó không lâu, chủ trương phục quốc Do Thái lại được người Do Thái âm thầm phát động. Kể từ đó xuất hiện cụm từ Chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Sionism) lấy tên ngọn núi Sion ở Jerusalem để kêu gọi cộng đồng người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về vùng đất tổ tiên xây dựng một quốc gia độc lập. Người sáng lập Chủ nghĩa phục quốc Do Thái là Teodo Hec.

Năm 1896 ông viết cuốn cương lĩnh có tên “Nước Do Thái” tuyên truyền quan điểm tư tưởng là người Do Thái sinh sống trên khắp thế giới dù ở bất kỳ quốc gia nào đều cấu thành một dân tộc thống nhất và người Do Thái không thể hoà hợp đồng nhất với các dân tộc phi Do Thái. Để thoát khỏi nạn diệt chủng, người Do Thái phải thay đổi địa vị vô quyền bằng cách xây dựng một nhà nước Do Thái thống nhất.

Tháng 8/1897, Đại hội Chủ nghĩa phục quốc Do Thái  đầu tiên được tổ chức tại Basel -Thụy Sỹ. Đại hội này đã thông qua cương lĩnh Basel được các đại biểu  Do Thái nhất trí thông qua.

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản độc quyền đã hình thành tại các nước đế quốc lớn của thế giới, cuộc đấu tranh giành giật thuộc địa trở lên gay gắt chưa từng có. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ I, Đế quốc Oman của Thổ Nhĩ Kỳ bị tan rã hoàn toàn, Anh và Pháp thay thế vị thế thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ ở Trung Đông. Theo bản hiệp định năm 1961, Anh và Pháp phân chia lãnh thổ của Đế chế Oman.

Vùng đất Palestine rơi vào tay cai trị của người Anh. Tuy nhiên, cả Anh và Pháp đều muốn tranh giành nhau những quốc gia thuộc địa đang cai trị ở Trung Đông luôn luôn gay gắt. Lợi dùng tình hình ấy, giới lãnh đạo Chủ nghĩa phục quốc Do Thái đề nghị với Đế quốc Anh (lúc đó đang mạnh nhất thế giới) rằng nếu người Do Thái xây dựng được một nhà nước ở Palestine thì đó sẽ là pháo đài bảo vệ châu Âu trước các thế lực của châu Á.

Lúc đó người Anh đang ở thế thượng phong so với người Pháp và người Nga ở Trung Đông đang rất muốn tìm thế lực thay thế để có thể khống chế chặt chẽ Trung Đông nên đã lợi dụng ngay lời đề nghị của giới lãnh đạo Do Thái thực hiện kế hoạch “xây lá chắn” bảo vệ châu Âu, khống chế kênh đào Suez, mở tộng phạm vi thế lực ở Trung Đông. Hai bên đã hợp tác với nhau từ từ đó.

Ngày 2/11/1917, Ngoại trưởng Anh lúc đó là Banpho đã viết thư cho giới lãnh đạo Chủ nghĩa phục quốc Do Thái và nhà tài phiệt Do Thái có tên Loseto tuyên bố nước Anh ủng hộ việc thành lập tại Palestine một nhà nước của người Do Thái. Ngay sau tuyên bố ủng hộ, người Anh với vị thế có lợi đã ra sức giứp đỡ người Do Thái từ khắp nới trên thế giới trở về Jerusalem kiến tạo đất nước trên đất Palestine.

Năm 1917, tổng dân số của người Do Thái tại Palestine chỉ có 5 vạn người. Đến năm 1939 đã tăng lên 44,5 vạn. Những người Do Thái sau khi di cư về Palestine với sự giúp đỡ tài chính của các tập đoàn Do Thái giàu có đã cưỡng chế mua lại một số đất đai của người Ả Rập do người Anh hậu thuẫn ngầm. Khi đã giành được đất, người Do Thái không từ bất cứ thủ đoạn nào từ để có thể đuổi người Ả Rập Palestine ra khỏi quê hương mà họ đã sinh sống cả mấy nghìn năm.

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Chu Dung Cơ

Sau khi nghỉ hưu, Ông không tham gia chính trị và đã có bài tổng kết về "Hiểu đời" như sau:
Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.
Qua một ngày mất một ngày
Qua một ngày vui một ngày
Vui một ngày lãi một ngày
Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.
Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.
“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.
Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.
Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.
Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.
Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.
Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.
Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.
Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.
Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).
Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.
Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.
Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.
Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.
Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.
Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.
Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….)
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh)
Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.
Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.
Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.
Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.
“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.
Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.
Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.
Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.
Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già
Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.
Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn./.

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2012

Vua Minh Mạng một đêm "ân ái" 6 phi tần?


Có một giai thoại rằng, để vua Minh Mạng có một "thể chất tiên thiên", các ngự y trong triều đã ngày đêm nghiên cứu, bào chế ra những bài thuốc có tính năng tráng dương bổ thận cho thiên tử dùng, trong đó nổi tiếng là: nhất dạ ngũ giao và nhất dạ lục giao sinh ngũ tử.

Vua Minh Mạng một đêm “ân ái“ 6 phi tần?
Vua Minh Mạng một đêm “ân ái“ 6 phi tần?
Và đến tận bây giờ, trong dân gian vẫn đi tìm, nghiên cứu, siêu tầm những công thức bài thuốc ấy để được tận hưởng những cảm giác mà ông vua này đã thưởng qua.
Vị vua nhiều cái nhất
Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh (25/5/1791 đến 20/1/1825), tức Nguyễn Thánh Tổ là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Minh Mạng là vị vua anh minh nhất của nhà Nguyễn.  Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở kinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thành và Gia Đinh thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi.
Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài. Dưới triều Minh Mạng có nhiều cuộc nổi dậy diễn ra: Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam. Triều đình đã phải đối phó vất vả với những cuộc nổi dậy ấy.
Ngoài việc trừ nội loạn, Minh Mạng còn chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài. Ông đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước trở thành một đế quốc hùng mạnh. Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao; và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang (Phnôm Pênh ngày nay) thành Trấn Tây thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả. Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và đã gây nhiều bất bình với dân chúng ở đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra.
Do không có thiện cảm với phương Tây, Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc với họ. Nhưng vua Minh Mạng còn rất mạnh mẽ, phong phú trong đời sống thường nhật, có lẽ vua Minh Mạng là người được hưởng nhiều vui thú nhất trong các vua Nguyễn ở chốn phòng the. Số phi tần nhiều vô kể, đến nỗi ngày nay nhiều người còn kể về chuyện phòng the phong phú của ông vua này.
Những bài “xuân dược” qua sách vở
Đến nay những bài thuốc này đã thất truyền. Những tài liệu và sử còn ghi lại 2 bài thuốc trên có thành phần và cách uống kèm theo như sau: Nhất dạ ngũ giao - Thành phần: Nhục thung dung 12g, táo nhân 8g, xuyên quy 20g, cốt toái bổ 8g, cam cúc hoa 12g, xuyên ngưu tất 8g, nhị hồng sâm 20g, chích hoàng kỳ 8g, sinh địa 12g, thạch hộc 12g, xuyên khung 12g, xuyên tục đoạn 8g, xuyên đỗ trọng 8g, quảng bì 8g, cam kỷ tử 20g, đảng sâm 10g, thục địa 20g, đan sâm 12g, đại táo 10 quả, đường phèn 300g.
Cách ngâm: đường phèn để riêng, 19 vị thuốc trên đem ngâm với 3 lít rượu nếp ngon trong 5 ngày đêm. Ngày thứ sáu, nấu nửa lít nước sôi với 300g đường phèn cho tan ra, để nguội, rồi đổ vào chậu, trộn đều, đến ngày thứ 10 thì đem ra dùng. Ngày 3 lần sáng, trưa, tối mỗi lần 1 ly trà. Dùng liên tục.
Khoa học đã chứng minh, tinh trùng phải mất nhiều tuần lễ để “trưởng thành”... Ngay cả những cặp đôi có bộ phận sinh sản khỏe mạnh, quan hệ tình dục thoải mái thì khả năng mang thai cũng chỉ chiếm 25%. Điều đó cho thấy việc có thai cũng không phải quá dễ dàng.
Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử gồm những thành phần: thục địa 40g, đào nhân 20g, sa sâm 20g, bạch truật 12g, vân quy 12g, phòng phong 12g, bạch thược 12g, trần bì 12g, xuyên khung 12g, cam thảo 12g, thục linh 12g, nhục thung dung 12g, tần giao 8g, tục đoạn 8g, mộc qua 8g, kỷ tử 20g, thương truật 8g, độc hoạt 8g, đỗ trọng 8g, đại hồi 4g, nhục quế 4g, cát tâm sâm 20g, cúc hoa 12g, đại táo 10 quả.
Cách ngâm: 24 vị thuốc trên ngâm với 2,5 lít rượu tốt trong vòng 7 ngày. Lấy 150g đường phèn nấu với một xị nước sôi cho tan, để nguội rồi đổ vào keo rượu thuốc, trộn đều, đến ngày thứ 10 đem dùng dần. Ngày 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ, sáng, trưa, chiều trước bữa ăn. Bã thuốc còn lại ngâm nước hai với 1,5 lít rượu ngon - một tháng sau dùng tiếp.
Căn cứ theo đó các nhà y học hiện đại cũng như y học cổ truyền cho rằng, không phải nhờ 2 bài thuốc này mà hoàng đế Minh Mạng có sức lực phi thường để một đêm có thể ân ái tới 6 cung phi và kết quả sinh được 5 hoàng tử, công chúa đấy chỉ là câu chuyện thêu dệt.
Theo các nghiên cứu khoa học cũng như tinh dược của các vị thuốc trong 2 bài thuốc nhất dạ ngũ giao và nhất dạ lục giao sinh ngũ tử chỉ là những vị thuốc bổ có tác dụng làm ăn ngon, ngủ yên, mạnh gân cốt, bổ thận tráng dươngmà thôi.
"Xuân dược" có thật hay không?
Qua đó cho thấy, thang thuốc nhất dạ lục giao sinh ngũ tử chỉ là câu chuyện thêu dệt. Một số người vì sinh lý yếu hoặc hiếm muộn đã đi tìm và uống thang thuốc này với mong muốn cải thiện tình hình. Xin đừng vội vã, trước khi uống hãy tham khảo thầy thuốc.
Chữa bệnh cho nam giới, bổ thận tráng dương không phải để sinh hoạt được nhiều. Bổ thận tráng dương là để con người khoẻ mạnh. Còn sinh hoạt tình dục là vấn đề nhỏ nằm trong đó, nhưng không phải ai bổ thận tráng dương cũng đều có sinh hoạt tình dục khoẻ. Các vị thuốc muốn bổ thận tráng dương phải phối hợp với nhau. Ngoài ra bổ thận thì phải kèm theo có bổ gan, bổ tim hay không? Vì tâm là chủ huyết, thận sinh ra khí huyết.
Dù là bài thuốc nổi tiếng, nhưng khi dùng nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc, đúng bệnh, đúng người và đúng liều lượng, không được tuỳ tiện và thái quá. Nếu để trị bệnh thì trước hết, người bệnh phải được thầy thuốc chuyên khoa khám xét tỉ mỉ và chẩn đoán chính xác, sau đó mới chọn phương và bào chế thuốc cho phù hợp.
Trên thực tế, không hiếm người vì lạm dùng hoặc dùng nhầm loại dược tửu không phù hợp đã bị các bệnh lý như: tăng huyết áp, tai biến mạch não, mụn nhọt, dị ứng, viêm cầu thận cấp đái ra máu thậm chí ngộ độc nặng và tử vong. Có không ít người khoẻ mạnh nhưng dùng loại thuốc bồi bổ không phù hợp hoặc thái quá đã trở thành người có bệnh. Hãy thận trọng khi dùng thuốc, kể cả thuốc bổ.
Nên nhớ rằng thuốc, rượu bổ luôn luôn là con dao hai lưỡi: Theo sử sách, vua Minh Mạng không chỉ nổi tiếng ở tài thao lược, mà còn vang danh hậu thế nhờ có sức khoẻ hơn người. Vua Minh Mạng hoạt động chăn gối về đêm đều đặn nhưng hàng ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt. Không chỉ có thế, vua thường thức đến tận canh ba để làm việc. Điều đó cho thấy, vua Minh Mạng có một thể chất tiên thiên - cường tráng bẩm sinh. Chính sự khỏe mạnh đó đã góp phần không nhỏ vào sự vượng con của vị vua này.
Một số tài liệu cũng cho thấy, hoàng đế Minh Mạng có số lượng con nhiều nhất trong 13 đời vua Nguyễn. Vua có sức khỏe phục vụ tam cung lục viện, một đêm có thể chiều đến 5 - 6 cung tần. Ông để lại cho đời 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa.
Như vậy, đến nay trên thị trường có nhiều loại thuốc được gọi là bí quyết xuân dược của vua Minh Mạng, kể cả rượu, thuốc Nam nhưng trên thực tế chưa ai biết thực hư thế nào, vẫn chỉ là lời đồn đoán, thêu dệt.

“Bí ẩn” về họ Thích của người... xuất gia

Những người xuất gia sử dụng chữ Thích làm tộc danh cho mình nhưng vấn đề lịch sử của chữ Thích vẫn còn nhiều điều “bí ẩn” và không phải ai xuất gia cũng mang họ Thích ngay.

Tăng đoàn đầu tiên của Đức Phật đang đi truyền đạo
Tăng đoàn đầu tiên của Đức Phật đang đi truyền đạo
Vấn đề lịch sử... nước ngoài, nước ta
Theo lịch sử Phật giáo Trung Quốc thì việc sử dụng chữ Thích làm tộc danh cho người xuất gia và lâu nay nhiều người cho rằng do Thích Đạo An (năm 312 - 385 đời Tây Tấn) thiết định ra.
Trong sử chép thì vào thời Đạo An, tạng Luật chưa truyền đến Trung Quốc, nề nếp sinh hoạt của Tăng già chưa có định hướng chung. Do vậy, ngài Đạo An đã soạn ra những thanh quy, điều lệ làm cương lĩnh tu tập của Tăng già (người xuất gia - PV), trong đó có quy định dùng chữ Thích làm họ.
Nhưng vấn đề là ngài Đạo An đã dựa vào những cơ sở nào để đặt ra quy định này, cũng như những trường hợp sử dụng chữ Thích trước thời Đạo An sẽ giải thích ra sao?
Do đó, để có thể trở thành một quy định được Tăng già nồng nhiệt đón nhận và có sức sống lâu bền đến ngày nay, việc vận dụng chữ Thích dành cho những người xuất gia nhất định phải xuất hiện trước ngài Đạo An rất lâu và trở nên thịnh hành trong thời Ngài song có thể còn mang tính rời rạc, tự phát.
Theo lịch sử Phật giáo Ấn Độ, trong thời Đức Phật, không có một bằng chứng nào cho thấy vấn đề Pháp danh đã từng được đặt ra. Điều này có thể khẳng định qua việc khảo sát danh tính những đệ tử tiêu biểu của Đức Phật lúc bấy giờ.
Từng con người cụ thể, lịch sử đều ghi nhận về tên tuổi, gia cảnh, đời sống… trước khi theo Đức Phật, cũng như quá trình tu tập giải thoát sau khi về với Phật nhưng tuyệt nhiên không thấy lịch sử đả động gì đến việc họ được Đức Phật đặt cho một tên mới sau khi theo Ngài.
Tên của họ vẫn là tên được cha mẹ đặt cho từ lúc sinh ra cho đến lúc từ giã cõi đời. Nhưng như vậy không có nghĩa là Pháp danh mà chúng ta sử dụng rộng rãi ngày nay không có một liên hệ nào bắt nguồn từ thời Đức Phật.
Sau khi thành Đạo, Ngài ra đi thuyết giáo, thâu nhận môn đệ, thành lập giáo đoàn và có một tên là Sa môn Thích tử mà chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp trong Kinh tạng Nam truyền cũng như tạng Luật. Đây là danh xưng chính thức của giáo đoàn.
Như vậy, tên bộ tộc Thích Ca của Đức Phật được dùng làm biểu tượng của giáo đoàn.
Còn về lịch sử Phật giáo Việt Nam, ngay trong thời của Đức Phật, chữ Thích đã được dùng một cách chính thức và phổ cập, tuy nhiên chưa được sử dụng cho từng trường hợp cụ thể.
Vào khoảng năm 220 - 300 có một nhà sư hiệu là Trúc Đạo Thanh hay còn gọi là Đạo Hinh, đặc biệt vị sư này còn có một tên gọi khác rất quan trọng đối với vấn đề mà chúng ta đang tìm hiểu, đó là Thích Đạo Thanh.
Với niên đại nói trên, ngài Đạo Thanh phải qua đời ít nhất 12 năm trước khi ngài Đạo An ra đời. Như vậy, rõ ràng trước ngài Đạo An, chí ít là tại Việt Nam, chữ Thích đã chính thức được dùng làm họ của người xuất gia.
Nhưng không phải ai đi tu cũng được mang ngay họ Thích
Bởi quá trình được mang họ Thích phải qua những giai đoạn tu học khác nhau. Không đơn thuần là cứ đi tu là có họ Thích ngay.
Người mới đi tu vào chùa, sau một thời gian thử thách, được Thầy của người đó thế phát (cạo tóc - PV). Khi đó người ấy được gọi là chú Tiểu hoặc chú Điệu và được Thầy ban cho một Pháp danh.
Sau khi hoàn tất chương trình học tại chùa khoảng 2 năm chú được Thầy cho đi thọ giới Sa Di do Giáo hội Phật giáo tổ chức và lúc này Thầy sẽ ban cho Pháp Tự.
Trong thời gian làm Sa Di, chú phải hoàn tất chương trình tu học ít nhất là 5 năm sẽ được Thầy cho đi thọ giới Tỳ Kheo tại Đại Giới Đàn do Giáo hội Phật giáo tổ chức gọi là Tuyển Phật Trường. Nếu đỗ, chú Sa Di được thọ giới Tỳ Kheo. Khi thọ giới Tỳ Kheo mới là chính thức trở thành một tu sĩ của Phật Giáo. Bây giờ, chú được Thầy đặt Pháp hiệu. Lúc này mới được dùng chữ Thích đứng trước.
... và không phải tu sĩ nào cũng dùng họ Thích
Trên nguyên tắc thì không riêng gì tu sĩ Phật giáo nước ta mà tất cả tu sĩ Phật giáo khắp nơi trên thế giới, đều mang chung họ Thích. Vì Đức Phật mang họ Thích.
Nhưng việc lấy họ Thích, không phải là một quy luật chung áp dụng cho tất cả. Vấn đề này, còn tùy theo đặc tính và sở thích của mỗi người. Không phải ai cũng đặt cho mình là họ Thích, ít ra là về cách xưng hô cũng như trên những văn kiện giấy tờ.
Thực tế, đã có rất nhiều nhà sư, kể từ khi xuất gia cho đến khi viên tịch, các Ngài không bao giờ lấy chữ Thích. Ví dụ như cố Đại Lão Hòa Thượng Hành Trụ, Ngài thường để là Sa Môn Lê Phước Bình hoặc còn nhiều vị khác chỉ để Pháp danh hay Pháp hiệu mà Thầy Tổ hoặc người đời đặt cho như Thiền sư Vạn Hạnh, Pháp sư Tịnh Không... chứ các Ngài không tự xưng mình là họ Thích.

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

Ngôn ngữ nào khó học nhất trên thế giới?

Hãy đoán thử xem ngôn ngữ nào khó học nhất trên thế giới? Tiếng Anh rõ ràng không phải thứ tiếng quá khó học rồi, tiếng Việt liệu có phải hay không?Người ta đã từng phải nói rằng “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”, tuy vậy, tiếng Việt vẫn chỉ được xếp là ngôn ngữ khó trung bình trên thế giới (theo Voxy.com) mà thôi.
Để đánh giá mức độ khó dễ khi học một ngôn ngữ mới, Voxy đã đánh giá dựa trên các tiêu chí như ngôn ngữ đó có gần với ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn hay không, cấu trúc có phức tạp hay không, bạn cần bỏ bao nhiêu giờ một tuần để học, có bao nhiêu nơi có thể dạy được bạn ngôn ngữ đó … Theo các tiêu chí này, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý, Rumania, Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy, Nam Phi … là các ngôn ngữ dễ học. Lưu ý rằng, việc dễ/khó được xác định dựa trên những người nói thành thạo tiếng Anh hoặc coi tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ.
Trong khi đó, tiếng Việt, tiếng Nga, tiếng Hindi, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Thái Lan, Hy Lạp, Serbia, Hebrew, Phần Lan được xếp vào loại khó trung bình. Các ngôn ngữ như tiếng Hindi, Thái Lan, Hy Lạp … có bảng chữ cái khác hẳn so với tiếng Latin nên chắc chắn sẽ gây khó khăn cho những người học quen sử dụng bảng chữ cái Latin.
Theo đánh giá của Voxy, các ngôn ngữ khó học nhất là tiếng Ả rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn Quốc và tiếng Nhật Bản. Trong đó theo đánh giá chủ quan của người viết thì tiếng Nhật Bản có lẽ là ngôn ngữ khó học để thành thục được nhất ở trên thế giới bởi đúng như Voxy đã trình bày, việc nhớ mặt chữ và phiên âm của tiếng Nhật Bản là khá khó, thậm chí là khó hơn tiếng Trung Quốc.
 
Related Posts

Read more: Ngôn ngữ nào khó học nhất trên thế giới? — Có thể bạn chưa biết...
Under Creative Commons License: Attribution Non-Commercial

Những di tích, địa điểm nào ở Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản thế giới?

Morning, Ha Long Bay
Di sản thế giới là di chỉ hay di tích của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố… do các nước có tham gia Công ước di sản thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO.
Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó. Chương trình này được thành lập bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Công ước di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972. Tính đến năm 2004, có tất cả 788 di sản được liệt kê, trong đó có 611 di sản về văn hóa, 154 di sản về những khu thiên nhiên và 23 di sản thuộc cả hai loại. Các di sản đó hiện diện tại 134 quốc gia.
Một di tích văn hóa phải xác thực, có ảnh hưởng sâu rộng hoặc có bằng chứng độc đáo đối với sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, hoặc di tích đó phải gắn liền với tư tưởng hay tín ngưỡng có ý nghĩa phổ biến, hoặc là điển hình nổi bật của một lối sống truyền thống đại diện cho một nền văn hóa nào đó.
Một di chỉ thiên nhiên có thể điển hình cho một giai đoạn, các quá trình tiến hóa địa cầu, hoặc cho những biến đổi sinh thái học, hoặc bao gồm những vùng cư trú tự nhiên các loài thú bị lâm nguy. Di chỉ thiên nhiên có thể là một khung cảnh đẹp khác thường, một cảnh quan ngoạn mục, hoặc là một khu bảo tồn số lượng lớn các động vật hoang dã.
Tại Việt Nam hiện đã có 10 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới:
  • Di sản vật thể :
    • Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (III) (IV).
    • Vịnh Hạ Long, được công nhận hai lần, năm 1994, là di sản thiên nhiên thế giới, và năm 2000, là di sản địa chất thế giới theo tiêu chuẩn N (I) (III).
    • Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (II) (V).
    • Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (II) (III).
    • Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, năm 2003, là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chuẩn N (I).
    • Hoàng thành Hà nội, năm 2010.
    • Thành nhà Hồ, năm 2011
  • Di sản phi vật thể :
    • Nhã nhạc cung đình Huế,(tháng 11 năm 2003) là di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên ở Việt Nam.
    • Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, (năm 2005) được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa thế giới phi vật thể.
    • Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể – ngày 30/9/2009
    • Ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể – ngày 01/10/2009
Ngoài ra, các hạng mục sau cũng đã được Việt Nam lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận nhưng không thành công :
  • Chùa Hương (hỗn hợp) – đề cử ngày 15 tháng 7 năm 1991.
  • Vườn quốc gia Cúc Phương (thiên nhiên) – đề cử ngày 15 tháng 7 năm 1991.
  • Cố đô Hoa Lư (văn hoá) – đề cử ngày 15 tháng 7 năm 1991.
  • Hồ Ba Bể (thiên nhiên) – đề cử ngày 15 tháng 11 năm 1997.
  • Bãi đá cổ Sa Pa (văn hoá) – đề cử ngày 15 tháng 11 năm 1997.
Mới đây, bia đá tiến sỹ ở Văn Miếu cũng đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới. Để tham khảo thêm về tiêu chí chính thức do Unesco đề ra, bạn có thể click vào đây để đọc.

7 nhân vật cực kỳ thành công mà không cần phải tốt nghiệp đại học

Thường thì người ta cho rằng học càng nhiều thì bạn sẽ càng thành công và có địa vị càng cao trong xã hội. Tuy nhiên, 7 người dưới đây đã chứng minh rằng đại học chỉ là một trong số nhiều con đường khác nhau để dẫn tới thành công và đó không phải là con đường mà họ lựa chọn.
7.Richard Branson
Richard Branson là một trong những tỷ phú nổi tiếng nhất thế giới. Ông là người điều hành tập đoàn Virgin, tập đoàn kinh doanh đủ mọi thứ từ hàng không, kênh truyền hình cho tới Cola. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 16 tuổi, ông cảm thấy mình không thể thu được gì nếu học tiếp đại học nữa và quyết định đi ra học ở trường đời. Richard Branson mở hãng thu âm lấy tên là Virgin Records. Ông bắt đầu thực sự thành công khi dần dần sở hữu tới 1/2 mạng lưới tàu hỏa ở nước Anh và sau đó là mở hãng hàng không Virgin Atlantic. Khi Richard Branson bán lại Virgin Records cho EMI, ông lại mở ra một hãng thu âm khác. Cho tới nay, Richard Branson đã mở được tới hơn 400 các công ty khác nhau, phần lớn nằm trong hệ thống Virgin và là doanh nhân thành công nhất trên thế giới không qua bất cứ trường lớp đào tạo kinh doanh nào.
6.Michael Dell
Michael Dell đã thể hiện máu kinh doanh của mình từ rất sớm. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế trường trung học, ông đã bắt đầu kiếm tiền bằng cách đi bán báo và thu nhập của cá nhân ông có lúc đã vượt qua cả thu nhập của các giáo viên trong trường. Khi mua được một chiếc máy tính vào năm 15 tuổi, ngay lập tức Michael Dell đã tháo tung nó ra để xem từng phần của máy tính như thế nào. Nhận thấy thị trường máy tính đang có một lỗ hổng khi hầu hết PC được bán qua nhà phân phối chứ không bán trực tiếp từ người sản xuất, Dell quyết định nghỉ học (lúc đó ông đang học về Y khoa) và bước chân vào thị trường để lấp đầy lỗ hổng này vào năm 19 tuổi. Dell bắt đầu khởi nghiệp với số vốn 1000 USD và chỉ có một vài nhân viên, chuyên bán các loại máy tính do mình tự lắp ráp theo đúng sở thích chọn lựa phần cứng của khách hàng. Cho tới năm 1996, Dell đã trở thành nhà sản xuất máy tính cá nhân đầu tiên bán hàng trên mạng và đạt doanh thu hơn 1 triệu USD/ngày. Ngày nay, Dell Computer vẫn phát triển rất mạnh và Michael Dell có tài sản với trị giá xấp xỉ 15 tỷ USD.
5.Walt Disney
Có lẽ không cần phải giới thiệu thì ai cũng biết tới Walt Disney qua những hình tượng phim hoạt hình nổi tiếng của ông như chuột Mickey hay vịt Donald. Studio của Walt Disney được coi là một trong những studio đã thay đổi bộ mặt phim hoạt hình tại Hollywood. Chưa từng học đại học và cũng không học hết trung học, Disney đam mê với nghiệp vẽ từ những năm 1920s và sau đó mở một công ty riêng của mình với tên “Laugh-O-Gram” để nhận vẽ các đoạn hoạt hình ngắn. Do quản lý tài chính không tốt, công ty này đã bị phá sản nhưng Disney đã tiếp tục chuyển tới Hollywood để mở studio mới có tên Disney Brothers Studio, studio nổi tiếng mà chúng ta biết tới ngày nay. Năm 1928, Disney đã tạo ra hình tượng nổi tiếng chuột Mickey và bắt đầu tạo dựng tên tuổi của mình. Tuy vậy, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn mới thực sự là phim hoạt hình thành công nhất (sản xuất năm 1938). Năm 1966, Disney đã qua đời do bị ung thư phổi nhưng những gì ông đã làm được cũng đủ để người ta có thể nhắc tới ông trong tương lai. Hiện tại Disney Brothers Studios có doanh thu hàng năm xấp xỉ 35 tỷ USD.
4. Barry Diller
Một học kỳ ở trường là đủ để Barry Diller biết rằng đây không phải là chỗ để dành cho mình. Gắn liền với Diller là tên tuổi của hai công ty lừng danh : Fox Broadcasting Company và 20th Century Fox. Ngay khi rời khỏi trường, ông bắt đầu làm công việc thư ký văn phòng tại William Morris Talent Agency và dần dần được đề bạt lên tới chức Phó Chủ Tịch của ABC. Trong khoảng thời gian này, chính ông là người đã đi tiên phong trong việc tạo ra các bộ phim chuyên để chiếu trên TV vào thập niên 1970. Sau đó, ông có 10 năm làm Chairman và CEO của Paramount Pictures với các tựa phim lừng danh như bộ ba phim Indiana Jones, Saturday Night Fever, Beverly Hills Cop… Tới năm 1984, Diller đã mở ra Fox Television Network và ngay lập tức nổi tiếng với các series phim truyền hình như The Simpsons. Ngày nay, Diller là Chairman của Expedia và IAC/InterActive Corp, một tổ hợp giải trí khổng lồ bao trùm cả lên TV lẫn Internet (ví dụ như Match.com hay Collegehumor).
3. Milton Hershey
Kẹo chocolate của Hershey  là nhãn hiệu kẹo chocolate được ưa chuộng nhất tại Mỹ. Đây là loại kẹo đầy chất Mỹ được tạo ra bởi Milton Hershey, một người bỏ học từ năm 12 tuổi để đi bán bánh kẹo cho tới khi mở doanh nghiệp riêng của mình vào năm 19 tuổi. Đã có kinh nghiệm hơn 6 năm với kẹo, Hershey quyết định thành lập công ty Lancaster Caramel Company chuyện bán kẹo với hương vị sữa đặc trưng riêng. Công ty này nhanh chóng thành công trên thị trường Mỹ. Năm 1893, Hershey sau khi xem một loại máy làm chocolate được sản xuất tại Đức thì đã cảm thấy rất hứng thú với loại máy này và mua ngay một chiếc cho công ty. Sau đó, ông bán Lancaster đi, mua lại một trang trại nông nghiệp tại Pennsylvania và xây dựng một nhà máy sản xuất chocolate pha sữa ngay tại trang trại này. Việc sử dụng ngay sữa tươi có từ trang trại để làm chocolate tạo nên các thỏi chocolate đặc biệt và khá cao cấp (tương đương với chocolate của Thụy Sỹ vào thời đó). Chỉ học tới lớp 4, Milton Hershey đã trở thành người tiên phong trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo và đã tạo ra cả một vùng dân cư rộng lớn xung quanh trang trại của ông tới tận ngày nay.
2. Rachael Ray
Đây là một trong những đầu bếp nổi tiếng nhất nhưng chưa hề từng học qua bất cứ một trường đại học nào hoặc một trường dạy nấu ăn nào. Rachael Ray đã làm việc trong ngành thực phẩm khá lâu và có kinh nghiệm khá rành về thực phẩm trước khi nổi danh với ý tưởng “30 minute meals” của mình. Ý tưởng này rất hợp với đại bộ phận dân chúng có ít thời gian để nấu bếp nhưng lại muốn có bữa ăn ngon. Ngay lập tức, CBS TV đã tóm lấy Rachael Ray và bà đã xuất hiện trên TV hàng tuần để nói về ý tưởng này với các món ăn khác nhau. Từng bị chỉ trích bởi những đầu bếp chuyên nghiệp do có những cách làm không giống ai với thực phẩm của mình, Rachael Ray nói rằng bà không được đào tạo và do vậy bà cũng không cần theo những quy tắc phức tạp mà người thường không thể làm được. Đơn giản chỉ cần bữa ăn ngon là đủ.
1. Frank Lloyd Wright
Frank Lloyd Wright, được coi là kiến trúc sư vĩ đại nhất của Mỹ thậm chí còn chưa học hết … cấp 3. Năm 20 tuổi, Wright được nhận vào một công ty kiến trúc và chỉ với những sự tưởng tượng từ thời trẻ thơ của mình, Wright đã thiết kế nên những ngôi nhà mang tính biểu tượng cho toàn bộ nước Mỹ. Bảo tàng Guggenheim ở New York ngày nay là một trong những công trình đỉnh cao của Wright với kiến trúc thể hiện hình dáng bên trong của vỏ sò. Trong toàn bộ cuộc đời của mình, Wright đã tham gia thiết kế hơn 1000 dự án với khoảng 1/2 số đó (500++ dự án) đã được xây dựng hoàn thành và tất cả các dự án này đều thể hiện rõ nét tính cách của Wright, một kỷ lục mà ít có kiến trúc sư nào ở Mỹ có thể lặp lại được. 

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

Những thân hình quyến rũ nhất mọi thời đại

Ảnh minh họa
1. Sophia Loren     
Là ngôi sao điện ảnh lừng danh thập niên 50 của thế kỷ trước, từ khi bắt đầu xuất hiện trên màn ảnh năm 16 tuổi với bộ phim "Quo Vadis", Sophia Loren đã trở thành một biểu tượng về vẻ đẹp và sự quyến rũ. Phong cách của bà đã trở thành huyền thoại của mọi thời đại, là nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nhà thiết kế và góp phần tạo nên phong cách cho phái đẹp trên toàn thế giới.  Bà là niềm say mê của các đấng mày râu và là nỗi khát khao của hàng triệu phụ nữ.
Ảnh minh họa


Nam diễn viên lừng danh Richard Burton từng nhận xét rằng cái đẹp của Sophia Loren làm cho tất cả những người đàn ông trên thế giới này tưởng tượng đến những cơn mê nồng cháy nhất của tình yêu. Vẻ đẹp mê hồn của bà cũng khiến cha xứ vùng Genoa cũng cho rằng dù Vatican chống nhân bản vô tính “nhưng Sophia Loren vẫn là một ngoại lệ duy nhất”.

Đã nhiều thập kỉ trôi qua, năm nay, dù đã ở tuổi 78 nhưng tuổi tác không thể cướp đi vẻ đẹp của nữ hoàng điện ảnh Ý. Bà đã được hàng nghìn cư dân mạng bầu chọn là minh tinh có vẻ đẹp tự nhiên, mặn mà nhất thế giới, vượt qua cả những tên tuổi trẻ trung như Cameron Diaz hay Johnny Depp. Và có một điều chắc ít người biết rằng, năm 73 tuổi, Loren vẫn chụp ảnh áo tắm cho bộ lịch Pirelli!

2. Raquel Welch   
Ảnh minh họa
Một trong những biểu tượng hình ảnh của mọi thời đại chính là Raquel Welch. Bà đã ghi dấu lịch sử khi là người đầu tiên mặc bộ bikini lông thú thời tiền sử trong bộ phim "One Million Years B.C." (Một triệu năm trước Công nguyên) vào năm 1966. Vẻ đẹp gợi cảm với những đường cong chết người của Raquel Welch trong bộ bikini da thú cực kỳ nóng bỏng trong một cảnh chiến đấu của bộ phim đã làm màn ảnh rộng bốc cháy. Và mãi cho đến sau này, hình ảnh đó của Raquel Welch vẫn luôn được coi là một biểu tượng sắc đẹp hoàn hảo trên màn ảnh. Cũng nhờ vai diễn này, Raquel Welch đã được mệnh danh là biểu tượng sex mới của thập kỷ (đặc biệt sau cái chết của Marilyn Monroe năm 1962).

3. Beyoncé Knowles     
Ảnh minh họa
Sinh năm 1981, Beyoncé là một nghệ sĩ nhạc R&B, diễn viên, vũ công kiêm nhà thiết kế thời trang nổi tiếng người Mỹ. Tên tuổi của Knowles nở rộ vào cuối thập niên 1990 với tư cách là ca sĩ chính của nhóm nhạc nữ R&B Destiny's Child, một trong những nhóm nhạc nữ có số lượng đĩa bán chạy nhất mọi thời đại.

Bên cạnh một sự nghiệp thăng hoa rực rỡ, Beyoncé còn được hàng triệu người hâm mộ bởi cô sở hữu một ngoại hình với những đường cong mơ ước. Những đường cong gợi cảm đến "nghẹt thở", những màn vũ điệu gợi tình đến nhức mắt trên sân khấu, phong cách sang trọng và quyến rũ trên thảm đỏ, Beyoncé đã được bầu là mỹ nhân "đắt giá" và gợi tình nhất làng nhạc quốc tế hiện nay.

Năm 2007, cô còn được mời làm người mẫu trang bìa của tạp chí thời trang thể thao danh tiếng Sports Illustrated - một ấn bản đặc biệt giới thiệu các mẫu áo tắm hấp dẫn được thể hiện bởi hàng loạt những người đẹp thể thao, người mẫu hàng đầu thế giới. Việc một người "ngoại đạo" như Beyonce Knowles được lên bìa ấn bản áo tắm này là một điều ngoại lệ duy nhất từ trước đến nay. Và chẳng cần bàn cãi gì thêm, riêng điều đó cũng đã minh chứng được cho sức hấp dẫn không thể chối từ của người đẹp gốc Phi này.

4. Shakira   
Ảnh minh họa

Shakira được coi là ca sĩ Colombia thành công nhất mọi thời đại khi có đĩa đơn quán quân tại các bảng xếp hạng thế giới, Mỹ và Anh. Cô cũng là nghệ sĩ thành công thứ 6 trong thập niên 2000 sau Madonna, Britney Spears, Robbie Williams, Christina Aguilera và Eminem. Shakira đã từng đoạt 2 giải Grammy trên 5 lần đề cử và 7 giải “Latin Grammy”.

Dù sở hữu một chiều cao khiêm tốn nhưng Shakira vẫn khiến mọi người không thể rời mắt bởi thân hình rực lửa, phong cách sexy, giọng hát biến ảo, kỹ năng vũ đạo chuyên nghiệp và phong cách đam mê, cháy hết mình trên sân khấu. Cùng với Beyoncé, Shakira đã được bầu chọn là một trong những mỹ nhân "rực lửa” nhất của làng nhạc thế giới hiện nay.

5. Christina Hendricks     
Ảnh minh họa
“Người đàn bà hấp dẫn nhất nước Mỹ” Christina Hendricks luôn khiến người đối diện phải trầm trồ trước những đường cong "thắt đáy lưng ong", đặc biệt là siêu vòng 1 sexy đến nghẹt thở của mình. Ngôi sao “Mad Men” là điển hình cho những người phụ nữ có vóc dáng eo thon ngực nở trên thế giới này.

6. Marilyn Monroe     
Ảnh minh họaẢnh minh họa
Ảnh minh họa
Từ mái tóc vàng lọn xoăn bồng bềnh óng ả, đôi môi đỏ chín mọng đặc trưng, chiếc nốt ruồi duyên dáng gần khoé môi cho đến dáng vẻ, điệu bộ và những đường cong tuyệt mỹ của Marilyn Monroe đều toát lên vẻ quyến rũ khó ai có thể cưỡng lại được. Nhan sắc lộng lẫy của huyền thoại màn bạc được mệnh danh là người phụ nữ gợi cảm nhất thế kỷ 20 này đã mang lại nguồn cảm hứng vô bờ bến cho giới nghệ sỹ.

Đã 50 năm kể từ sau cái chết bí ẩn của mình, nhưng cho đến nay, "quả bom tóc vàng" huyền thoại vẫn có khả năng mê hoặc công chúng và xứng danh với biểu tượng sex của mọi thời đại.

7. Kelly Brook  
Ảnh minh họa
Nhắc đến Kelly Brook là nhắc đến niềm mơ ước của đàn ông và sự ghen tị của đàn bà. Sở hữu những đường cong hoàn hảo nhất trái đất với tỷ lệ vàng 90-60-90, diễn viên - người mẫu Kelly Brook được mệnh danh là kỳ quan thứ 9 của nhân loại. Cũng nhờ hình thể đáng ghen tỵ  với các vòng đo chuẩn "đến từng cm" này mà "nàng tiên cá nước Anh" cũng được xướng danh là Người phụ nữ quyến rũ nhất thế giới năm 2005 theo bình chọn của hơn 15 triệu độc giả của tạp chí FHM. Năm 2006, Kelly cũng giành được vị trí thứ 5 trong danh sách này. Đồng thời, cô còn ghi tên mình trong danh sách Những ngôi sao mặc bikini đẹp nhất thế giới.
  
8. Halle Berry     
Ảnh minh họa
Dù đã ngoại tứ tuần nhưng nữ diễn viên từng đạt giải Oscar, Halle Berry vẫn luôn xuất hiện trong danh sách các người đẹp được khao khát nhất. Những đường cong nóng bỏng, mĩ miều của người đẹp da màu này khiến các quý ông bỏng mắt, còn các quý bà phải ngưỡng mộ. Nhan sắc trời ban đã giúp cho Halle sở hữu hàng loạt các danh hiệu Miss Teen Ohio, Miss Teen nước Mỹ, Hoa hậu Mỹ… và từng được tạp chí People bầu chọn là 1 trong 10 ngôi sao Hollywood có thân hình đẹp nhất thế giới.

Có lần, Halle Berry thừa nhận, cô cảm thấy quyến rũ, đầy quyền lực khi... không còn mảnh vải che thân. Giải thích điều này, nữ diễn viên 46 tuổi nói: "Tôi không phải là một phụ nữ nổi bật về nhan sắc. Nhưng bù lại, trời phú cho tôi những đường cong hoàn hảo. Vì vậy, tôi luôn cảm thấy tự tin hơn khi mình cởi bỏ hoàn toàn xiêm y trên người".

Khi tạp chí Vogue hỏi về cảm xúc trong lần chụp nude ở Mexico năm 2010, miêu nữ của "Cat woman" chia sẻ: "Tôi chưa từng cảm thấy có lúc nào hạnh phúc hơn lúc đó (khi đang chụp ảnh khỏa thân). Nếu không bị điều gì ngăn cản, tôi muốn chụp ảnh khỏa thân hàng ngày".

9. Kristin Davis     
Ảnh minh họa
Kristin Davis, ngôi sao của "Sex and the City", đã dẫn đầu cuộc bình chọn Những ngôi sao ngoài 40 hấp dẫn nhất của tạp chí Glamour (Đức) năm 2007. Đây không phải lần đầu tiên sắc đẹp của Kristin Davis được công nhận. Năm 2006, cô đã vượt qua nhiều tên tuổi đình đám như Angelina Jolie, Catherine Zeta-Jones, Halle Berry,... để giành vị trí dẫn đầu Những mỹ nhân hàng đầu Hollywood do tạp chí Eve (Anh) bình chọn.

Là gương mặt quen thuộc trên truyền hình Mỹ gần 20 năm qua, Kristin Davis không chỉ ghi dấu ấn qua hàng chục vai diễn mà còn tạo ấn tượng bởi bề ngoài trẻ trung và gương mặt gợi cảm. Dù đã ở độ tứ tuần nhưng sắc đẹp mặn mà, quyến rũ và tự nhiên của Kristin Davis vẫn làm cánh mày râu mê đắm. Chính nhờ vẻ đẹp cổ điển và trẻ trung hơn nhiều so với tuổi 47 của mình mà Kristin thường xuyên được các tạp chí thời trang nổi tiếng như: Vogue, Esquire, Elle, Marie Claire... mời làm người mẫu trong các số báo của mình.


10. Scarlett Johansson     
Ảnh minh họa
Nổi tiếng bởi nhan sắc kiêu kỳ, ngôi sao của "Thược dược đen" Scarlett Johansson được đánh giá là một trong mỹ nữ đẹp nhất ở Hollywood thời điểm hiện tại. Cô cũng được xếp vào hàng ngũ những “Marilyn Monroe thế hệ mới” nhờ sở hữu mái tóc vàng rực rỡ và vẻ quyến rũ chết người như huyền thoại màn bạc những năm 60.

Tạp chí Playboy đã dùng những lời lẽ hết sức hoa mỹ để miêu tả vẻ đẹp của nữ diễn viên 27 tuổi này: "Scarlett Johansson là đỉnh cao của sắc đẹp và sự khiêu khích, từ làn da trắng như sứ, các đường cong đầy nữ tính và sự thu hút bí ẩn... Vẻ đẹp ấy lúc rõ ràng ngay trước mắt nhưng có lúc mơ hồ như không có thật...".

Năm 2006, tạp chí Esquire đã trao tặng cho cô danh hiệu "Người phụ nữ gợi cảm nhất của năm". Không những thế, Scarlett còn là gương mặt quảng cáo đắt giá của hãng thời trang hàng đầu thế giới Louis Vuitton cũng như nhiều hãng quảng cáo khác.

ĐỀ ÁN 254

về cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng
Tổng sắp xếp để... chuyên nghiệp hoá
SGTT.VN - “… Các anh chị thành lập ngân hàng, vốn tự có chỉ là 1 đồng, pháp luật cho phép huy động 10 đồng để phục vụ sản xuất kinh doanh của toàn xã hội. Nhưng có những ngân hàng cho vay nội bộ tới một phần tư, một phần ba thậm chí một nửa số vốn huy động từ dân cư. Như vậy còn vốn đâu cho xã hội nữa và an toàn làm sao được. Các anh chị không thể lấy tiền huy động của toàn xã hội để cho nhà mình vay hết, để đầu tư cho các dự án của chính mình…”
Cuộc tổng vệ sinh trong đề án 254 có đạt được mục tiêu dọn dẹp để đưa nợ xấu – nợ bẩn ra bên ngoài hệ thống ngân hàng và hoán chuyển – chuyển trả lại cho xã hội những nguồn vốn và số vốn thật – quý có đạt được hiệu quả cao hay không, như phần nhận định rất chính xác và nghiêm khắc nêu trên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong hội nghị tổng kết ngành ngân hàng ngày 17.12.2011? Điều này tuỳ thuộc phần lớn, nếu không nói là hoàn toàn vào việc Chính phủ, ngân hàng Nhà nước, bộ Tài chính, các bộ và cơ quan liên quan có thật sự xem cuộc tổng vệ sinh này như một “lối thoát hiểm” trong những lối thoát hiểm chính của cuộc đua trong chặng đường cuối, để vượt thoát con bệnh lạm phát kinh niên mà xã hội và nền kinh tế đang gồng mình gánh chịu. Và sau tổng vệ sinh phải là... tổng sắp xếp.
Đã trễ - đừng trễ lần nữa
Hy Lạp và các nền kinh tế bị sa lầy với mạng lưới nợ bẩn, cái giá trước mắt phải gánh trả cho việc cắt bỏ này sẽ rất lớn và không một định chế tài chính nào có thể một mình hoặc kết hợp nhau gánh trả nổi. Trong ảnh là những người thất nghiệp biểu tình ở Hy Lạp. Tỉ lệ người thất nghiệp ở nước này đã lên quá 20%. Ảnh: Reuters
Nói một cách khác, đã nhiều năm và nhiều lần trễ rồi, nhóm nợ xấu và nhất là nhóm nợ bẩn mà Thủ tướng đã tìm thấy là những khối u ác tính phải nhanh chóng cắt bỏ không chần chừ và khoan nhượng.
Ngày 15.9.2008, Chính phủ Mỹ thông qua ngân hàng Trung ương, bộ Tài chính và uỷ ban Giao dịch chứng khoán đã không khoan nhượng và cắt bỏ khối u ác tính – ngân hàng đầu tư Lehman Brothers – ra khỏi hệ thống tài chính của nợ bẩn bằng cách để Lehman Brothers phá sản. Đã quá trễ để ngăn chặn cuộc tổn thương kinh tế tài chính lớn nhất lịch sử của Mỹ và lan rộng toàn cầu!
Vấn đề nhức nhối của việc cắt bỏ này là gì? Cũng như Mỹ, Hy Lạp và các nền kinh tế bị sa lầy với mạng lưới nợ bẩn, cái giá trước mắt phải gánh trả cho việc cắt bỏ này sẽ rất lớn và không một định chế tài chính nào có thể một mình hoặc kết hợp nhau gánh trả nổi. Nhà nước – Chính phủ sẽ phải là định chế cung cấp những mạng lưới an toàn tối thiểu hoặc tối đa cho cái giá phải trả của cuộc đại phẫu này (tổng vệ sinh). Đó là cái giá của những lơ đễnh – hững hờ – nhún nhường – thoả hiệp – không minh bạch của giới có thẩm quyền kiểm soát và chế tài. Việt Nam cũng vậy và không thể là ngoại lệ.
Dẫn dắt hoặc bị dẫn dắt
Ngày 12.3.2012, thống đốc Nguyễn Văn Bình nói trong cuộc họp báo về chính sách lãi suất: “Trước đây, chúng ta luôn bị thị trường dẫn dắt, chính sách đưa ra mang tính chất chữa cháy, tình thế. Tuy nhiên, từ tháng 8.2011 trở lại đây chúng ta luôn luôn chủ động, dẫn dắt thị trường đi theo các mục tiêu của Chính phủ…” Những lời này cho thấy một góc cạnh quan trọng khác đáng chú ý của đề án 254, đó là vấn đề: thụ động và chủ động, dẫn dắt và bị dẫn dắt.
Không quá khó và cũng không quá khắt khe để nhận ra rằng hầu hết những hệ quả, lớn nhất là lạm phát kinh niên có sự dự phần của nhóm nợ bẩn, trong và từ chính sách tiền tệ hoặc chính sách tài khoá đều có bóng dáng của cách điều hành – quản lý thụ động. Cơ chế phải xin ý kiến và phải đợi lệnh tập thể là mầm mống của “thụ động”, và thụ động này là tác nhân tạo nên Vinashin hôm nay và những Vinashin khác.
Ngân hàng Nhà nước, mặc dù chưa được giao vai trò của một ngân hàng Trung ương có vai trò độc lập cao, nhưng đã được giao trọng trách chính: “Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, tổ chức và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có liên quan tổ chức triển khai thực hiện đề án”. Thống đốc và ngân hàng Nhà nước đã được chuẩn bị tâm thế ở mức độ nào để thật sự thể hiện vai trò chủ động của mình?
Từ nay đến năm 2015, theo như mốc thời gian của đề án 254, xã hội và nền kinh tế lạm phát đang và sẽ lắng nghe – trông chờ vào vai trò và tâm thế chủ động dẫn dắt của thống đốc và ngân hàng Nhà nước trong cuộc tổng vệ sinh nợ xấu và nợ bẩn và tổng dàn xếp hệ thống ngân hàng.
Tính chuyên nghiệp và sứ mệnh của tổ chức tín dụng
Phần nhận định chính xác và nghiêm khắc của Thủ tướng: “Các anh chị thành lập ngân hàng… Các anh chị không thể lấy tiền huy động của toàn xã hội để cho nhà mình vay hết…” cũng đã chính thức vạch ra và nói lớn về những hiện trạng méo mó trong hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói chung, và các ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng.
Theo tôi, một cách diễn dịch theo kinh điển của ngành nghề, thì nhận định của Thủ tướng có thể được hiểu là đang có một tỷ lệ khá lớn các cổ đông lớn và cổ đông chiến lược (nghiệp chủ) và ban điều hành (chuyên viên – chuyên gia) của nhiều ngân hàng hiện nay không chịu biết và hiểu đúng vai trò đặc biệt và tính chuyên nghiệp của giới nghiệp chủ, cũng như giới điều hành trong những định chế tài chính nhận tiền gởi của xã hội và những định chế tài chính phi ngân hàng khác. Một ngành nghề thiết yếu và đặc biệt của nền kinh tế đang bị kìm hãm và xuống cấp, vì làn sóng “nghiệp dư hoá” (mà đằng sau nó đang có biết bao câu hỏi về sự dẫn dắt của… nhóm lợi ích núp danh thiếu hiểu biết, nhưng dù sao, thì đó cũng là… nghiệp dư).
Chính vì các định chế tài chính – ngân hàng đã được xã hội và nền kinh tế uỷ thác một vai trò rất đặc biệt: đó là được nhận và sử dụng tiền gởi; vì vậy quản lý và điều hành ngân hàng rất khác với các tổ chức kinh tế khác.
Quyền được nhận và sử dụng tiền gởi được tích luỹ từ nền kinh tế là một uỷ thác cao nhất trong giá trị tín thác. Với tâm thế và tính cách nghiệp dư, sẽ dễ dàng xem tiền gởi và nguồn vốn của xã hội là của chính họ. Khi không chịu biết và hiểu đúng vai trò nghiệp chủ và điều hành của mình trong định chế tài chính nhận tiền gởi của xã hội, thì nợ xấu và nợ bẩn sẽ là những hệ quả tất yếu cho xã hội như hiện nay.
Đề án 254, bên cạnh và song song với cuộc tổng vệ sinh nợ bẩn cùng tinh thần chủ động dẫn dắt chính sách tiền tệ và thị trường, cũng là một cuộc tổng sắp xếp trong giới nghiệp chủ và giới điều hành – tìm và trở về lại với tính chuyên nghiệp và vai trò đặc biệt không thể thiếu. Một giai đoạn chuyên nghiệp và phải chuyên nghiệp nếu không muốn tự đào thải
từ đây đến năm 2015.
Lê Trọng Nhi

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Crazy English

Phương  pháp học tiếng Anh cuồng nhiệt (Crazy English) là phương pháp do một  giáo viên người Trung Quốc tên là Lý Dương khởi xướng ra. Lúc đầu,  phương pháp Crazy English không được ủng hộ bởi nó đi ngược lại các mô  hình và khái niệm giảng dạy truyền thống. Không những thế, Crazy English  còn phải chịu sự khinh miệt và ghê tởm của nhiều người Trung Quốc  truyền thống, những người luôn yêu mến bản sắc phương Đông về sự kiềm  chế, khiêm tốn và điều độ. Nhưng Lý Dương vẫn không bỏ cuộc, ông kiên  trì phát triển, tuyên truyền phương pháp này qua các học trò của mình,  và dần thu được những thành công cực kỳ to lớn. Cho đến bây giờ, Crazy  English đã trở thành phương pháp học tiếng Anh của hơn 20 triệu người ở  Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Hơn một trăm hãng thông tấn từ 30  nước, bao gồm cả từ Mỹ, Canada, Australia đã phỏng vấn ông, và đài  truyền hình NHK của Nhật Bản đã làm một chương trình phát hình trực tiếp  về phương pháp Crazy English. Một bộ phim tài liệu về ông đã được làm.  Sau đây, chúng ta sẽ cùng làm quen với những tư tưởng của phương pháp  học tiếng Anh thú vị này.
  

Nguyên lý
 
   Phương pháp Crazy English dựa trên nguyên lý rằng đơn vị cơ bản trong giao tiếp là câu. Trong mỗi tình huống giao tiếp, chỉ có một số lượng nhất định câu được sử dụng, chỉ cần nắm vững được các câu này là có thể giao tiếp tốt trong tình huống đó. Crazy English khuyên nên học thuộc các câu. Câu được học thuộc cả về ngữ âm, ngữ điệu, chữ viết và ý nghĩa, trong đó đặc biệt chú trọng đến ngữ âm và ngữ điệu. Và như vậy, người học sẽ nghe được một câu hoàn chỉnh, từ đó cũng nói được một câu hoàn chỉnh, đồng thời có thể luyện được cách phát âm chuẩn của cả câu. Theo cách truyền thống, người ta học từ vựng, rồi sử dụng ngữ pháp nối các từ thành câu để sử dụng, cách thức như thế sẽ bó buộc ngôn ngữ vào một cái khung chật chội, trong lúc ngôn ngữ luôn thiên biến vạn hóa, nhiều “tiếng lóng” và nghĩa bóng, mà ngữ pháp chính quy không thể theo sát và biểu đạt nổi. Vì vậy, chỉ có cách học thuộc lòng cả câu thì mới nắm vững được toàn bộ ý nghĩa cũng như các sắc thái biểu cảm của câu đó.

Crazy English đưa ra lý luận rằng, chỉ cần học thuộc một số lượng mẫu câu nhất định thì sẽ giao tiếp được bằng tiếng Anh: học 500 câu cơ bản – giao tiếp được bằng tiếng Anh, học 5000 câu cơ bản – viết văn được bằng tiếng Anh, học 50000 câu cơ bản – trở thành một nhà ngôn ngữ học tiếng Anh. Khi tích lũy đủ một số lượng câu nhất định, thì trình độ tiếng Anh của người học sẽ tự nhiên giỏi lên bất ngờ.

Lý Dương cho rằng, học thuộc là “phương pháp duy nhất” học tốt tiếng Anh, tuyệt đối không có cách thứ hai. Ông quan niệm: “Sách đọc nhiều lần tự khắc sẽ hiểu; Đọc thuộc 300 bài thơ Đường, không biết làm thơ cũng biết ngâm thơ; Bài viết đọc nhiều, viết văn hay tuyệt; Trước lạ sau quen”. Học thuộc phải học thuộc triệt để, tức là đến khi ngấm vào máu thịt không thể nào quên. Để học thuộc được như vậy thì phương pháp tốt nhất là lặp đi lặp lại thật nhiều lần, 100 lần, 1000 lần, … đến mức có thể “buột miệng nói ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu”, hơn nữa suốt đời cũng không thể quên. Giống hệt những bậc đại sư võ thuật luyện võ vậy!

Học thuộc lòng chính là điểm mấu chốt giúp hình thành khả năng ngôn ngữ. Trí nhớ hình thành sau hàng trăm, hàng ngàn lần “luyện tập lặp đi lặp lại” gọi là “trí nhớ cơ bắp”. Chính trí nhớ này sẽ quyết định cho khả năng tiếng Anh của một người.


  
Như vậy, phương pháp học tiếng Anh cuồng nhiệt của Lý Dương dựa trên hai nguyên lý:

   - Thứ nhất, câu là đơn vị cơ bản trong giao tiếp tiếng Anh, do đó học tiếng Anh tức là học câu.
- Thứ hai, học thuộc lòng triệt để là phương pháp tốt nhất để học tiếng Anh.

  
   Phương  pháp của Lý Dương xuất phát từ một thực tế đó là trong các tình huống  giao tiếp tiếng Anh hàng ngày thì mọi người sử dụng câu để giao tiếp với  nhau, và mỗi tình huống chỉ sử dụng một số lượng câu nhất định. Như vậy  phương pháp này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và trở lại đáp ứng thực  tiễn. Đồng thời nó còn dựa trên việc ứng dụng quy luật chuyển hóa từ sự  thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Thể hiện cụ thể đó chính  là tư tưởng học thuộc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần để hình thành  “trí nhớ cơ bắp”, cũng như việc tích lũy vốn câu học thuộc để quyết định  khả năng tiếng Anh giỏi hay kém.
  

Phương pháp, cách thức cụ thể
 
   Từ  những nguyên lý cơ bản và các cơ sở triết lý trên, Lý Dương đưa cách  thức và trình tự tiến hành học theo Crazy English cụ thể như sau:
  
- Chuẩn bị tâm thế

   Phải  chuẩn bị tâm thế bằng cánh nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc học  tiếng Anh. Phải coi tiếng Anh là quan trọng nhất, quan trọng hơn cả việc  ăn uống, ngủ, nghỉ. Phải luôn tự tin với trí nhớ của mình, không quan  tâm đến việc bạn có thể học thuộc hay không, chỉ quan tâm đến việc bạn  đã lặp lại đủ chưa! Chỉ cần lặp lại đủ số lần, thì có thể đạt đến mức độ  “buột miệng nói ra được”. Luôn luôn tâm niệm kiên trì sẽ sáng tạo nên  kỳ tích.
  
- Mỗi ngày học thuộc 5-10 câu

   Mỗi  ngày học thuộc 5 -10 câu cơ bản. Cách thức học theo trình tự như sau:  đầu tiên là nghe băng để nhận biết âm chuẩn, nói chậm theo âm chuẩn,  cuối cùng là nói nhanh cả câu trong một hơi. Việc học thuộc theo cách  thức trên được thực hiện bằng cách đọc to và lặp đi lặp lại nhiều lần.  Việc đọc to sẽ giúp cho việc rèn luyện cơ miệng để nói đúng âm chuẩn.  Việc luyện nói nhanh, nói lướt câu trong một hơi để luyện khả năng cảm  nhận câu thông qua ngữ âm, ngữ điệu. Vì thông thường trong giao tiếp  nhiều lúc khi đối tượng nói nhanh, nói lướt ta không nghe được hết nhưng  cảm nhận được âm điệu của câu vẫn biết đó là câu gì, có ý nghĩa gì.  Việc lặp đi lặp lại nhiều lần là nhằm để đạt đến mức độ học thuộc triệt  để, ăn sâu vào trí não không thể quên được và khi cần có thể buột miệng  nói ra. Viết các câu ra giấy và mang theo bên mình mọi lúc, mọi nơi. Quá  trình học phải liên tục không ngừng nghỉ, và nhất thiết phải học theo  băng để đảm bảo hiệu quả tốt nhất.
  
- Mỗi tuần học thuộc một bài văn

   Mỗi  tuần ít nhất học thuộc một bài văn. Chỉ cần bạn mỗi tuần học thuộc làu  làu một bài văn, một năm sau nhất định bạn sẽ nói được tiếng Anh một  cách lưu loát, và khi đó thi cử chỉ còn là chuyện vặt. Để học thuộc đoạn  văn cũng không ngoài phương pháp lặp đi lặp lại nhiều lần, tự nhiên sẽ  học thuộc. Mỗi bài khóa đọc thuộc toàn bài, nhưng chỉ chọn một đoạn để  học thuộc lòng “làu làu như cháo chảy”, tốt nhất có thể viết ra được.  Như vậy rất có lợi cho thi cử! Nên tránh việc chỉ đọc qua một vài lượt  rồi nghĩ hiểu là được rồi, như thế là cực kỳ sai lầm. Phương pháp học  chỉ hiểu mà không thể đọc thuộc lòng không thể thay đổi được “tố chất  não” chúng ta, hiểu chỉ dừng lại ở tầng nông của trí nhớ mà thôi. Hiểu  rất quan trọng nhưng học thuộc lòng càng quan trọng hơn nhiều!
  
- Thời gian một lần học không cần vượt quá 5 phút!

   Thời  gian một lần học thuộc lòng không cần vượt quá 5 phút! Bí quyết của  việc học thuộc lòng là: “Ăn ít nhưng ăn nhiều bữa”. Mỗi lần ăn một ít,  ăn làm nhiều lần! Không nên ép mình một lần phải học thuộc hết, chỉ cần  tranh thủ “hễ rảnh thì học thuộc lòng” là được. Tốt nhất mỗi ngày có thể  tranh thủ được thời gian rảnh để lặp lại từ 20 lần trở lên! Người càng  bận rộn, càng phù hợp với việc học thuộc lòng, bởi vì những người bận  rộn có rất nhiều thời gian vặt vãnh, hơn nữa hiệu suất sử dụng thời gian  của họ rất cao: trên đường đi công tác, giờ giải lao giữa hội nghị,  trước và sau 3 bữa ăn,… Có thể vừa chạy vừa học, vừa nhảy vừa học, cũng  có thể đọc thầm.
  
   Kiên  trì học thuộc lòng trong vòng 3 tháng sẽ đạt được khả năng ghi nhớ phi  phàm. Trung bình mỗi ngày học thuộc lòng 5 câu, một tháng học thuộc 150  câu, ba tháng học thuộc 450 câu là có thể cơ bản giao tiếp được bằng  tiếng Anh. Hơn nữa, khi học một câu thì có thể suy ra 10 câu tương tự.  do vậy học thuộc lòng 100 câu thì có thể sử dụng được 1000 câu,…
  
   Trên  đây là những hướng dẫn cách thức, phương pháp cụ thể để học tiếng Anh  theo phương pháp Crazy English của Lý Dương. Mặc dù có những yếu tố đi  ngược lại quan niệm dạy và học tiếng Anh từ trước đến nay, nhưng Crazy  English đã dựa trên những cơ sở rất khoa học và khách quan, và có thể áp  dụng vào việc dạy học tiếng Anh để nhằm đem lại kết quả cao hơn. Tính  đúng đắn của nó cũng đã được kiểm nghiệm trong thực tế.
  

Cách học thuộc:
 
  
  1. - Nghe băng
  2. - Đọc chậm, to, rõ,      chính xác
  3. - Đọc lướt nhanh cả câu
  4. - Lặp đi lặp lại 100 lần      => buột miệng nói ra được => nên mới gọi là crazy
  Phương châm: "cần cù hơn thông minh"



   
  
Sau đây là các quy tắc mà tác giả Lý Dương đúc kết được:
 
  
45 Quy tắc vàng nhanh chóng đột phá Crazy English
  

1.
Phương pháp học ngoại ngữ tốt nhất, tiên tiến nhất chính là ở Trung Quốc:
Thứ nhất, sách đọc nhiều lần tự khắc sẽ hiểu.

Thứ hai: Đọc thuộc 300 bài thơ Đường, không biết làm thơ cũng biết ngâm thơ.
Thứ ba: Bài viết đọc nhiều, viết văn hay tuyệt.
Thứ  4: Trước lạ sau quen! Tôi tin tưởng rằng, mọi người đều biết câu danh  ngôn đó, nhưng điều đáng tiếc là, không có mấy người làm được! Vì thế mà  những người thành công mãi mãi vẫn là thiểu số.

2.
“Học thuộc” là “phương  pháp duy nhất” học tốt tiếng Anh, tuyệt đối không có cách thứ hai! Cần  tổ chức cuộc thi học thuộc lòng giữa giáo viên và học sinh vào mỗi  tháng, thậm chí mỗi tuần!

3.
Cuộc  đời tôi thay đổi nhờ vào sự học thuộc lòng! Bản thân vốn thi lại tiếng  Anh 3 lần, tôi đã quyết tâm chinh phục tiếng Anh, thế là tôi tìm những  bài văn tiếng Anh và bắt đầu học thuộc. Không ngờ rằng bài văn hơn 1000  từ đó lại có đến những hơn 300 từ mới, nhưng tôi không có rút lui. Tôi  cắn răng chịu đựng, tra từ điển một cách điên cuồng mất gần hai ngày,  sau đó lại điên cuồng học thuộc mất đến 6 ngày. Cho đến bây giờ tôi vẫn  có thể đọc thuộc được bài văn đó, bài văn này quả đã hoàn toàn làm thay  đổi tôi.

4.  Vì sao làm bài tập điền trống khó, bài tập đọc hiểu khó, viết bài luận  khó, chính là do bởi vì từ trước đến nay các bạn chưa “học thuộc một  cách hoàn toàn”. Không “học thuộc một cách hoàn toàn” thì không thể nào  có được cảm giác về ngôn ngữ được.

5.
Cảm giác ngôn ngữ chính là biến số của đọc to và đọc thuộc.

6.
  Các bạn học sinh không thích đọc thuộc bài khóa có những lý do chính  đáng dưới đây: Thứ nhất, bài khóa khó học, thứ hai: học xong lại quên;  thứ ba: không có thời gian học thuộc; thứ 4: học xong không có ích mấy  cho thi cử. Những lý do này đều rất đầy đủ!

7.
Năm bí quyết học thuộc:


   A,  ngày nào cũng học, không được ngừng lại dù chỉ một ngày, giống như ăn  cơm vậy; như vậy, cảm giác về ngôn ngữ của bạn ngày nào cũng đều được  nâng cao!
  
   B: Nhất định cần phải đọc theo băng, như thế mới có thể đảm bảo được hiệu quả tốt nhất.



   C: học thuộc rồi vẫn tiếp tục phải học nữa, cho đến khi nào nó dường như ngấm vào máu thịt mới thôi.



   D: Hãy tận dụng những thời gian vặt vãnh của bạn để học, như vậy hiệu quả sẽ là tốt nhất.



   F: Hãy viết ra giấy và mang theo bên mình mọi lúc mọi nơi.
   8. Tâm  thái tốt nhất để học thuộc: Thứ nhất, hãy tràn trề tự tin với trí nhớ  của mình; thứ hai, không nên quan tâm đến việc bạn có thể học thuộc hay  không học thuộc, chỉ quan tâm đến việc bạn đã lặp lại đủ chưa! Chỉ cần  lặp lại đủ, thì bài khóa cho dù khó đến mấy chăng nữa vẫn có thể buột  miệng nói ra được!

9.  Bài khóa học không thuộc được không có liên quan gì đến chỉ số IQ của  bạn cả, chỉ là bởi vì bạn lặp lại vẫn chưa đủ nhiều mà thôi! Chỉ cần lặp  lại một cách cuồng nhiệt, thì đều có thể học thuộc được bài khóa.

10.  Phương pháp tôi ủng hộ đó là: Lăp đi lặp lại nhiều lần, tự nhiên sẽ học  thuộc! Có gieo hạt tất có thu hoạch! Nhất định sẽ thành công! Lặp lại  nhiều lần, muốn quên đi cũng khó! Không cần phải có áp lực tinh thần!

11.  Cần học thuộc lòng triệt để! “Học thuộc triệt để” chính là lặp lại 100  lần, thậm chí 1000 lần, đạt được đến mức có thể “ buột miệng nói ra bất  cứ lúc nào, bất cứ ở đâu”, hơn nữa suốt đời cũng không thể quên! Giống  hệt những bậc đại sư võ thuật vậy!

12. Mỗi tuần ít nhất cần “học thuộc triệt để” một bài văn!

13.  Sự thành công của việc học tiếng Anh kì thực rất dễ, chỉ cần bạn mỗi  tuần học thuộc làu làu một bài văn, một năm sau nhất định bạn sẽ nói  được tiếng Anh một cách lưu loát, đương nhiên, thi cử lúc đó chỉ còn là  chuyện vặt.

14.  Tôi không tán thành học thuộc toàn bộ bài khóa! Quá lãng phí thời gian!  Tôi tán thành: Đọc thuộc toàn bài, chỉ học thuộc long một đoạn! Mỗi một  bài khóa nhất định cần chọn lấy một đoạn để học thuộc “làu làu như cháo  chảy” Tốt nhất có thể viết ra được! Như vậy rất có lợi cho việc thi cử!

15. Phương pháp mà chỉ cần đọc qua một vài lượt, cứ nghĩ rằng hiểu là được rồi là phương pháp học “cực kì sai lầm”.

16.  Phương pháp học chỉ hiểu mà không thể đọc thuộc lòng không thể thay đổi  được “tố chất của não” chúng ta, hiểu cũng chỉ có thể dừng lại ở tầng  nông mà thôi. Hiểu rất quan trọng nhưng học thuộc lòng càng quan trọng  hơn nhiều!

17.  Sự thành công trong bất cứ lĩnh vực nào cũng đều dựa vào học thuộc  lòng! Người có trình độ tiếng Ạnh tốt đều nhờ vào “sự nỗ lực học thuộc  lòng” mà thành công!

18.  Lưu Tường kì thực “mỗi ngày đều học thuộc lòng”, bởi vì mỗi ngày anh ấy  đều lặp lại cùng một động tác; Dương Lợi Vĩ ngày nào cũng đều học thuộc  lòng, bởi vì ngày nào anh ấy cũng luyện tập lại những “động tác mà anh  đã rất quen thuộc”; Các ngôi sao ca nhạc ngày ngày cũng đều đang học  thuộc lòng, bởi vì nhiều năm trở lại đây họ đều hát đi hát lại có mấy  bài! Nhưng do luyện tập nhiều lần nên họ ngày càng hát hay, ngày càng  làm tốt!

19.  Học thuộc có thể “nâng cao rõ rệt” được khả năng ghi nhớ! Những vĩ nhân  trong lịch sử đều “thong qua học thuộc” mà đạt được khả năng ghi nhớ  phi thường!

20. Luôn mang theo một quyển sách, “mọi lúc  mọi nơi” đều có thể đọc to và học thuộc lòng một cách cuồng nhiệt, khả  năng ghi nhớ của bạn nhất định sẽ có những thay đổi vĩ đại. Chỉ cần kiên  trì một thời gian, bạn sẽ đạt được “khả năng siêu việt nhìn lướt cũng  khó quên”.

21. Học thuộc lòng chính là điểm mấu chốt giúp  hình thành khả năng ngôn ngữ! Chỉ có học thuộc lòng mới có thể chính  thức nắm vững được ngôn ngữ, đạt đến được cảnh giới “buột miệng nói ra”.

22. Học thuộc lòng có thể kích hoạt từ vựng và ngữ pháp! Học thuộc lòng giúp mang lại sức sống cho từ vựng và ngữ pháp.

23. “Học thuộc lòng một cách máy móc” chính là  cơ sở của bồi dưỡng sức sáng tạo và giáo dục tố chất, bởi vì chỉ có  “chết đi” mới có thể “sống lại”.

24. Lặp lại chính là sức mạnh. Sức mạnh sáng tạo nên kì tích.

25. Nền giáo dục Do Thái đã bồi dưỡng ra rất  nhiều người giành giải thưởng Nobel, nền giáo dục của họ chính là “lấy  việc học tập kiểu ghi nhớ làm trung tâm”, nhấn mạnh “đọc to nhiều lần”!

26. Học thuộc lòng có tác dụng to lớn đối với  việc nâng cao khả năng lý giải, khả năng ghi nhớ và khả năng biểu đạt,  cả ba khả năng này đều được nâng cao đồng thời! Nghe được tin tốt lành  này vậy bạn hãy lập tức bắt đầu học thuộc đi!

27. Học thuộc một bài văn “khó” “tốt hơn gấp 100 lần” học thuộc những bài văn đơn giản.

28. Nhất định cần phải tràn đầy tự tin đối mặt  với khó khăn, cũng chính là những bài văn khó! Bài văn khó đến đâu đi  chăng nữa cũng sẽ không chịu đựng nổi sự lặp đi lặp lại từ 20 đến 30 lần  1 ngày, càng đọc tình cảm của bạn đối với nó càng trở nên sâu đậm, càng  đọc càng đơn giản, cuối cùng tất cả đều chỉ là “chuyện vặt”!

29. Sách đọc trăm lần, Ý tự hiện ra. Có thể  đọc được 100 đã có thể trở thành thiên tài rồi, đáng tiếc là đại đa số  mọi người chỉ muốn hoặc chỉ biết đọc 1 hoặc 2lượt, nên họ đành trở thành  những người bình thường!

30. Việc học thuộc lòng của tuyệt đại số học  sinh đều thuộc dạng “tưởng thuộc nhưng chưa thuộc”, chưa hề triệt để một  chút nào, chưa hề tình nguyện một chút nào, số lần lặp lại “còn lâu mới  đủ”, như thế không có ích mấy cho việc học tiếng Anh, hơn nữa chỉ làm  lãng phí thời gian mà thôi.

31. Trí nhớ hình thành sau trăm ngàn lần  “luyện tập lặp đi lặp lại” gọi là “trí nhớ cơ bắp”. Học thuộc triệt để  giúp hình thành “trí nhớ cơ bắp” vĩ đại.

32. Khi vừa bắt đầu học thuộc “tương đối khó  khăn” (reciting is extremely difficult in the beginning.), nhưng khả  năng ghi nhớ trong quá trình học thuộc lòng, sẽ “dần dần được nâng cao”!  Bạn sẽ càng học càng thông minh! Nhất định không được hoài nghi bản  thân mình (Never doubt yourself!)

33. Chỉ cần bạn “kiên trì” học thuộc lòng  trong 3 tháng, bạn nhất định sẽ đạt được “khả năng ghi nhớ phi phàm!”  Suốt đời bạn sẽ không phải phiền não vì khả năng ghi nhớ của mình nữa!

34. Thời gian một lần học thuộc lòng không cần  vượt quá 5 phút! Bí quyết học thuộc lòng là: Ăn ít nhưng ăn nhiều bữa!  Mỗi lần ăn một ít, ăn làm nhiều lần!

35. Không nên ép mình một lần phải học thuộc  hết, chỉ cần bạn tranh thủ “hễ rảnh thì học thuộc lòng” là được rồi!  Đương nhiên, tốt nhất mỗi ngày có thể “tranh thủ thời gian vặt vãnh” để  lặp lại từ 20 lần trở lên!

36. Người càng bận rộn, càng phù hợp với việc  học thuộc lòng, bởi vì những người bận rộn có rất nhiều thời gian vặt  vãnh, hơn nữa hiệu suất sử dụng thời gian của họ rất cao! Trên đường đi  công tác, giờ giải lao giữa hội nghị, trước và sau 3 bữa ăn…

37. Dùng phương pháp học thuộc lòng để điều  tiết các môn Toán, Lý, Hóa hiệu quả cũng đặc biệt tốt! Toán học học mệt  rồi, vật lý học mệt rồi, hóa học học mệt rồi, đều có thể tiến hành “học  thuộc lòng một cách cuồng nhiệt”!

38. Khi học thuộc lòng có thể rất cuồng nhiệt,  cũng có thể rất yên tĩnh! Có thể vừa nhảy vừa học, vừa chạy vừa học,  cũng có thể đọc thầm!

39. Giáo viên không học thuộc bài khóa là  “giáo viên không đủ tiêu chuẩn”! Hi vọng rằng các thầy cô giáo khi đọc  xong đừng tức giận! Những giáo viên học thuộc bài khóa không những có  thể dạy tốt tiếng Anh, mà còn có thể nói tiếng Anh rất lưu loát.

40. Để khiến cho trình độ tiếng Anh của mình  “không ngừng nâng cao”, để nêu một “tấm gương sáng ngời” cho học sinh  noi theo, người giáo viên nhất định phải gương mẫu học thuộc trước tiên!

41. Trước khi lên lớp nhất định cần đọc to một  bài văn ngắn một lượt, hoặc một đoạn của bài văn, nêu một tấm gương  sáng chói cho học sinh, để cho giáo viên và học sinh cùng bước vào  “trạng thái Anh ngữ” cuồng nhiệt! Nếu có thể làm được như vậy, ngôi  trường này nhất định sẽ là ngôi trường học tiếng Anh tốt nhất toàn Trung  Quốc!

42. Học thuộc lòng có thể nâng cao nhanh chóng  “khí chất” của một cá nhân! Làm một người có khí chất phi phàm chính là  ước mơ của mỗi người! Hãy cùng bắt đầu cuồng nhiệt học thuộc lòng nào  các bạn ơi!

43. Học thuộc lòng là một thói quen vĩ đại, một khi có được thói quen này, bạn sẽ thu lợi suốt cả đời!

44. Học thuộc lòng giúp mang lại niềm vui cho  cuộc sống mỗi ngày của bạn! Những con chữ đẹp đẽ kia sẽ không ngừng làm  sạch tâm hồn bạn, không ngừng tạo dựng khả năng ăn nói của bạn, không  ngừng nâng cao sự tự tin của bạn, đương nhiên cũng không ngừng làm tăng  thêm khả năng thi cử của bạn!

45. Cuối cùng vẫn cần phải nói với mọi người  rằng: Kiên trì sáng tạo nên kì tích! Nhất định cần tiếp tục kiên trì! Tổ  quốc cần chúng ta phải kiên trì! Ba mẹ cần chúng ta phải kiên trì! Thầy  giáo cần chúng ta phải kiên trì! Thành tựu trong tương lai của chúng ta  càng cần chúng ta phải kiên trì.