Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

Sự tích Bát Tiên

Bát Tiên là 8 vị Tiên ở 8 động đá của núi Bồng Lai trên đảo Bồng Lai nơi cõi Thiêng liêng.

Bát Tiên gồm 8 vị Tiên kể tên ra sau đây:

1. Lý Thiết Quày (Thiết Quày hay Thiết Quải là cây gậy sắt) nhưng thường gọi là Lý Thiết Quả.

2. Hán Chung Ly.

3. Lữ Ðộng Tân (Ðộng là cái hang núi) nhưng thường gọi là Lữ Ðồng Tân.

4. Lam Thái Hòa.

5. Trương Quả Lão.

6. Hà Tiên Cô.

7. Hàn Tương Tử.

8. Tào Quốc Cữu

1. Lý Thiết Quả


Name:  LYTHIE~1_2.JPG
Views: 627
Size:  40.6 KB Name:  LYTHIE~2_2.JPG
Views: 620
Size:  40.2 KB Name:  Ly Thiet Qua.jpg
Views: 619
Size:  30.4 KB


Ngài họ Lý, tên là Huyền, hiệu là Ngưng Dương, nên thường gọi là Lý Ngưng Dương, diện mạo nghiêm trang, tính hạnh trong sạch, học rộng biết nhiều, không mộ công danh, muốn đi tu Tiên. Biết được Lý Lão Tử đang dạy Ðạo trên núi Họa Sơn, Lý Ngưng Dương liền tìm đến đó để xin học Ðạo.

Ði dọc đường, Ông ngâm thơ rằng:

Tâm tính con người có thấp cao,
Khen lò Tạo Hóa đúc anh hào.
Làm trai biết thấu vòng vinh nhục,
Ðược chữ thanh nhàn khỏi chữ lao.


Khi đến núi Họa sơn thì Trời đã tối. Lý Ngưng Dương tự nhủ: Mình là đệ tử đi cầu thầy học Ðạo, lẽ nào ban đêm dám gõ cửa. Chi bằng ngủ đỡ trên bàn thạch trước cửa động, chờ Trời sáng sẽ xin vào ra mắt.

Ở trong động, Ðức Lão Tử đang đàm đạo với Huyễn Khưu Chơn Nhơn, xảy có cơn gió thanh, Ðức Lão Tử hỏi:

- Ông có biết gió ấy là điềm chi chăng?

- Chắc có người gần thành Tiên đi tới.

- Ta đã rõ Lý Ngưng Dương gần thành Tiên và là Tiên đứng đầu sổ hết thảy.

Nói rồi, Ðức Lão Tử truyền Tiên đồng ra mở cửa động mà đón. Xảy thấy một Ðạo sĩ đang đứng trước động, liền hỏi:

- Có phải Lý Ngưng Dương đó không?

- Sao Tiên đồng lại biết tên tôi?

- Tôi vâng lệnh Lão Quân ra cửa đón anh.

Lý Ngưng Dương vô cùng mừng rỡ, chắc là mình có phước lớn nên mới được Lão Quân biết đến, liền đi theo Tiên đồng vào ra mắt, thấy Lão Quân có hào quang sáng lòa, dung nhan tươi nhuận, râu tóc bạc phơ, và Huyễn Khưu Chơn Nhơn cũng vậy.

Lý liền quì lạy ra mắt Lão Quân và Huyễn Khưu. Hai vị đáp lễ rồi mời ngồi. Lý Ngưng Dương quì thưa rằng:

- Ðệ tử tầm sư học Ðạo, lẽ nào dám ngồi. Xin Thầy dạy bảo.

Lão Tử bảo:

- Ngươi ngồi xuống rồi ta nói cho nghe:

Học Ðạo cho minh,
Lẳng lặng làm thinh,
Ðừng lo đừng ráng,
Cho tịnh cho thanh,
Chẳng nên nhọc sức,
Chớ khá tổn tinh,
Giữ được tính tình,
Là thuốc trường sinh.


Lý Ngưng Dương mừng rỡ lạy tạ Lão Quân.

Huyễn Khưu nói:

- Ngươi có tên trong Sổ Tiên, đứng đầu hết thảy. Về tu như vậy thì thành.

Nói rồi truyền Tiên đồng đưa Lý Ngưng Dương ra khỏi động, xuống núi. Lý Ngưng Dương lạy tạ rồi theo Tiên đồng rời khỏi động, trở về quê, lên núi cất nhà bên động đá, tu theo lời Ðức Lão Tử dạy, cứ tu luyện hoài như vậy. Chẳng bao lâu cảm thấy nhẹ mình, bước đi như gió.

Một người dân quê tên là Dương Tử lên núi thấy vậy cũng phát tâm mộ đạo, xin Lý Ngưng Dương thâu làm đệ tử, ở lại tu hành.

Ngày kia, Lý Ngưng Dương thấy hào quang chiếu vào cửa sổ, thì biết có Thần Tiên giáng hạ, rồi mau sửa soạn lên núi đón tiếp. Xảy nghe tiếng hạc, ngó lên thấy Ðức Lão Tử và Huyễn Khưu Chơn Nhơn cỡi hạc đáp xuống.

Lý Ngưng Dương lạy chào mừng rỡ.

Ðức Lão Tử nói:

- Bữa nay tinh thần hơn trước. Ta nhắm ngươi xuất hồn đặng. Vậy 10 ngày nữa, ngươi xuất hồn đi dạo các nước với ta.

Nói rồi liền từ giã, và hai vị cỡi hạc bay trở về núi.

Cách 9 ngày sau, Lý Ngưng Dương kêu học trò là Dương Tử đến dặn rằng:

- Thầy sẽ xuất hồn đi thiếp 7 ngày ngươi phải gìn giữ xác ta cẩn thận. Nếu sau 7 ngày mà ta không trở về thì hãy thiêu xác.

Dặn dò xong, Lý Ngưng Dương nằm thiếp xuất hồn đi.

Khi Dương Tử giữ xác thầy được 6 ngày thì người nhà đến báo tin rằng:

- Mẹ anh bệnh nặng, đang hấp hối, trông anh mau về cho mẹ thấy mặt mà tắt hơi.

Dương Tử khóc lớn than rằng:

- Thầy đi thiếp chưa về, nếu ta đi, lấy ai giữ xác thầy, bằng không đi thì làm sao thấy mặt mẹ, ôi khổ biết chừng nào!

Người nhà liền hỏi rõ Dương Tử về sự đi thiếp của thầy, rồi nói:

- Xác người chết đã 6 ngày, ngũ tạng thảy đều hư hết, lẽ nào sống lại bao giờ. Vả lại, thầy có dặn 7 ngày thì thiêu xác, chắc thầy đã thành Tiên. Nay 6 ngày mà thiêu xác thầy cũng không lỗi. Mau thiêu xác thầy rồi về gặp mặt mẹ.

Dương Tử bần dùng không nỡ, nhưng túng thế cũng phải nghe lời, liền đặt nhang đèn, hoa quả tế thầy, rồi thiêu xác. Vừa khóc vừa đọc bài kệ sau đây:

Mẹ bệnh ngặt hầu kề, Thầy đi thiếp chưa về,
Mẫu thân tình một thuở, Sư phụ nghĩa nhiều bề,
Vẹn thảo nên quyền biến, Lỗi nghì luống ủ ê,
Hồn linh xin chứng chiếu, Khoái lạc chốn non huê.


Thiêu xác thầy xong, Dương Tử liền gấp rút chạy về nhà, vừa đến cửa nhà thì mẹ vừa tắt thở. Rủi ơi là rủi! Lỗi hết hai đàng, đã bất nghĩa với thầy, lại không tròn hiếu sự.

Nhắc lại, Lý Ngưng Dương, hồn xuất về chầu Ðức Lão Tử, được thầy dẫn đi khắp các nước trên cõi thiêng liêng, đến núi Bồng Lai, gặp các Thánh Tiên, ra mắt đủ mặt, đến 7 ngày thì xin về. Ðức Lão Tử cười nói rằng:

- Hãy nghe bài kệ này thì rõ:

Tịch cốc ăn lúa mì, Ðường quen xe phơi phới,
Muốn tìm cốt cách xưa, Lại gặp mặt mày mới.


Lý Ngưng Dương nghe bài kệ của thầy thì ghi nhớ chứ không hiểu ngụ ý gì, nhưng cũng lạy thầy từ tạ ra về. Khi hồn về tới nhà thì không thấy xác, không thấy học trò, coi lại thì xác đã ra tro bụi.

Lý Ngưng Dương rất giận đứa học trò bất nghĩa này. Hồn bay phảng phất xuống chân núi, gặp một xác ăn mày nằm dựa bên đường, kế bên cây gậy, có một chân cùi.

Lý Ngưng Dương nghĩ lại bài kệ của thầy cho, chợt hiểu, biết phận mình phải vậy chớ không nên oán trách học trò, liền nhập hồn vào xác ăn mày, rồi ngậm nước phun vào gậy tre hóa ra gậy sắt. Bởi cớ đó, người đời không biết họ tên ông ăn mày này, thấy cầm cây gậy sắt, nên gọi là Ông Thiết Quày, sau gọi trại ra là Thiết Quả.

Sở dĩ Ðức Lão Tử không cho hồn Lý Ngưng Dương về kịp trước khi học trò thiêu xác là vì Ðức Lão Tử muốn Lý Ngưng Dương bỏ xác phàm cho tuyệt sự hồng trần mà về luôn nơi Tiên cảnh, còn xác ăn mày là mượn tạm để tu, chứ muốn biến hóa thế nào cũng được.

Thiết Quả đánh tay biết rõ các việc đã xảy ra với đứa học trò mình là Dương Tử. Thiết Quả liền đem linh dược đến cứu tử mẹ nó, kẻo đứa học trò tức tối ân hận cả đời tội nghiệp. Ðến nơi thấy Dương Tử đang ôm quan tài mẹ khóc ngất, rồi rút gươm ra định tự vận. Thiết Quả kịp đến ngăn cản và nói:

- Ngươi có lòng thành nên Trời khiến ta đến đây đem linh dược cứu tử mẹ ngươi. Vậy ngươi mau giở nắp quan tài ra, cạy miệng mẹ ngươi ra mà đổ thuốc.

Nói rồi lấy ra một hoàn thuốc đưa cho Dương Tử. Dương Tử làm y lời, giây lát, bà mẹ hắt hơi lấy lại hơi thở, rồi ngồi dậy bước ra khỏi quan tài, xem có vẻ mạnh khỏe hơn trước. Cả nhà vô cùng mừng rỡ. Dương Tử quì lạy Thiết Quả, thưa rằng:

- Cảm tạ Tiên ông, xin Tiên ông cho biết danh hiệu.

- Ta đây là Lý Ngưng Dương, là thầy của ngươi. Bởi ngươi thiêu xác ta nên hồn ta phải nhập vào xác ăn mày này. Biết rõ việc làm của ngươi, nên ta không chấp, lại đến cứu tử mẹ ngươi để ngươi nuôi mẹ phỉ tình. Ta tặng thêm cho ngươi một hoàn thuốc nữa để ngươi uống vào sống lâu nuôi mẹ. Thầy trò sẽ gặp lại sau nầy.

Dương Tử cúi đầu lạy tạ thầy, chưa kịp hỏi thăm thì Thiết Quả đã biến mất.

Thiết Quả biến hóa về núi Họa sơn, hầu thầy. Ðức Lão Tử cười nói:

- Vậy mới chắc thành Tiên, không lo trở lại trần thế.

Nói rồi truyền dọn tiệc ăn mừng Thiết Quả.
2. Hán Chung Ly

Name:  HANCHU~1_2.JPG
Views: 601
Size:  43.3 KB Name:  HANCHU~2_2.JPG
Views: 587
Size:  40.6 KB Name:  han chung ly.jpg
Views: 585
Size:  30.8 KB

Hán Chung Ly, họ là Chung Ly đời nhà Hán, tên là Quyền, hiệu là Vân Phòng, làm Ðại Tướng trong triều đình nhà
Hán.

Khi mới sinh, Chung Ly Quyền có điềm khác lạ, trên nóc nhà hào quang sáng đỏ, ai nấy đều kinh, lớn lên thành một vị tướng quân, võ nghệ như thần, oai danh quá cọp.

Khi ấy triều đình nhà
Hán nhận được sớ khẩn cấp của tướng trấn ải báo có binh Phiên do Bất Dực thống lĩnh đánh vào ải rất nguy kịch, xin triều đình cử binh cứu viện.

Xem xong,
Hán Ðế rất kinh hãi, liền hạ chiếu sai Ðại Tướng Chung Ly Quyền làm Nguyên soái, Phùng Dị làm Phó Tướng, kéo đại binh 50 vạn gấp rút đi ra quan ải cứu viện.

Nguyên Soái Chung Ly tế cờ, hiểu dụ tướng sĩ xong thì kéo quân đi ngay tới ải Kỳ Thủy đóng trại. Rạng ngày hôm sau, hai bên ra trận. Bất Dực đánh không thắng nổi Chung Ly, quân Phiên bại trận chạy dài. Tin chiến thắng liên tiếp báo về triều đình, danh tiếng Nguyên soái
Hán Chung Ly vang dậy.

Lúc đó, Lý Thiết Quả đang ở Cung Tiên, đánh tay biết
Hán Chung Ly đã thắng quân Phiên nhiều trận, uy danh lừng lẫy, và lại biết kiếp trước của Hán Chung Ly là Tiên coi sổ bộ ở Thượng giới, phạm tội bị đọa trần, nay mê việc chiến tranh mà không lo tu hành, biết chừng nào trở về ngôi vị cũ.

Lý Thiết Quả muốn độ Chung Ly, nhưng nếu để Chung Ly thắng trận mãi, triều đình sẽ gia phong quan tước, thì bị mê đắm trong vòng phú quí vinh hoa, nên Thiết Quả định làm cho Chung Ly bại trận thì mới độ được. Tính rồi liền hóa ra một ông già bay xuống dinh Phiên của Bất Dực.

Lúc bấy giờ Bất Dực đang ngồi trong dinh, thở vắn than dài, không tìm được kế chi để đánh binh
Hán. Xảy thấy quân vào báo: Có một ông già cốt cách Thần Tiên xin vào ra mắt.

Bất Dực lấy làm lạ, liền cho mời vào, hỏi:

- Lão trượng đến tôi có việc gì?

- Tôi đến đây bày cho Tướng quân kế thắng binh
Hán. Ðêm nay tôi biết bên dinh Hán có hỏa hoạn lớn, Tướng quân thừa dịp này kéo quân vào cướp dinh thì chắc thắng mười phần.

Ông già nói xong liền từ giã đi mất.

Bất Ðực, lòng bán tín bán nghi, sợ lầm kế của Nguyên soái Chung Ly, nhưng cũng truyền lệnh chuẩn bị canh hai đến cướp dinh
Hán. Nếu thấy dinh Hán bị hỏa hoạn như lời của ông già thì sẽ tràn quân đánh vào, bằng không thì rút binh về.

Bên dinh
Hán, tuy vừa mới thắng quân Phiên, nhưng cũng không dám kiêu, cắt đặt canh phòng ban đêm rất cẩn mật vì sợ cướp dinh.

Khoảng giữa canh ba, Lý Thiết Quả hóa phép đốt dinh
Hán, ngọn lửa cháy lan rất mạnh, binh lính không dập tắt nổi.

Bất Dực thấy đúng thời cơ, liền kéo đại binh đánh vào. Chung Ly Nguyên soái cầm giáo lên ngựa đánh với Bất Dực, thấy binh
Hán hoảng sợ chạy hết thì cả kinh, quay ngựa bại tẩu. Bất Dực muốn bắt sống Chung Ly nên buông tên nhắm vào con ngựa của Chung Ly đang cỡi, làm ngựa trúng tên té nhào, may Phó tướng Phùng Dị chạy đến tiếp cứu, bắt một con ngựa khác đưa cho Nguyên soái. Hai người bại tẩu, ngó lại dinh Hán bị lửa thiêu rụi, binh Hán bỏ chạy tán loạn. Nguyên soái tức quá té nhào xuống ngựa chết giấc. Khi tỉnh lại than rằng:

- Ta làm Ðại Tướng vâng chỉ đánh Phiên, ngỡ là cứu nước rạng danh, nào hay Trời khiến ta thảm bại thế nầy, chẳng những mắc tội với vua, lại còn hổ mặt với triều thần, thật là Trời muốn giết ta, ta còn sống làm chi nữa.

Than rồi,
Hán Chung Ly toan rút gươm tự vận. Phùng Dị cứ mãi khuyên can. Xảy thấy binh Phiên kéo đến truy nã. Phùng Dị cản hậu, Hán Chung Ly chạy trước. Chạy tới sáng thì lạc mất, Hán Chung Ly đến một nơi không có nhà cửa dân chúng, phía trước là núi, vừa đói vừa khát, tiến thoái lưỡng nan. Xảy thấy một ông sãi mắt xanh chống gậy đi tới. Chung Ly mừng rỡ bước đến thưa rằng:

- Tôi là
Hán Nguyên soái Chung Ly Quyền đem quân đi đánh Bắc Phiên, bị bại trận nên chạy lạc tới đây, xin thầy chỉ nhà cho tôi tá túc để trở về triều đình xin binh cứu viện.

Ông sãi gật đầu, dắt Chung Ly chỉ một cái am, nói rằng

- Ðây là chỗ ở của Ðông Hoa Chân Nhân, tướng quân vào đó mà tạm nghỉ.

Nói rồi đi thẳng như bay. Hớn Chung Ly đi đến am, nhìn thấy cảnh vật xinh tươi yên tĩnh, phải chỗ của Thần Tiên, đến trước cửa am, định gõ cửa thì nghe có tiếng ngâm thơ từ trong am vọng ra:

Việc thế chẳng đua tranh,
Thanh nhàn lánh lợi danh,
Thân nương theo động đá,
Tình gởi tại mây xanh.
Chơi dạo say mùi đạo,
Thong dong dưỡng tánh lành,
Hỏi ai là bạn tác?
Gió mát với trăng thanh.


Lý Thiết Quả sắp đặt trước, giả làm sãi mắt xanh dẫn
Hán Chung Ly đến cho Ðông Hoa Chân Nhân dạy đạo.

Hán Chung Ly nghe tiếng ngâm thơ vừa dứt thì có một ông Lão cốt cách Thần Tiên, chống gậy bước ra hỏi:

- Có phải Chung Ly Quyền Nguyên soái đó chăng?

Hán Chung Ly kinh hãi thưa:

- Phải, tôi vâng chỉ đi đánh Phiên, chẳng may thất trận chạy lạc đến đây, xin Thượng Tiên từ bi cho tôi tá túc.

Ðông
Hoa Chân Nhân mời vào am đãi cơm chay, nói:

- Công danh như bọt nước, phú quí như ngọn đèn trước gió. Từ xưa đến nay, giang sơn nhiều chủ, phúc thọ ít người. Bần đạo chán cảnh đời đau khổ, tìm nơi u nhã, sống thanh nhàn, thoát vòng lợi danh trần tục. Tướng quân cũng nên thừa dịp này mà tu tâm dưỡng tánh, còn ham công danh phú quí làm chi.

Chung Ly Nguyên soái lắng nghe, liền tỉnh ngộ, muốn theo học đạo, hỏi:

- Tiên ông luyện phép chi mà được trường sinh?

- Phép trường sinh có gì lạ đâu, lòng phải trống mà bụng phải đặc. Lòng trống là không lo lắng, để cho thơ thới như không; bụng đặc là không theo sắc dục, nguyên khí chẳng hao, được như vậy thì thành Tiên, trường sinh bất tử.

Hán Chung Ly nghe vậy thì mừng rỡ thưa rằng:

- Nhờ Tiên ông chỉ dạy, tôi xin lạy để làm học trò. Xin thầy cho biết tôn hiệu.

- Ta là đạo sĩ thời thượng cổ, nay đã thành Tiên, hiệu là Ðông Hoa.

Nói rồi truyền cho
Hán Chung Ly phép tu luyện và dạy luôn cho Chung Ly phép chỉ đá hóa vàng, rồi tặng cho một cây gươm thanh long chém quỉ.

Hôm sau,
Hán Chung Ly lạy thầy xin trở về nhà lo thu xếp việc nhà. Ðông Hoa Chân Nhân chỉ đường về nhà. Khi Chung Ly ngó lại thì thấy thầy và nhà cửa đều biến mất, suy nghĩ biết là Tiên ông biến hóa để độ mình. Chung Ly Quyền tự đặt hiệu cho mình là Vân Phòng, rồi cải trang đi mải miết về nhà để thăm gia quyến.

Gia đình Chung Ly Nguyên soái hay tin thất trận và mất tích, tin tưởng là đã chết nên cả nhà than khóc để tang. Nay lại thấy Chung Ly cải trang trở về thì thất kinh mừng rỡ, hỏi thăm cớ sự. Chung Ly thuật lại đủ hết. Gia quyến mừng rỡ nói rằng: Khi mới sinh ra có điềm lành, chẳng lẽ lại thác về nghiệp dữ.

Chung Ly Quyền không dám ở nhà lâu, sợ vua hay tin bắt tội, liền ăn mặc theo Ðạo sĩ, từ giã gia quyến để đi tu, lại đến thăm anh ruột là Chung Ly Giảng, đang làm chức Lang Trung. Chung Ly Giảng ham mộ đạo đức đã lâu, nay nghe em nói, mừng rỡ bội phần, liền sắp xếp hành trang, cùng em trốn lên non tu luyện. Hai người nhắm núi Họa sơn đi tới. Dọc đường, thấy con cò trắng đang ngóng cổ, Vân Phòng nói:

- Con cò cổ dài, le le cổ ngắn, không thể nào cắt bớt mà can bổ cho bằng. Việc đời cũng vậy, kẻ ưa danh lợi, người mến thanh nhàn.

Nhờ có gươm phép của thầy trao tặng, Vân Phòng giết được cọp tinh đang phá hại dân làng, lại thấy dân quá nghèo khổ, nên dùng phép chỉ đá hóa vàng, lấy vàng phát cho dân.

Ngày kia, Ðông
Hoa Chân Nhân tìm đến để dạy đạo thêm, truyền thêm phép tu luyện cho hai người.

Chung Ly Vân Phòng đi dạo chơi đến núi Tứ Hạo, thình lình một tiếng sấm nổ vang, núi nứt ra một cái khe. Vân Phòng thấy lạ, liền tiến vào khe, gặp một cái hộp đá có một cuốn kinh, liền lấy kinh đem ra ngoài xem thì khe núi biến mất, vách núi liền lại như cũ. Vân Phòng thầm biết là Thần Tiên đã ban kinh cho mình tu luyện, nên càng cố công. Chẳng bao lâu thì đạt đến mức cao siêu.

Bỗng nghe tiếng nhạc vang Trời, nhìn lên thấy mây lành năm sắc, Tiên hạc bay xuống đáp trước mặt Vân Phòng, nói tiếng người rằng:

- Thượng Ðế sai tôi xuống rước Vân Phòng trở về phục chức cũ ở Thượng giới.

Vân Phòng liền đưa sách lại cho anh, dặn dò và giã từ, cỡi hạc lên Trời. Chung Ly Giảng ở lại tu theo sách đó, lâu ngày cũng thành Tiên, được Vân Phòng cỡi hạc xuống rước.
3. Lữ Đồng Tân

Name:  LUDONG~1_2.JPG
Views: 650
Size:  39.8 KB Name:  LUDONG~2_2.JPG
Views: 647
Size:  42.5 KB Name:  lu dong tan.jpg
Views: 646
Size:  32.2 KB

Lữ Ðồng Tân, con của Thứ Sử Hải Châu, sinh ngày 14 tháng 4. Khi bà mẹ mới sinh Ông thì trong phòng mùi hương thơm phức, có hạc trắng bay vào phòng rồi biến mất. Ấy là Hoa Dương Chân Nhân đầu thai xuống trần làm Lữ Ðồng Tân.

Lữ Ðồng Tân lớn lên, mắt phụng mày ngài, tay dài, cổ cao, mũi thẳng, xương gò má cao, chơn mày bên tả có nốt ruồi, dưới bàn chân có chỉ như lưng rùa, mình cao 8 thước 2, tính ưa bịt khăn hoa dương (bao đảnh xanh), mặc áo đạo sĩ.

Khi ấy có thầy coi tướng Mãn Tổ đến coi đoán rằng:

- Người trẻ này tướng khác phàm tục, sau gặp chữ Lư thì đắc thời, gặp chữ Chung thì thành đạo.

Mọi người trong nhà đều nghe nhưng không hiểu gì.

Năm 20 tuổi, Lữ Ðồng Tân xưng hiệu là Thuần Dương, nên gọi là Lữ Thuần Dương, đi thi đỗ Tú Tài, tiếp theo đỗ luôn Cử Nhân, nhưng khi thi Tiến Sĩ thì rớt. Khi đến núi Lư sơn, gặp Huỳnh Long Chân Nhân dạy cho phép tu luyện và tặng cho một thanh gươm chém được yêu quái.

Ngày kia, Lữ Ðồng Tân đến chợ Trường An, huyện Hàm Ðan, vào quán rượu, gặp một đạo sĩ mặc áo trắng đang đề thơ trên vách 3 bài như sau:

Ngồi đứng hằng mang rượu một bầu,
Chẳng cho cặp mắt thấy Hoàng Châu.
Dạo chơi ít kẻ tường tên họ,
Trên thế thanh nhàn muốn được đâu?

Thần Tiên tìm bạn khó không nài,
Có phúc theo ta dễ mấy ai?
Ðông Hải rõ ràng nhiều động đá,
Ít người được thấy núi Bồng Lai.

Dạo chơi theo thuở, ở theo thời,
Danh lợi làm chi mắc nợ đời.
Nằm nghĩ co tay hằng đếm mãi,
Mấy ai ao ước được như lời.


Lữ Ðồng Tân thấy đạo sĩ cốt cách Thần Tiên, đề thơ thanh thoát thì cảm phục lắm, liền đến làm quen, chắp tay chào hỏi và xin Ðạo sĩ cho biết họ tên. Ðạo sĩ mời ngồi, rồi nói rằng:

- Ông hãy làm một bài thơ cho ta biết ý trước đã.

Lữ Ðồng Tân liền đọc:

Cân đai ràng buộc ý không màng,
Áo vải coi ra rất nhẹ nhàng.
Danh lợi cuộc đời chưa phỉ nguyện,
Làm tôi Thượng Ðế mới nên trang.


Ðạo sĩ nói:

- Ta là Chung Ly Vân Phòng, tu ở núi Triều Hạc, Ông có muốn đi chơi với ta không?

Ðồng Tân có vẻ lưỡng lự. Vân Phòng biết họ Lữ còn muốn đi thi Tiến Sĩ để trổ danh với đời, nên ý còn dùng dằng.

Vân Phòng muốn độ Lữ Ðồng Tân nên ngồi nấu một nồi huỳnh lương, tức là nồi bắp vàng. Trong lúc chờ cho nồi bắp chín, Vân Phòng đưa cho Lữ Ðồng Tân một cái gối, bảo nằm xuống nghỉ, còn mình thì tiếp tục chụm củi đun nồi bắp.

Ðồng Tân nằm xuống, kê đầu lên gối, giây lát chiêm bao thấy mình vác lều chõng đi thi, ngang qua nhà giàu nọ, gặp người con gái rất đẹp thì ướm lời. Nàng nói rằng:

- Nếu chàng thi đậu Trạng Nguyên thì thiếp nguyện nâng khăn sửa tráp.

Lữ Ðồng Tân vào khoa thi đỗ Trạng, về cưới nàng ấy, sau lại cưới thêm hầu thiếp, được vua bổ làm quan Gián Nghị, lần lần thăng lên. Sau 40 năm được vua phong tới chức Thừa Tướng, con cái đông đảo, sui gia cũng bực quan lớn, lại có cháu nội cháu ngoại. Thật là vinh sang phú quí tột bậc.

Chẳng may, sau đó bị gian thần hãm hại, vu oan giá họa, vua tin lời, bắt tội, truyền tịch thu gia sản, đày qua núi Lãnh Biển, cực khổ vô cùng. Kế giật mình thức dậy.

Vân Phòng ngồi kế bên cười lớn, ngâm câu thơ:

Nồi bắp hãy còn ngòi,
Chiêm bao đà thấy cháu.


Lữ Ðồng Tân lấy làm lạ hỏi rằng:

- Thầy biết sự chiêm bao của tôi sao?

- Chiêm bao 50 năm, công việc cả muôn, thật không đầy một lát, được chẳng khá mừng, mất không nên thảm, hết vinh tới nhục là lẽ thường.

(Do sự tích này mà người ta nói: Giấc Huỳnh lương, Giấc kê vàng, Giấc Hàm Ðan, là để chỉ giấc mộng của Lữ Ðồng Tân, xem vinh hoa phú quí là phù du mộng ảo).

Ðồng Tân nghe Vân Phòng nói vậy, liền tỉnh ngộ, ngẫm nghĩ thấy chán ngán cuộc đời, cầu xin Vân Phòng truyền đạo.

Vân Phòng nói:

- Việc nhà hãy chưa an, đời sau tu cũng không muộn.

Nói rồi liền bỏ đi. Lữ Ðồng Tân trở về nhà, bỏ việc công danh, lo tu tâm dưỡng tánh. Trong thời gian đó, Chung Ly Vân Phòng lần lượt bày ra 10 điều để thử tâm chí của Lữ Ðồng Tân. Vân Phòng rất hài lòng về người đệ tử này, nói:

- Ta đã thử 10 điều, khen ngươi bền chí, đáng được truyền đạo trường sinh. Song ngươi chưa có công quả bao nhiêu, nên ta rước gấp chưa được. Nay ta dạy ngươi phép chỉ đá hóa vàng, ngươi cứu đời cho có công quả, rồi ta sẽ rước ngươi về Thượng giới.

Lữ Ðồng Tân thưa rằng:

- Vàng ấy chừng bao lâu mới phai?

- Cách 3000 năm mới trổ.

Lữ Ðồng Tân chau mày thưa rằng:

- Như vậy thì cứu người nghèo bây giờ mà lại làm hại những kẻ 3000 năm sau nhiều lắm, thật tôi chẳng nỡ.

Vân Phòng khen:

- Lòng ngươi nhân đức 10 phần, truyền đạo bây giờ cũng
được.

Nói rồi dắt Lữ Ðồng Tân về núi Triều Hạc, và sau đó truyền hết các phép tu luyện cho Lữ.

Một ngày nọ, Vân Phòng gọi Lữ Ðồng Tân nói:

- Ta sắp lên chầu Thượng Ðế, sẽ tâu xin đem tên ngươi vào sổ Tiên. Cách 10 năm nữa, đến gặp ta tại Ðộng Ðình Hồ.

Xảy có một vị Tiên cỡi hạc bay đến nói:

- Có chiếu chỉ của Ðức Thượng Ðế phong Vân Phòng làm chức Kim Khuyết Thượng Tiên. Hãy mau lên lãnh sắc.

Vân Phòng liền từ giã Lữ Ðồng Tân rồi bay lên mây. Lữ Ðồng Tân vẫn ở núi Triều Hạc để tu và lập công quả.

Ngày nọ, Lữ Ðồng Tân đến sông Giang Hoài, được biết có một con giao long thành tinh, phá hại dân chúng. Ðã có nhiều đạo sĩ đến trị nó không nổi. Lữ Ðồng Tân biết mình có gươm phép của Huỳnh Long Chân Nhân ban cho, chắc trừ nó được, nên nói với quan Phủ để mình lãnh cho.

Nói rồi, rút gươm phép ra, miệng niệm Thần chú, phóng gươm xuống sông Giang Hoài, giây phút thấy nước sông nổi sóng, máu tươi vọt lên thắm đỏ dòng sông, con giao long bị chém đứt họng nổi lên. Gươm linh này chém xong lại trở vào
vỏ. Quan Phủ rất mừng, tặng cho Lữ vàng bạc để đền ơn, nhưng họ Lữ không nhận.

Lữ Ðồng Tân đi qua Châu Nhạc Dương, bố thí thuốc chữa bệnh, và tìm người lành độ dẫn tu hành. Kế tới ngày hẹn với Chung Ly, Lữ Ðồng Tân sắp đặt để đi đến Ðộng Ðình Hồ đón Vân Phòng và cùng Vân Phòng đi độ Hàn Tương Tử.
4. Lam Thái Hòa


Name:  LAMTHE~1.JPG
Views: 562
Size:  41.9 KB Name:  LAMTHE~2.JPG
Views: 563
Size:  45.6 KB Name:  lam thai hoa.jpg
Views: 548
Size:  31.3 KB

Lam Thái Hòa là Xích Cước Ðại Tiên đầu thai xuống trần, nên còn nhớ tính cũ, thường mặc áo rộng xanh, buộc dây lưng đen, một chân đi đất, một chân mang giày, mùa hè mặc áo bông mà không biết nóng nực, mùa đông chỉ mặc áo chiếc mà không biết lạnh, thật lạ lùng.

Thường ngày, Ông Lam Thái Hòa hay cầm cặp sanh dài ba thước (thước Tàu), đi ra ngoài chợ, vừa ca vừa nhịp, để xin tiền bố thí. Những bài ca do Ông tự đặt ra đều có ý khuyên đời bỏ dữ theo lành. Tiền xin được, Ông cột vào dây lưng, vừa đi vừa ca, khi tiền rớt cũng không thèm ngó lại, khi lại dùng tiền này bố thí lại cho người nghèo khổ.

Những trẻ nhỏ có dịp thấy Ông Lam Thái Hòa, đến chừng lớp trẻ này lớn lên rồi già (tức là 60 hay 70 năm sau) thì vẫn gặp ông Lam giống y như thuở trước, vẫn ăn mặc như trước, vừa đi vừa ca vừa nhịp, không già như người thường.

Về sau, Lam Thái Hòa gặp Lý Thiết Quả, hai người đàm đạo trên lầu ở quận Hào Lương. Kế nghe tiếng nhạc vang Trời, đôi chim hạc từ trên không đáp xuống, rước hai vị Tiên về Thượng giới.

Khi cưỡi hạc, Ông Lam bỏ cặp sanh rơi xuống đất, hóa thành ngọc, giây phút biến mất.

Trong Bát Tiên, Lam Thái Hòa có tính thuần hậu nhất.
5. Trương Quả Lão


Name:  TRUONG~1_2.JPG
Views: 522
Size:  41.6 KB Name:  TRUONG~2_2.JPG
Views: 525
Size:  40.6 KB Name:  truong qua lao.jpg
Views: 515
Size:  31.0 KB

Trương Quả Lão gốc là một con dơi trắng hồi tạo Thiên lập Ðịa, tu luyện lâu năm, hóa hình người, sau đến núi Trung Ðiều ở Hàng Châu, học đạo với Huyễn Khưu Chân Nhân, làm bạn với Lý Thiết Quả.

Các ông già bà lão thuật chuyện về Trương Quả Lão như sau:

Khi các ông bà ấy còn con nít, thì đã biết và gặp Ông Trương, thường thấy Ông cưỡi con lừa trắng đi dạo khắp nơi, đặc biệt Ông ngồi ngược chiều, quay mặt ra phía sau. Ðến khi đi về tới nơi ở, Ông liền đè bẹp con lừa, biến ra lừa giấy, xếp cất vào khăn. Khi muốn đi chơi, Ông lấy lừa giấy ra, phun nước vào thì hiện ra con lừa trắng để Ông cưỡi đi chơi. Khi các ông bà ấy già, vẫn gặp lại Ông Trương giống y như trước, không già hơn chút nào, thật là Ông đã đạt được phép trường sinh bất lão.

Ðến đời vua Ðường Thái Tông, vua cho triệu Ông vào triều, nhưng Ông không chịu đến.

Qua đời Võ Hậu, Bà cũng biết tiếng Ông Trương, nên cũng cho sứ giả đến triệu vào triều. Ông Trương đi được nửa đường thì chết, giây lát xác thối hóa dòi, sứ giả phải bỏ xác lại đó mà về triều tâu lại cho Võ Hậu rõ.

Nhưng sau đó, người ta vẫn gặp Ông Trương cỡi lừa trắng đi dạo như thường.

Ðến đời vua Ðường Minh Hoàng, vua sai quan là Bùi Ngộ đem chiếu đến rước ông Trương, ông Trương giả chết. Bùi Ngộ thắp nhang cầu khẩn, ông Trương từ từ sống lại, nhưng không chịu đi. Bùi Ngộ không dám ép, đành trở về triều tâu lại.

Vua lại sai 2 sứ giả nữa là Dự Thông và Lư Trang Huyền, đem sắc chỉ đến rước nữa. Ông Trương thấy vua có lòng trọng vọng nên mới chịu tới, được nhà vua và bá quan kính trọng mười phần. Vua hỏi Trương Quả Lão về chuyện Thần Tiên, Ông Trương ngồi làm thinh, nín hơi mấy bữa, không chịu nói.

Ngày kia vua làm tiệc đãi Trương Quả Lão, Ông từ chối, nói rằng:

- Tôi không biết uống rượu, duy có học trò tôi nó uống tới một đấu.

Vua xin Ông Trương vời tới. Giây phút có một đạo sĩ trẻ chừng 16 tuổi từ ngoài bay vào, ra mắt nhà vua.

Trương Quả Lão nói:

- Nó là đệ tử của tôi, xin đứng hầu bệ hạ.

Vua thưởng cho đạo sĩ trẻ một đấu rượu, anh ta liền uống hết. Vua lại ép uống nữa.

Trương Quả Lão nói:

- Chẳng nên cho nó uống nhiều, nếu quá chén, ắt sinh điều quái gở.

Vua cứ ép uống rượu để xem sự thể ra sao.

Giây phút, trên đầu đạo sĩ trẻ hiện ra một cái quả bằng vàng, rồi anh ta biến mất, quả bằng vàng ở dưới đất trơ trơ, giở nắp ra thấy rượu đầy quả. Coi lại, đó là quả vàng của vua. Ai nấy đều phục phép Tiên của Trương Quả Lão.

Vua hỏi Ông Trương bao nhiêu tuổi. Ông Trương đáp:

- Tôi sinh năm Bính Tý đời vua Nghiêu.

Vua lấy làm lạ, vì thấy Ông Trương tuổi lối 70 hay 80, liền truyền lệnh cho quan coi tướng là Hình Hòa Phát coi tuổi Trương Quả Lão, nhưng coi cũng không ra.

Vua liền sai Sư Dạ Quang là người coi thấu việc quỉ thần, coi cũng không biết tướng tinh của Trương Quả Lão. Khi ấy có Ðạo sĩ Diệp Pháp Thiện, học được phép Tiên, biết việc quỉ thần, rất được vua yêu mến, được vua vời đến hỏi tướng tinh của Trương Quả Lão.

Diệp Pháp Thiện tâu rằng:

- Nếu Bệ hạ chịu cất mão cởi hài mà xin tội cho tôi với Trương Quả Lão thì tôi mới dám nói.

Vua vì tính hiếu kỳ nên ưng chịu.

Diệp Pháp Thiện tâu rằng:

- Trương Quả Lão cưỡi lừa kỳ lắm, ngồi day ngược ngó ra sau, thật là con dơi trắng thời thượng cổ.

Nói vừa dứt lời thì Diệp Pháp Thiện bị sặc máu tươi chết liền tại chỗ. Vua kinh hãi, liền cất mão cởi hài như đã hứa, đến gặp Trương Quả Lão xin tội cho Pháp Thiện. Trương Quả Lão nói:

- Nó nhiều chuyện lắm, nếu không trị nó thì lộ cơ Trời.

Vua cứ đứng đó năn nỉ hoài, buộc lòng Trương Quả Lão phải tha cho Pháp Thiện, đến phun nước vào mặt thì Pháp Thiện sống lại như thường.

Vua sắc phong cho cho Trương Quả Lão là Thông Huyền Tiên Sinh, lại sai vẽ chân dung của Ông Trương treo ở lầu Tập Hiền.

Ngày kia, Minh Hoàng đi săn, bắt được con nai tại đất Hàm Dương, truyền làm thịt đãi yến. Ông Trương can rằng:

- Nó là Tiên lộc ngàn năm, chẳng nên giết. Nguyên trước đây, vua Hán Võ Ðế săn được con nai này, vua cho đóng đính bài trên gạc bên tả rồi thả cho đi.

Vua truyền coi lại thì trên gạc con nai này có đính bài đúng như Ông Trương nói, nhưng chữ trên đính bài đã mòn. Vua hỏi:

- Từ đó đến nay bao nhiêu năm?

Trương Quả Lão đáp:

- Năm Quí Hợi, Hán Võ Ðế đào ao Côn Minh, đến nay là năm Giáp Tuất, cộng lại là 852 năm.

Vua truyền quan Thái Sử coi lại thì y số.

Sau Trương Quả Lão xin về dưỡng già. Vua giữ không được, liền ban tặng cho một chiếc xe, một cây lụa, 2 lính hầu, đưa Trương Quả Lão về Hàng Châu. Ông Trương cho một tên lính hầu về triều, chỉ giữ lại một tên, rồi hai thầy trò đi vào núi Thiên Bửu.

Ít lâu sau, vua lại cho triệu Trương Quả Lão. Ông bèn giả chết, tên lính hầu lo chôn cất tử tế rồi báo về triều. Mấy hôm sau đó, người ta lại thấy Trương Quả Lão cưỡi lừa ngược đi dạo. Tên lính ấy lấy làm lạ, đào mộ của Ông Trương lên xem, chỉ thấy cái hòm không.

Vua hay tin, cho lập một cái miểu tại núi Thiên Bửu để thờ Trương Quả Lão.
6. Hà Tiên Cô

Name:  HATIEN~1_2.JPG
Views: 503
Size:  41.1 KB Name:  HATIEN~2_2.JPG
Views: 499
Size:  36.9 KB Name:  ha tien co.jpg
Views: 488
Size:  32.2 KB

Hà Tiên Cô, tên thật là Hà Tố Nữ, quê ở Quảng Châu, huyện Tăng Thành. Khi còn bé, Hà Tố Nữ có 6 cái xoáy trên đầu, ai cũng cho là kỳ. Hà Tố Nữ ở với mẹ tại khe Vân Mẫu.

Nhằm đời Ðường Võ Hậu, Hà Tố Nữ nằm chiêm bao được Thánh nhân mách bảo nên ăn bột Vân Mẫu thì nhẹ mình chẳng thác. Hà Tố Nữ thức dậy, nhớ lại làm y lời. Bà mẹ thấy Tố Nữ đến tuổi trưởng thành nên có ý kén rể. Hà Tố Nữ nhất định không chịu lấy chồng, chỉ muốn ở vậy nuôi mẹ.

Ngày kia, Tố Nữ đi kiếm bột Vân Mẫu thì gặp 2 Tiên Lý Thiết Quả và Lam Thái Hòa đang mang giỏ Hoa Lam đi hái hoa. Hai vị thấy Hà Tố Nữ gần thành Tiên, liền gọi đến, truyền cho phép tu luyện, và kêu tặng là Hà Tiên Cô.

Võ Hậu nghe đồn, cho người đến rước Hà Tiên Cô, nhưng dọc đường đi về triều, Hà Tiên Cô biến mất.

Sau quan Thứ Sử họ Cao gặp Hà Tiên Cô ở trên lầu Quảng Châu. Thứ Sử về triều tâu cho Võ Hậu rõ.

Lý Thiết Quả đến độ cả 2 mẹ con Hà Tiên Cô về cảnh Bồng Lai.
7. Hàn Tương Tử

Name:  HANTUO~1.JPG
Views: 573
Size:  40.0 KB Name:  HANTUO~2.JPG
Views: 472
Size:  37.6 KB Name:  han tuong tu.jpg
Views: 466
Size:  30.8 KB

Hàn Tương Tử sinh vào đời Ðường, cháu ruột của Hàn Dũ, gọi Hàn Dũ bằng chú. Thuở nhỏ, Hàn Dũ ép cháu học Nho để tiến thân trên đường làm quan nhưng Hàn Tương Tử không chịu nên nói:

- Chú mộ công danh phú quí, cháu mộ đạo Thần Tiên.

Vì vậy, Hàn Tương Tử thường lo tu tâm dưỡng tính.

Ngày nọ, Hàn Tương Tử gặp Hán Chung Ly và Lữ Ðồng Tân. Ba người dắt lên non hái đào chín. Hán Chung Ly biết Hàn Tương Tử sắp thành Tiên, liền kêu Hàn leo lên cây hái đào chín, nhánh đào gãy, Hàn Tương Tử té xuống bỏ xác thành Tiên, theo Hán Chung Ly và Lữ Ðồng Tân lên ở núi Bồng Lai.

Hàn Tương Tử có ý muốn độ chú mình là Hàn Dũ. Năm ấy, Trời hạn hán, Hàn Dũ vâng lệnh vua cầu mưa nhưng không linh. Bỗng nghe một đạo sĩ (do Hàn Tương Tử biến hóa ra) rao lên rằng:

- Ai muốn mua mưa tuyết, ta bán cho.

Hàn Dũ liền rước vào yêu cầu đạo sĩ cầu mưa, giây phút mưa xuống ngập đồng, tuyết sa chất ngất. Hàn Dũ nói:

- Không chắc ai đảo vũ mà được mưa tuyết này. Ta cầu đã nửa ngày rồi, có khi kết quả chậm một chút.

Ðạo sĩ nói:

- Mưa tuyết do tôi cầu cao 3 thước 3 tấc.

Hàn Dũ đo lại, đúng y như lời đạo sĩ, mới tin đạo sĩ là Thần Tiên có phép mầu.

Ðến ngày Hàn Dũ ăn lễ sinh nhật, Hàn Tương Tử đến chúc thọ chú. Hàn Dũ thấy vậy, nửa mừng nửa giận hỏi:

- Bấy lâu nay ngươi theo học đạo Thần Tiên thế nào? Làm một bài thơ nghe thử.

Hàn Tương Tử ngâm rằng:

Ðã quyết chí tu trì, Thành Tiên chẳng khó chi,
Mây xanh hằng cỡi hạc, Ðộng đá cứ ngâm thi.
Ðặt rượu trong giây phút, Trồng hoa nở tức thì.
Lâu dài ngàn tuổi thọ, Ðiều độ kẻ tương tri.


Hàn Dũ nói:

- Ngươi cướp quyền Tạo Hóa được sao? Hãy đặt rượu và trồng hoa xem thử.

Hàn Tương Tử bảo đem một cái ché không, đặt giữa bàn, lấy mâm đậy lại, trong giây phút, rượu ngon đầy ché. Rồi Hàn ra trước sân, đào đất vun đống, tức thì mọc lên một cây hoa mẫu đơn nở hoa rất lớn, giữa hoa có hiện ra hàng chữ:

Vân hoành Tần lãnh gia hà tại,
Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền.

Hàn Dũ đọc rồi ngẫm nghĩ mãi mà không hiểu ý gì, liền hỏi Hàn Tương Tử. Hàn Tương Tử đáp rằng:

- Ngày sau chú sẽ biết, bây giờ không dám lộ Cơ Trời.

Ai nấy trong bàn tiệc đều lấy làm lạ kỳ. Mãn tiệc, Hàn Tương Tử từ giã về núi.

Lúc ấy nhằm đời vua Ðường Hiến Tông, bên Tây Trúc đem dâng tượng Phật, vua muốn rước vào cung để thờ. Bá quan không ai dám can gián. Hàn Dũ thấy vậy liền dâng sớ can vua.

Vua xem sớ xong thì nổi giận, truyền cách chức Hàn Dũ và đày ra Triều Châu tức thì.

Hàn Dũ bị dẫn đi đày, đến một nơi hoang vắng, chẳng có nhà cửa người ở, mây giăng chót núi mịt mù, tuyết rơi bít lối. Chợt thấy phía trước có một đạo sĩ đang quét tuyết dọn đường, nhìn kỹ lại là Hàn Tương Tử. Hàn Dũ mừng rỡ hỏi:

- Xứ này là chốn nào?

Hàn Tương Tử đáp:

- Ðây là Ải Lam Quan, núi này là Tần Lãnh.

Hàn Dũ nhớ lại hai câu thơ trong hoa mẫu đơn thì than:

- Như vậy, số Trời đã định, chạy sao cho khỏi.

Từ đó, Hàn Dũ mới tin Trời và trọng Ðạo. Ðêm ấy, chú cháu bàn chuyện đạo đức đến khuya. Rạng ngày, Hàn Tương Tử tặng cho chú một hoàn thuốc, rồi dặn chú:

- Chú uống một hoàn thuốc Tiên nầy thì khỏi sinh các bệnh. Không bao lâu, ở Triều Châu có sấu nổi lên phá hại, chú đặt văn tế đưa nó phải đi, kế được phục chức trở về triều. Sau đó, cháu sẽ về độ chú, truyền cho phép tu luyện.

Nói rồi, Hàn Tương Tử từ giã chú trở về cung Tiên.
8. Tào Quốc Cữu

Name:  TAOQUO~1.JPG
Views: 357
Size:  38.8 KB Name:  TAOQUO~2.JPG
Views: 361
Size:  42.0 KB Name:  tao quoc cau.jpg
Views: 360
Size:  31.6 KB

Tại núi Bồng Lai, trong lúc ăn tiệc, uống rượu quỳnh tương, Lý Thiết Quả nói:

- Tại Bồng Lai có 8 động đá, mà anh em ta có 7 người, phải ráng độ thêm một vị nữa. Ta nhắm em của Tào Thái Hậu là Tào Quốc Cữu có khí tượng Thần Tiên, cũng nên độ kẻo uổng.

Hán Chung Ly thưa rằng:

- Ðể tôi xuống coi thử, nếu thực vậy thì tôi lo điều độ.

Nói về Tào Quốc Cữu, tên thật là Tào Hữu, em ruột của Tào Thái Hậu, đời vua Tống. Tào Hữu có một người em ruột là Tào Nhị, ỷ thế của anh và chị, lập phe đảng hại dân, bắt hiếp gái lành, sang đoạt tài sản. Tào Hữu rất giận, thường la mắng Tào Nhị, nhưng Tào Nhị vẫn chứng nào tật nấy, lại đem lòng oán trách.

Tào Hữu thường than rằng:

- Chứa lành có phước, chứa dữ mang họa. Em mình làm dữ mười phần, lẽ nào không bị hại, tuy qua đặng vương pháp, chớ chạy sao khỏi luật Trời. Nếu tai họa tới thì mình phải tội liên can, chi bằng nên lánh trước kẻo nhơ danh và mắc nạn.

Suy nghĩ rồi, Tào Hữu liền bán hết tài sản, đem tất cả tiền thu được bố thí cho dân nghèo, rồi mặc áo quần đạo sĩ đi lên núi, tìm chỗ thanh vắng để tu hành. Qua được vài năm thì Hán Chung Ly và Lữ Ðồng Tân tìm đến gặp mặt, hỏi rằng:

- Ông tu luyện ra sao?

- Lòng mộ đạo Thần Tiên thì lánh việc trần, chứ tôi không biết phép tu luyện chi hết.

Hai Tiên liền hỏi tiếp:

- Ðạo ở đâu mà mộ?

Tào Quốc Cữu chỉ Trời.

- Trời ở đâu?

Tào Quốc Cữu chỉ vào trái tim.

Hán Chung Ly nói:

- Tâm là Trời, Trời là đạo. Ông đã biết rõ cội rễ, tu chắc thành Tiên.

Nói rồi, liền đưa Tào Quốc Cữu về núi Bồng Lai.

Từ đây về sau, núi Bồng Lai có đủ Bát Tiên ở trong 8 động, tiêu diêu nhàn lạc vô cùng.
"Chó cắn Lữ Đồng Tân, không biết lòng người tốt."

Có điển tích như sau:

"Lữ Đồng Tân truyền thuyết là một trong Bát Tiên. Trước khi đắc đạo thành tiên, y cũng là một người đọc sách, nhưng đi thi mấy lần không đỗ, bèn quyết chí mở cửa kết bạn, du sơn ngoạn thủy, do gia sản tổ tiên để lại nên y sống rất sung túc.

Lữ Đồng Tân có một người đồng hương tên là Cẩu Yểu, là người thông minh, nhất biểu nhân tài, nhưng phụ mẫu mất sớm, gia cảnh bần hàn. Lữ Đồng Tân thương tình liền cho ở nhờ, tìm cách để Cẩu Yểu dùi mài kinh sử.

Một hôm có một cô nương họ Lâm đến nhà, tỏ ý muốn thành thân với Cẩu Yểu. Lữ Đồng Tân tỏ ý không ưng, vì muốn cho Cẩu Yêu an tâm học hành. Nhưng Cẩu Yểu lại động tâm, biểu thị đồng ý hôn sự này.
Lữ Đồng Tân nói: "Lâm gia muội tử hiền thục đoan trang, ngươi cũng có ý thế thì ta cũng không ngăn trở. Có điều ta muốn tân nương phải ở với ta ba đêm đầu tiên".
Cẩu Yểu nghe xong há hốc, nhưng rồi suy đi nghĩ lại cũng nhận lời. Ngày thành thân, Lữ Đồng Tân mặt mày hớn hở, còn Cẩu Yểu lại xấu hổ không dám nhìn người. Đêm động phòng, Lữ Đồng Tân không nói không rằng xộc vào phòng, ngồi trên bàn đọc sách . Cứ vậy ba đêm liền.
Ngày thứ 4 Cẩu Yểu cũng được gặp tân nương, nhìn thấy nàng vẫn còn che khăn sa đỏ. Mới biết "Thì ra ca ca dụng tâm lương khổ , sợ ta ham vui quên học, mới nghĩ ra cách này". Hai vợ chồng quyết định mai này nhất định sẽ báo đáp.
Rồi Cẩu Yểu cũng có ngày đề danh bảng vàng, vinh hoa phú quý.

8 năm sau Lữ gia xảy ra hỏa hoạn, nhà cửa cháy hết. Hai vợ chồng bàn nhau đến nhờ cậy Cẩu Yểu. Thế là Lữ Đồng Tân ngàn dặm đến phủ Cẩu Yểu kể chuyện. Cẩu Yểu rất đồng tình, giữ Lữ Đồng Tân ở lại một tháng. Nhưng một tháng đó lại không đưa cho Lữ Đồng Tân một đồng nào. Cho rằng Cẩu Yểu lấy oán báo ân, Lữ Đồng Tân quyết ý quay về.

Về đến nhà thấy nhà cửa khang trang, lại thấy giấy trắng rơi đầy, biết là trong nhà có tang . Vào nhà vợ nhìn thấy kinh ngạc hỏi "Chàng là người hay ma" . Lữ Đồng Tân hỏi rõ ngọn ngành, thì ra cách đây không lâu, có một nhóm người đến làm nhà mới. Họ còn mang theo cỗ quan tài, bảo là Lữ Đồng Tân đã bệnh chết ở phủ Cẩu Yểu. Lữ Đồng Tân biết ngay là trò của Cẩu Yểu, tức giận tiến đến quan tài đập tan làm hai, trong đó toàn là vàng bạc châu báu và một phong thư. Y mở ra thì thấy "Cẩu Yểu chẳng phải là người phụ tâm, dâng tặng vàng bạc châu báu. Huynh bắt vợ đệ phòng không ba đêm, đệ bắt vợ huynh khóc chồng đoạn trường". Lữ Đồng Tân cười khổ một tiếng "Hiền đệ, người giúp ta thật là khổ".

Từ đó hai người thân thiết vô cùng . Người sau mới có câu " Cẩu Yểu Lữ Đồng Tân, không biết lòng người tốt" để nói về việc nghĩ xấu cho lòng tốt của người khác. Vì chữ Cẩu Yểu (Gou yao) đồng âm với "cẩu giảo" (chó cắn) nên truyền tới truyền lui thành ra "Chó cắn Lữ Đồng Tân"

Ngoài ra còn có một tích nữa là:

"Sau khi Lữ Đồng Tân thành tiên, một ngày đi qua sông thấy một người chết đuối. Ông ta liền vớt lên, giết một con chó, lấy tim thay vào cứu người đó. Người đó sống lại lại mắng "Ta đang muốn chết, ông cứu ta làm gì?".
Rồi ông lại lấy bùn đất nặn ra tim phổi bỏ vào bụng chó. Con chó sống lại lại cắn Lữ Đồng Tân."

"Chích khuyển phệ Nghiêu" khác với nghĩa câu "Chó cắn Lữ Đồng Tân, không biết lòng người tốt."

Ở đây vua Nghiêu là một vị vua huyền thoại của Trung Quốc cổ đại, một trong Ngũ Đế. Ông, cùng với các vua Thuấn và Vũ sau này, được Khổng giáo xem là các vị vua kiểu mẫu và các tấm gương đạo đức.
Còn Chích là tên kẻ trộm cướp hung ác trong truyền thuyết cổ thời vua Nghiêu. (Về sau, người đời thường nhắc tới Chích như hàm ý chỉ nghề trộm cướp. ("Đạo" nghĩa là con đường, là cái nghiệp ) " Đạo + Chích" = Nghề Trộm cướp.)

Nghĩa của câu trên là: Chó của Chích cắn vua Nghiêu. Không phải vì vua Nghiêu bất nhân nên bị chó cắn mà là chó thì bất kỳ ai không phải chủ của nó là nó cắn.
Lã Động Tân người Hà Trung, họ Lã tên Nham, tự là Động Tân còn gọi là Thuần Dương kiếm khách. Ông là một trong bát tiên của Đạo gia gồm: Chung Ly Quyền, Lã Động Tân, Trương Quả Lão, Lý Thiết Quài, Lam Thái Hoà, Tào Quốc Cựu, Hà Tiên Cô và Hàn Tương Tử. Tương truyền ông chính là Huê Dương Chơn Nhơn xuống trần đầu thai, trải qua kiếp nạn cuối cùng là "Ái Tình" để đắc đạo.
Trên đường đi Lư Sơn tầm sư học đạo, Lã Động Tân vô tình bị lôi vào chuyện trừ yêu cứu tiểu thư của nhà Vương viên ngoại. Con yêu này chính là Hạo Thiên Khuyển của Nhị Lang thần. Bảo vật dùng để bắt yêu là một bức họa đồ, hễ dụ được nó nhảy vào họa đồ thì cuộn lại, có thể khiến nó xương cốt thành tro.
Lã Động Tân được giao nhiệm vụ giữ cửa, canh chừng bức họa đồ. Khi dẫn dụ được Hạo Thiên Khuyển nhảy vào bức họa, Lã Động Tân vội cuộn lại, nhưng được nửa chừng thì nghĩ tới chủ của nó là Nhị Lang thần nên lưỡng lự thả bức họa đồ xuống. Hạo Thiên Khuyển thoát ra liền quay sang cắn Lã Động Tân một cái rồi chạy mất.
Lã Động Tân vừa bị cắn đau vừa làm lỡ việc trừ yêu của người ta, đành phải ở lại nhà Vương viên ngoại canh chừng Hạo Thiên Khuyển. Sau nhờ Hằng Nga tiên tử đưa tin, mời Nhị Lang thần xuống mới thu phục được nó.
Người đời sau dùng tích "chó cắn Lã Động Tân" này để chỉ bản thân vô duyên vô cớ gặp phải những chuyện không như ý, ách giữa đàng lại mang vô cổ, làm ơn mà mắc oán.

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011

Miếu Thiên Hậu (Quảng Triệu Hội Quán)



Miếu Thiên Hậu ở gần khu trung tâm thành phố: số 122 Bến Chương Dương, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Trong miếu Thiên Hậu trước kia có Quảng Triệu Hội Quán, nay hội quán không còn sinh hoạt. Vị thần chính được thờ ở đây là bà Thiên Hậu, nên tên chính chính thức được ban quản lý di tích đặt cho cơ sở tín ngưỡng này là "miếu Thiên Hậu". Đối diện với miếu Thiên Hậu là chợ cầu Ông Lãnh nên có người gọi miếu là "chùa Bà cầu Ông Lãnh" (để phân biệt với miếu Bà ở Chợ Lớn và miếu Bà ở quận 3).
Miếu Thiên Hậu được xây dựng năm Đinh Hợi - Quang Tự thứ 13 - nhà Thanh (1887). Năm 1920 miếu bị cháy, năm 1922 miếu được tái lập. Ban trị sự bang Quảng Đông - Sài Gòn đứng ra tổ chức tái lập miếu. Một số vật liệu xây dựng được chở từ Trung Quốc qua. Năm 1972, miếu được trùng tu và xây dựng thêm. Một phần của hai bên trục phụ của miếu được đúc thêm tầng lầu, mái lợp tôn. Việc xây dựng thêm đã ảnh hưởng đến kiểu kiến trúc khung gỗ, mái ngói thuần phác của Trung Quốc. Từ năm 1972 đến nay (1998) hàng năm ban quản trị miếu thường cho sơn phết lại tường, cửa, gia cố lại một số tượng bằng giấy bồi...
Mặt bằng tổng thể của miếu được chia thành 3 trục: trục chính ở giữa và hai trục phụ hai bên. Ba trục kết hợp với nhau tạo thành một mặt bằng hình chữ nhật. Người ta còn gọi kiểu mặt bằng này là hình chữ "khẩu" hoặc chữ "quốc". Tổng diện tích toàn bộ khuôn viên của miếu Thiên Hậu là: 54,68m x 22,04m = 1200,7m2. Các thành phần trên trục chính gồm:
  • Hàng hiên;
  • Sân thiên tỉnh;
  • Nhà niệm;
  • Tiền điện;
  • Trung điện;
  • Chính điện.
Hai trục phụ của công trình được bố trí đối xứng qua trục chính. Nửa phía trước của hai trục phụ dùng để làm trường học, nửa phía sau để thờ cúng. Phần giữa được đúc thêm một tầng lầu (1972) để làm văn phòng và nghỉ ngơi cho ban quản lý miếu. Trên mái trục chính được trang trí rất nhiều tượng gốm. Trên mặt dựng đầu hồi của trục chính và trục phụ đều có bo gờ chỉ uốn lượn như hình ngọn sóng biển dâng cao (phần này được quét vôi màu xám). Kiểu mái ngói thẳng có trang trí tượng gốm trên đỉnh và mặt dựng đầu hồi kiểu đặc trưng cho các công trình kiến trúc tôn giáo của người Hoa - Quảng Đông ở thành phố Hồ Chí Minh.
Kết cấu công trình miếu Bà: công trình được xây bằng gạch xanh chở từ Trung Quốc qua. Gạch có kích thước 23cm x 16cm x 10cm làm bằng bột đá xanh, chất kết dính là vôi và mật. Người ta không tô phía ngoài tường mà để gạch trần, lộ ra vẻ đẹp của vật liệu xây dựng và kỹ thuật xây dựng cao. Miếu được lợp bằng ngói xanh, theo kiểu âm dương tiểu đại hay ống ngõa. Cuối mái có đường diềm tráng men xanh.
Bộ khung chịu lực của miếu bằng gỗ, được dựng theo kiểu chồng rường - đấu cũng. Các thanh chống đứng trong bộ vì kèo được chạm khắc hoa văn. Toàn bộ công trình có 14 hàng cột: trong đó 13 hàng cột gỗ có kích thước đường kính 0,3m, chân kê cột bằng đá có chạm khắc nhiều kiểu: chân vuông, bát giác, hoa sen. Về điêu khắc ở miếu Thiên Hậu được thể hiện rất phong phú cả về hình thức, nội dung và chất liệu:
++ Điêu khắc gốm: là điểm nổi bật của công trình này. Từ xa đã nhìn thấy những tượng gốm gắn trang trí trên đỉnh mái. Bước vào sân ta thấy tượng gốm gắn dày đặc hai bên tường. Tượng được gắn ở sân thiên tỉnh, hai bên nhà niệm... Tượng gốm tráng men, màu sắc phong phú, thể hiện người, vật, nhà cửa, cung điện, hoa lá... Những mảng tượng gốm thường dựng lại những tuồng tích trong lịch sử Trung Quốc được sản xuất ở Sài Gòn năm 1887 và gốm của lò Bửu Nguyên sản xuất năm 1922.
++ Điêu khắc gỗ: được thực hiện trên vì kèo, phù điêu, cửa, câu đối, hoành phi, trang thờ, bàn thờ. Đặc biệt là 3 trang thờ ở chính điện và các mảng chạm gỗ phía trước của 4 bàn thờ (3 ở chính điện, 1 ở trung điện) do tiệm Ký Hòa Hiệp ở Sài Gòn sản xuất.
++ Điêu khắc đá: thể hiện ở phần bó vỉa mặt tiền, các bệ cột. Đặc biệt có hai cặp lân đá: một cặp nhỏ ở bậc tam cấp, một cặp lớn ở thanh ngang phía trên hàng hiên.
Trong di tích miếu Thiên Hậu có 23 hiện vật có giá trị, nổi bật nhất trong số đó là 3 bộ lư và các bức tượng bằng giấy bồi.
1. Bộ lư thứ nhất: đặt ở trung điện, trên bàn thờ Ngọc Hoàng, gồm 5 món (còn gọi là bộ ngũ sự) được làm bằng chất liệu: thiếc pha chì.
2. Bộ lư thứ hai: đặt ở chính điện, trên bàn thờ Long Mẫu nương nương, gồm 5 món: một lư trầm, 2 chân nhang, 2 chân nến được làm bằng chất liệu: chì. Bộ lư có đề "Quang Tự thứ 13" (1887).
3. Bộ lư thứ ba: đặt ở chính điện, trên bàn thờ bà Thiên Hậu, gồm 2 chiếc bằng nhau và lư có quai hình đầu thú được làm bằng chất liệu: đá trắng có vân màu nâu.
Các bức tượng bằng giấy bồi gồm: 2 bức tượng bà Thiên Hậu và 2 bức tượng hầu gái, tượng bà Kim Hoa và 2 cô hầu gái, tượng Long Mẫu và 2 cô hầu gái. Thờ bà Thiên Hậu là một hình thức tín ngưỡng từ quê hương Trung Quốc được người Hoa - Quảng Đông mang theo khi di cư đến Việt Nam. Ngày lễ chính của miếu Thiên Hậu là ngày vía Bà: 23 tháng Ba âm lịch (ngày sinh).
Trước ngày giải phóng 30/4/1975, trong ngày lễ có các nghi thức như: tắm bà, múa lân, hát Quảng, bán đấu giá đèn lồng nay đã được giản lược đi. Ngày vía Bà chỉ còn dâng cúng lễ vật như: heo quay nguyên con, gà luộc, vịt quay, bánh bò, bánh lá liễu, bánh ngọt, hoa tươi, nhang nến, giấy tiền - vàng - bạc... Sau khi dâng cúng lễ vật, người ta mua một vòng nhang treo trong miếu để cầu an cho gia đình. Trong số người đến cúng phần đông là người Hoa, có một số là người Việt. Các vị được thờ chung trong miếu gồm:
1. Kim Hoa nương nương;
2. Thiên Địa phụ mẫu;
3. Văn Xương;
4. Tề Thiên Đại Thánh;
5. Hoa Ông - Hoa Bà;
6. Thanh Long;
7. Thái Tuế;
8. Bảo Thọ;
9. Quan Thánh;
10. Long Mẫu nương nương;
11. Bắc Đế;
12. Quan Âm;
13. Bạch Vô Thượng;
14. Thần Nông;
15. Bạch Hổ;
16. Ngọc Hoàng;
17. Bao Công (có thêm Châu Xương, Quan Bình và ngựa Xích thố);
18. Tài Bạch Tinh Quân (Thần Tài);
19. Thiên Quan Tứ Phước (ông Thiên);
20. Phúc Đức Chánh Thần (Thổ Địa);
21. Môn quan Vương Tả (Quan gác cửa);
22. Cửu Thiên Huyền nữ.
Ngoài lễ vía Bà là ngày lễ lớn nhất, trong năm còn những ngày lễ khác cũng được cúng lớn như: tết Nguyên đán, tết Nguyên tiêu, tết Trung thu, ngày vía của các vị thần khác thờ trong miếu như: vía bà Kim Huê - 17 tháng Tư âm lịch, vía bà Long Mẫu - 8 tháng Năm âm lịch, vía Quan Công - 24 tháng Sáu âm lịch, vía Thần Tài - 22 tháng Bảy âm lịch, vía Ngọc Hoàng - 9 tháng Giêng âm lịch. Trong một tháng thì ngày Sóc (mùng một), ngày Vọng (ngày rằm) khách đến cúng rất đông. Những dịp như đầy tháng con, họ cũng đem lễ vật đến cúng thần.
Hoạt động tích cực của miếu là công tác từ thiện và tài trợ cho giáo dục. Miếu đã chi một phần thu nhập từ lễ vật cho việc cứu trợ thiên tai, giúp cho công tác xóa đói giảm nghèo. Thường xuyên tài trợ cho trường học tiếng Hoa ở ngay trong khuôn viên miếu (bên phần trục phụ), đó là "Trung tâm Hoa văn Nhật Tân - Quận I". Do có những giá trị đặc sắc về kiến trúc, điêu khắc và lịch sử, miếu Thiên Hậu được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 722-QĐ/BVHTT ký ngày 25/4/1998.

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

TỨ QUÝ

TỨ QUÝ được nhắc đến là 4 loại cây phong cảnh: TÙNG, CÚC, TRÚC, MAI. Cũng giống như Tứ Linh (Long, Lân, Quy, Phụng), người ta chơi Tứ Quý cũng phải trưng bày đủ cả 4 loại. Và có nhiều cách sắp xếp trật tự khác nhau tùy văn hóa và quan niệm mỗi người.


Theo ý nghĩa mùa thì có thể treo theo trật tự Tùng Trúc Cúc Mai (Xuân hạ thu đông) hoặc Mai Trúc Cúc Tùng (Xuân hạ thu đông), trật tự này vẫn chưa được thống nhất.


MAI

Mai là 1 cây hoa quý đối với người Trung Quốc, có thể coi là Quốc hoa. 

Nó có màu trắng hoặc hồng. Không phải là giống hoa mai vàng của miền Nam Việt Nam. Vì nó trắng nên tượng trưng cho sự thanh khiết. Nó chịu qua gió tuyết mùa đông nên thể hiện được  sức sống mãnh liệt. 

Mai thường nở hoa 5 cánh, báo hiệu xuân về. Vì ý nghĩa đó, ngay cả Cao Bá Quát cũng phải thốt lên rằng: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Cả đời chỉ cúi đầu trước hoa mai thôi)

















TRÚC
Trúc trong tiếng Hán chỉ loài tre nói chung, tuy nhiên Trúc theo nghĩa là cây cảnh thì người ta hay chơi Trúc Quân tử. 

Tre trúc mùa đông không rụng lá, sống nơi khô cằn sỏi đá, đốt tre mọc thẳng từ khi còn là măng non. Vì thế còn có câu: Trúc dẫu đốt, tiết ngay vẫn thẳng (Trúc sau khi đem đốt, tro vẫn còn giữ được hình dáng thẳng vốn có!)"Trúc" ở đây cũng là tre (thuộc họ tre trúc).

Chưa hết, tre trúc trong quan niệm của người xưa là đại diện cho tấm lòng ngay thẳng, chính trực của bậc chính nhân quân tử. 






















CÚC
"Cứ mỗi độ thu sang, hoa cúc lại nở vàng". 

Từ câu này có thể suy diễn được nhiều điều:
- Cúc biểu tượng của sự trường thọ. Thường dùng để chúc thọ, chúc người già. Vì thế có loài cúc mang tên Cúc Vạn thọ.

- Cúc cũng có chí khí quân tử của nó. Ai chơi hoa cúc đều biết Hoa cúc tàn nhưng không rụng, nó chỉ gục rũ trên thân của nó thôi. 

Hoa cúc còn có thể dùng làm thuốc và pha trà. Trung Quốc có loại trà hoa cúc rất thơm ngon, có thể pha thuần hoa cúc, có thể thả vài bông vào ấm chè mạn, thanh nhiệt giải độc. 


















TÙNG

Tùng có nghĩa là cây Thông. Ta gọi là Tùng, Bách, Thông nhưng Trung Quốc chỉ gọi là Tùng. Người Trung Hoa phân biệt mấy loại đó bằng Tùng La hán, Tùng mã vĩ (thông đuôi ngựa)...
Cây Tùng mọc trên núi đá cao, khô cằn, thiếu nguồn dinh dưỡng. Nó hay mọc ở những mỏm núi chênh vênh, chịu nhiều sương gió, bão tuyết mà không chết không đổ. 

Ngoài ra, Tùng là loài cây thực vật hạt trần, có thể phát tán bộ gen trong gió. Nó là loại thực vật lá kim, quanh năm xanh tốt, không rụng lá, tiết kiệm (nước), rễ bám sâu vào trong vách núi. Đó là phẩm chất quý mà con người mong ước. Trong truyện Tào Tháo đời Tam Quốc có nói đến chuyện 1 cây Tùng già cổ thụ, đường kính mấy chục người ôm (tương truyền giờ vẫn còn). Nhiều người muốn chặt nhưng không chặt được. Tào Tháo khiếp sợ và phong cho cây Tùng là Trượng phu Tùng. Có phong quan và treo mũ tượng trưng. 

Vậy Tùng còn có ý nghĩa: Bậc Trượng phu hoặc Đại trượng phu.