Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

Người Chăm

Người Chăm, còn gọi là người Chàm, người Chiêm Thành, người Chiêm, người Hời..., hiện cư ngụ chủ yếu tại Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Thái LanHoa Kỳ. Dân số tại Việt Nam theo điều tra dân số 1999 là 132.873 người; theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam năm 2008 là khoảng hơn 145.000 người, xếp thứ 14 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Cham woman.jpg
Phụ nữ người Chăm với trang phục truyền thống
Khu vực đông người sinh sống
 Campuchia 270.000
 Việt Nam 145.235
 Lào 15.000
 Malaysia 10.000
 Thái Lan 15.000
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ 200
 Pháp 1.000
 Ả Rập Saudi 100

Lịch sử

Người Chăm là một dân tộc đã từng có một quốc gia độc lập, hùng mạnh trong lịch sử; có nền văn hóa phát triển; có quan hệ đồng tộc, đồng tôn với các cộng đồng Chăm ở các nước khác như Campuchia, Thái Lan, Malaisya, Mỹ, Pháp, Australia, Canada,...Ở Việt Nam người Chăm có quan hệ gần gũi với nhóm dân tộc như Ê Đê, Gia Rai , Chu Ru , RaGlai.
Trước thế kỷ thứ 7 có vương quốc Lâm Ấp từ năm Sơ Bình thứ 3 nhà Hán (192) đến năm Đại Nghiệp thứ 1 nhà Tùy (605). Sau năm 605, tình hình nước Chăm Pa không rõ cho đến thế kỷ thứ 8. Các tên gọi khác nhau của vương quốc này theo văn bia tiếng Phạn và tiếng Chăm cổ là Campanagara, Nagara Campa, Nagar Cam. Còn sử sách Trung Quốc gọi là Lâm Ấp quốc (phiên âm theo tiếng Bắc Kinh hiện nay là Lin-yi-guo), Chiêm Bà Quốc, Hoàn Vương QuốcChiêm Thành quốc. Vương quốc này bắt đầu suy tàn từ đầu thế kỷ 15 sau cuộc can thiệp do quân đội nhà Minh dưới sự chỉ huy của vua Vĩnh Lạc Đế đối với ba triều đài: nhà Hậu Trần (Đại Việt), nhà Hồ (Đại Ngu) và triều đại Vijaya (Chăm Pa). Sau khi quân đội nhà Minh rút về, vương quốc Chăm Pa được phục hồi nhưng chia thành 2 tiểu vương quốc: Tiểu vương quốc Vijaya (Đồ Bàn: 1428-1471) và Tiểu vương quốc Panduranga (Phan Rang: 1433-1832). Tiểu vương quốc Vijaya bị quân đội Đại Việt tiêu diệt dưới sự chỉ huy của vua Lê Thánh Tông để thôn tính đất đai vào năm Hồng Đức thứ 2 nhà Lê tức năm 1471). Năm đó, tiểu vương quốc Panduranga cũng trở thành chư hầu của Đại Việt. Năm Hiển Tông thứ 2 chúa Nguyễn (năm Chính Hòa thứ 14 nhà Lê tức năm 1693), Nguyễn Hữu Cảnh đã một lần chinh phục Tiểu vương quốc Panduranga, đổi tên Chiêm Thành quốc thành Thuận Thành trấn, rồi đổi Thuận Thành trấn thành Bình Thuận phủ. Nhưng, năm 1694, trong khi Nguyễn Hữu Cảnh tây chinh đánh Campuchia, tướng người Chăm tên Ốc Nha Đạt và tướng người Thanh tên A Ban đã tập hợp được đông đảo lực lượng người Chăm Pa, nổi dậy và tiêu diệt toàn bộ lực lượng chúa Nguyễn tại đây. Chúa Nguyễn (vua Nguyễn Hiển Tông tức Nguyễn Phúc Chu) đã bất đắc dĩ cầu hòa với người Chăm Pa và cho phép người Chăm Pa phục hồi Thuận Thành trấn (Khu Tự trị Chăm Pa). Hòa ước giữa chúa Nguyễn và chúa Chăm Pa được ghi rõ trong Nghị Định Ngũ Điều vào năm Hiển Tông thứ 21 (năm Vĩnh Thạnh thứ 8 nhà Lê tức năm 1712) và được duy trì cho đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832). Sau cải thổ quy lưu (giải thể khu tự trị) vào năm 1832, một số người Chăm liên minh với Lê Văn Khôi, nổi dậy để phục hồi Thuận Thành trấn nhưng kết thúc thất bại. Hậu duệ của chúa Chăm Pa có ông Dụng Gạch, một vị hoàng tử anh hùng, phó chủ tịch ủy ban hành chính lâm thời huyện Hòa Đa (Bắc Bình ngày nay) phụ trách miền núi sau Cách mạng tháng Tám.
Chăm Pa thừa kế Lâm Ấp được thành lập sau cuộc nổi dậy của một viên quan địa phương (quan Công Tao) tên là Khu Liên (Kiu-lien) chống lại chính quyền nhà Hán năm 192 tại huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam (ngày nay là Huế). Lãnh thổ của Chăm Pa ngày nay thuộc thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và một số vùng Tây Nguyên. Lâm Ấp chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa và tôn giáo Trung Quốc nhưng sau các cuộc chiến với quốc gia láng giềng Phù Nam, cũng như sự thôn tính lãnh thổ của quốc gia này vào thế kỷ 4, đã hòa trộn văn hóa Ấn Độ. Theo văn bia tiếng Phạn tại Mỹ Sơn, vua Chăm Pa và vua Campuchia đều là hậu duệ của hoàng tử Asvattaman, một anh hùng lưu vong bạc mệnh trong sử thi Ấn Độ Mahabarata thuộc nhà Kuru. Riêng, các chúa Panduranga thì thuộc dõng Pandu nên Chăm Pa (Vijaya, thuộc nhà Kuru) và Panduranga (thuộc nhà Pandu) vốn là 2 quốc gia thù địch với nhau. Sử sách Trung Quốc luôn ghi rõ 2 nước Chiêm Thành (Chăm Pa) và Tân Đồng Long (Panduranga) là 2 quốc gia riêng.
Lịch sử của vương quốc Chăm Pa là các cuộc xung đột với Trung Quốc, Đại Việt, KhmerMông Cổ, cũng như xung đột nội bộ. Chính là do các cuộc xung đột này mà Chăm Pa mất dần lãnh thổ vào tay Đại Việt, một quốc gia có tổ chức chính quyền và quân sự hoàn hảo hơn. Chăm Pa trong quá khứ là một nước chư hầu của các triều đại phong kiến Trung Quốc và Đại Việt nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa và sự toàn vẹn lãnh thổ. Người Chăm Pa là những chiến binh giỏi đã sử dụng địa hình đồi núi để chiếm ưu thế. Năm Hồng Đức thứ 2 nhà Lê (1471), Tiểu vương quốc Vijaya chịu tổn thất nặng nề trong cuộc chiến với Đại Việt dưới triều đại vua Lê Thánh Tông. Khoảng 60.000 quân Chăm Pa bị giết và 30.000 bị bắt làm tù binh. Ngược lại, Tiểu vương quốc Panduranga tiếp tục phát triển dưới sự bảo trợ của chúa Nguyễn và vua Gia Long (Nguyễn Thế Tổ) trong các vùng thung lũng Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết. Tuy nhiên vua Minh Mạng đã không quan tâm Chăm Pa như vua cha nữa và thủ tiêu cơ chế tự trị của Thuận Thành trấn vào năm Minh Mạng thứ 13 nhà Nguyễn (1832).

Ngôn ngữ

Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa đảo (Malayo-Polynesian) của hệ ngôn ngữ Nam Đảo (Autronesian).

Dân số và cư trú

Người Chăm được xác định là cư dân bản địa ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam và đã có quá trình định cư lâu đời ở khu vực này. Trải qua hàng ngàn năm, dưới những biến cố lịch sử, xã hội mà chủ yếu là do chiến tranh và mẫu thuẫn nội bộ, người Chăm không còn cư trú tập trung ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ mà phân bố rộng rãi ở khắp các tỉnh phía Nam Việt Nam và một số các quốc gia khác.
Hiện nay tổng số người Chăm trên thế giới khoảng 400.000 người, phân bố chủ yếu ở Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Thái LanHoa Kỳ. Cộng đồng Chăm lớn nhất thế giới là vào khoảng trên 270.000 người tại Campuchia, được gọi là Khmer Islam; kế đến là Việt Nam; Thái Lan trên 15.000 người; Malaysia trên 10.000 người và Hoa Kỳ khoảng trên 200 người.
Một số người Chăm di cư sang các nước khác, như tộc Utsulđảo Hải Nam, đến bang Terengganu của Malaysia hay vùng Hạ Lào. Trong thế kỷ 20, nhiều người Chăm hoặc gốc Chăm di cư sang Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác.

Phân bố dân cư ở Việt Nam

Trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 145.235 người Chăm sinh sống, sống rải rác ở các tỉnh phía Nam như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang,... Do đặc điểm cư trú, tính chất tôn giáo và sắc thái văn hóa mang tính vùng miền, người Chăm ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm cộng đồng chính là: Chăm Hroi; Chăm Ninh Thuận - Bình ThuậnChăm Nam Bộ.
Nhóm Chăm Hroi bao gồm những người Chăm hiện đang sống rải rác từ Nha Trang trở ra, chủ yếu là Phú Yên và Bình Định; tổng số khoảng 20.500 người. Người Chăm Hroi có nguồn gốc từ những người Chăm cổ là một bộ phận của cộng đồng Chăm Việt Nam và từ lâu được gọi là Chăm Hroi.
Nhóm Chăm Ninh Thuận - Bình Thuận gồm những người Chăm cư trú ở Ninh Thuận, Bình Thuận, có tên gọi là Campaduraga; tổng số khoảng 98.000 người (Ninh Thuận: 66.000; Bình Thuận: 32.000), đây là nhóm cộng đồng Chăm lớn nhất chiếm khoảng 67,60% tổng số người Chăm ở Việt Nam.
Nhóm Chăm Nam Bộ bao gồm những người Chăm sinh sống chủ yếu ở An Giang, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đông Nam Bộ; tổng số khoảng 26.700 người, cư trú ở các tỉnh như: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Bình Dương, Bình Phước,... trong đó tập trung chủ yếu ở An Giang và thành phố Hồ Chí Minh. Người Chăm ở đây có cùng nguồn gốc với người Chăm Hroi và người Chăm ở Ninh Thuận - Bình Thuận, nhưng do nguyên nhân lịch sử, nhiều người Chăm đã rời Việt Nam đến các nước như Campuchia, Thái Lan, Malaysia vào những thế kỷ trước. Từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ thứ XX, một bộ phận người Chăm ở Campuchia mâu thuẫn với người Khmer bản địa và sự ngược đãi của chính quyền Campuchia nên đã tìm về cư trú ở An Giang và Tây Ninh tạo nên cộng đồng người Chăm ở hai tỉnh này. Những năm sau đó, một bộ phận nhỏ người Chăm này chuyển đến một số tỉnh khác ở Nam Bộ để sinh sống.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chăm ở Việt Nam có dân số 161.729 người, cư trú tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Chăm cư trú tập trung tại các tỉnh: Ninh Thuận (67.274 người, chiếm 41,6 % tổng số người Chăm tại Việt Nam), Bình Thuận (34.690 người, chiếm 21,4 % tổng số người Chăm tại Việt Nam), Phú Yên (19.945 người), An Giang (14.209 người), thành phố Hồ Chí Minh (7.819 người), Bình Định (5.336 người), Đồng Nai (3.887 người), Tây Ninh (3.250 người)[4]

Tín ngưỡng, Tôn giáo

Người Chăm có tín ngưỡng, tôn giáo rất phong phú. Tín ngưỡng của người Chăm có từ xa xưa và mang dấu ấn của thời nguyên thủy - Đó là sự tin tưởng của người Chăm vào sự tồn tại của một thế giới siêu nhân, nơi các thần linh ngự trị và cũng chính là nơi tồn tại của ma quỷ và linh hồn của những vật thể ở thế giới trần tục sau khi chết. Người Chăm luôn tin rằng tất cả các vật thể cũng như mọi người đều có linh hồn và linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn dù con người có chết đi và các vật thể đã bị hư hại. Những linh hồn cùng với ma quỷ và thần linh luôn có những tác động, chi phối, ảnh hưởng đến thế giới hiện hữu, đến đời sống của cộng đồng cũng như đến từng thành viên trong cộng đồng người Chăm. Người Chăm thờ rất nhiều vị thần linh như Thần cây, Thần đá, Thần nước, thờ Linh hồn tổ tiên.
Người Chăm là một cộng đồng đa tôn giáo, niềm tin tôn giáo luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm lý của họ, chi phối hoạt động nhận thức, tình cảm, ý chí của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Người Chăm có niềm tin tôn giáo rất sâu sắc, chịu sự chi phối ràng buộc chặt chẽ bởi tôn giáo truyền thống.
Người Chăm theo Ấn Độ giáo, đạo Hồi, đạo Phật. Tôn giáo chính thời vương Chăm Pa cổ là Ấn Độ giáo và văn hóa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Ấn Độ. Tuy nhiên, cái gọi là đạo Bà La Môn (tức là tục Bachăm) ngày nay hoàn toàn không liên quan với Ấn Độ giáo này. Ngày nay, hầu hết người Chăm theo Hồi giáo. Hồi giáo của người Chăm có 2 loại: 1. là tục Bani và tục Bachăm, 2. là Hồi giáo Sunni (thuộc giáo phái Hanafi). Tục Bani và Bachăm là một tôn giáo chịu ảnh hưởng của Hồi giáo Shi'a (Ba Tư, Iran), họ rất tôn trọng Ali như Muhammad. Còn Hồi giáo Sunni thì không chấp nhận tôn trọng Ali như Muhammad. Theo Biên niên sử Mã Lai (1614), Hồi giáo đầu tiên ở thế giới Mã Lai cũng phát nguồn từ Iran, nhưng, sau này, người Ả Rập từ vùng Hadramaut (gọi là Hadrami) sang Mã Lai tuyên truyền, xuyên tạc Hồi giáo Shi'a là tà giáo, buộc người Mã Lai theo Hồi giáo Sunni cực đoan vào cuối thế kỷ thứ 18 - đầu thế kỷ thứ 19. Tục Bani là một hồi giáo bản địa hóa hiền lành, khoan dung, không cực đoan. Tục Bani giống giáo phái Alewi (một giáo phái Hồi giáo Shi'a ở Cộng hòa Suri ngày nay). Con đường tục Bani từ Iran chuyển bá chưa được làm rõ nhưng nhiều tài liệu Mã Lai, Java cho rằng chính Chăm Pa là trung tâm tuyên giáo Hồi giáo đầu tiên tại khu vực Đông Nam Á.
Người Chăm sống ở Myanma rất nhiều, là một trong bốn dân tộc lớn nhất Myanma. Hầu hết mang họ Aung cùng họ với họ Ung của người chăm ở Việt Nam (đã bị Việt hoá)

Đặc điểm kinh tế

Chăm là một dân tộc có nhiều ngành nghề truyền thống lâu đời như thêu, dệt, làm đồ gốm, làm gạch, chế tạo công cụ sản xuất, buôn bán, đóng thuyền, đánh cá, điêu khắc... đặc biệt là nghề trồng lúa nước được người Chăm phát triển từ rất sớm và luôn có những cải tiến về giống và thủy lợi.
Người Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chính. Kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi khá thành thạo. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông. Trước kia, người Chăm không trồng cây trong làng vì cho rằng cây sẽ là nơi cư trú của ma quỉ.

Tổ chức cộng đồng

Người Chăm thường sinh sống tập trung trong paley Chăm (làng Chăm). Mỗi paley có khoảng 300 đến 400 hộ gia đình, cùng theo một tôn giáo nhất định, gồm nhiều tộc họ sinh sống với nhau. Mỗi paley đều có một đơn vị hành chính của làng là: Hội đồng phong tục và Po Paley (Trưởng làng), trong đó, Po Paley là người đóng vai trò rất quan trọng trong Paley. Luật tục Chăm ghi:
Ếch có nắp đậy hang;
Làng có chủ cai quản

Po Paley được dân làng bầu, phải là người cao tuổi, có uy tín, am hiểu phong tục tập quán, luôn vì mọi người, có lòng vị tha. Đồng thời Po Paley cũng phải là người lao động giỏi, có kinh nghiệm trong sản xuất, gia đình hạnh phúc, con cháu xum họp đoàn kết. Người Chăm ví Po Paley như là cây cao, bóng cả:
Cây to lan tỏa một lòng,
Xòe ra che mát cho người dừng chân.

Hội đồng phong tục do dân làng bầu chọn và có nhiệm vụ trông coi về vấn đề phong tục tập quán, tín ngưỡng. Thành viên của Hội đồng phong tục đều là những người có uy tín trong tôn giáo, trong các tộc họ, là người am hiểu tập quán, phong tục lễ nghi, tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm, có quyền phân xử những thành viên trong paley vi phạm Luật tục. Trong trường hợp người vi phạm ngoan cố thì khi cha, mẹ hoặc người thân chết, Hội đồng phong tục sẽ cấm các tu sỹ, chức sắc không được cúng lễ và xem như người vi phạm đã bị loại ra khỏi cộng đồng.
Người Chăm có tập quán bố trí cư trú dân cư theo bàn cờ. Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân thuộc hay có khi chỉ một đại gia đình ở quây quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ nhật. Trong làng các khoảnh như thế ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ. Phần lớn làng Chăm có dân số khoảng từ 1.000 người đến 2.000 người.
Mỗi một dòng họ có một chiết Atâu, một Akauk Guăp và một vật tổ riêng. Luật tục Chăm quy định, Akauk Guăp phải là người cao tuổi, am hiểu phong tục tập quán, có uy tín trong dòng họ, gia đình giàu có, không được có chồng chắp vợ nối.
Hôn nhân gia đình
Chế độ mẫu hệ và tín ngưỡng nữ thần vẫn tồn tại ở người Chăm. Đàn ông lo việc ngoài nhà, đàn bà lo việc trong gia đình và gia phả. Phong tục Chăm qui định con theo họ mẹ, họ bên mẹ được xem là gần (họ nội). Nhà gái cưới chồng cho con. Con trai ở rể nhà vợ, đến khi chết đi nhà vợ có trách nhiệm thờ cúng đến hết tang, sau đó mang hài cốt về trả lại cho dòng họ nhà trai tiếp tục thờ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự để thờ cúng ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già.

Nhà cửa

Nhà ở của người Chăm là một quần thể nhà trong một khuôn viên (bây giờ do việc quy họach phân lô đất theo kiểu nhà liên kế hẹp nên việc phát triển nhà theo quần thể trong một khuôn viên dần không còn nữa). Mối quan hệ của các nhà trong quần thể này đã thể hiện quá trình tan vỡ của hình thái gia đình lớn mẫu hệ để trở thành các gia đình nhỏ.
  • Bộ khung nhà của người Chăm ở Bình Thuận khá đơn giản. Vì cột cơ bản là vì ba cột (kèo được liên kết với cột hoặc không có vì kèo thì dùng tường thay thế kèo). Nếu là vì năm cột thì có thêm xà ngang đầu gác lên cây đòn tay cái nơi hai đầu cột con. Từ các kiểu vì này dần xuất hiện cây kèo và trở thành vì kèo.
  • Mặt trước nhà quay về hướng Nam hoặc hướng Tây. Gian giữ là trung tâm (người Chăm gọi là sang-yơ), phía phải là phòng ngủ của bố mẹ, bên trái là kho, sau là phòng ngủ của con cái. Mặt trước có một hiên ở giữa nhà.
  • Nhà bếp được xây dựng riêng biệt với nhà chính và ở phía Tây nhà chính, trong nhà bếp có khu bếp, khu chứa nước uống và kho chất đốt (củi, than, v.v.).
Nhà người Chăm ở miền Nam lại rất khác.
  • Nhà người Chăm ở An Giang: cách tổ chức mặt bằng sinh hoạt còn phảng phất cái hình đồ sộ của nhà sang yơ ở Bình Thuận.
  • Nhà người Chăm ở Châu Đốc: khuôn viên của nhà Chăm Châu Đốc không còn nhiều nhà mà chỉ có nhà chính và nhà phụ kết hợp thành hình thước thợ. Chuồng trâu bò và lợn được làm xa nhà ở.
Nhà ở là nhà sàn, chân rất cao để phòng ngập lụt. Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt hoàn toàn khác với nhà ở Bình Thuận cũng như ở An Giang.
Tập tin:In front of Chăm house.jpg

Trang phục

Có những nhóm địa phương khác nhau với lối tạo dáng và trang trí riêng khó lẫn lộn với các tộc người trong nhóm ngôn ngữ hoặc khu vực.

Trang phục nam

Tập tin:Cham music 1.jpg
Nhóm nhạc công người Chăm với trang phục nam truyền thống
Trang phục cổ truyền: Đàn ông lớn tuổi thường để tóc dài, quấn khăn. Đó là loại khăn màu trắng có dệt thêu hoa văn màu nhạt (vàng hoặc bạc), ở hai đầu khăn có các tua vải. Khăn đội theo lối chữ nhân. Những vị có chức sắc (tôn giáo), hai đầu khăn có hoa văn màu vàng, tua vải màu đỏ, quấn thả ra hai mang tai. Nam mặc áo có cánh xếp chéo và cài dây phía bên hông (thắt lưng), thường là áo màu trắng, trong là quần soọc, ngoài quấn váy xếp.

Trang phục nữ

Tập tin:Chau Doc, weaving loom.jpg
Phụ nữ Chăm ở Châu Đốc dệt vải theo phương pháp truyền thống
Về cơ bản, phụ nữ các nhóm Chăm thường đội khăn. Cách hoặc là phủ trên mái tóc hoặc quấn gọn trên đầu, hoặc quấn theo lối chữ nhân, hoặc với loại khăn to quàng từ đầu rồi phủ kín vai. Khăn đội đầu chủ yếu là màu trắng, có loại được trang trí hoa văn theo lối viền các mép khăn (khăn to), nhóm Chăm Hroi thì đội khăn màu chàm. Lễ phục thường có chiếc khăn vắt vai ngoài chiếc áo dài màu trắng. Đó là chiếc khăn dài tới 23 m vắt qua vai chéo xuống hông, được dệt thêu hoa văn cẩn thận với các màu đỏ, trắng, vàng của các mô tip trong bố cục của dải băng.
Nữ mặc áo cổ tròn cài nút phía trước ngực xuống đến bụng, quấn váy xếp (khi làm lễ) hoặc mặc váy ống (thông thường), đầu quấn khăn không ràng buộc về màu sắc.
                                                                                                     Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

Rượu cần – phương thức chế biến và phong cách thưởng lãm

Phương thức chế biến và thưởng lãm rượu cần là một trong những hoạt động văn hóa hết sức độc đáo, mang bản sắc riêng của người Raglai. Thưởng lãm rượu cần mang tính nhân bản giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người và gia chủ với khách; thực hiện sự bình đẳng và phát huy tiềm năng của mỗi tộc người.
1. Đặt vấn đề
Dân tộc Raglai là một trong những dân tộc cư trú lâu đời ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam. Theo tài liệu thống kê vào cuối năm 1995, dân số người Raglai có khoảng 85.000 người (Phan Xuân Biên, 1998). Đây là cư dân bản địa đã từng sống lâu đời và có mối quan hệ mật thiết với các dân tộc anh em ở Việt Nam nói riêng và các dân tộc ở Đông Nam Á nói chung. Từ trước đến nay, việc nghiên cứu các tộc người thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo đã được nhiều người quan tâm từ lâu, đặc biệt từ cuối thế kỷ 19 đến nay, việc nghiên cứu về tộc người Raglai ngày càng được quan tâm nhiều nhiều hơn. Sự quan tâm ấy không phải do số lượng tộc người đông đúc, cũng không phải do các nhóm cư dân Raglai ngày nay đang sinh tự ở những khu vực có vai trò đặc thù trên bình diện kinh tế, văn hóa và xã hội; mà sự quan tâm ấy được đặc biệt chú ý là do vai trò của tộc người có mối quan hệ mật thiết với tộc người Chăm ở đồng bằng duyên hải, trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa để hình thành khối cộng đồng đa tộc người và nền văn hóa của Việt Nam. Các công trình nghiên cứu chuyên khảo đã công bố trên các tạp chí và ấn hành thành sách có giá trị về mặt khoa học cũng như trong thực tiễn. Cụ thể như : “Người Raglai ở Việt Nam” do Nguyễn Tuấn Triết biên soạn, xuất bản năm 1991; “Các dân tộc ít người ở Việt Nam – các tỉnh phía Nam” do Bế Viết Đẳng chủ biên, xuất bản năm 1984; “Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” do Ngô Văn Lệ chủ biên, xuất bản năm 1997; “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” do Nguyễn Văn Huy chủ biên, xuất bản năm 1997; “Văn hóa và xã hội người Raglai ở Việt Nam” do Phan Xuân Biên chủ biên, xuất bản vào năm 1998 v.v…
Từ sau giải phóng đến nay, trong quá trình đổi mới và phát triển xây dựng đất nước, những biến đổi về kinh tế - xã hội đã làm cho yếu tố văn hóa truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công truyền thống đang mất dần đi. Điều này đã tác động không nhỏ đến cuộc sống mới của các dân tộc trong tương lai. Trong đó, phương thức chế biến và thưởng lãm rượu cần là một trong những nét sinh hoạt độc đáo của người Raglai mà chúng tôi dành giới thiệu trong bài nghiên cứu này.
Khi nói đến rượu cần người ta thường nhắc đến rượu cần của các tộc người ở khu vực Tây Nguyên như tộc người Êđê, Gia rai, Bana gắn liền với thương hiệu rượu cần Ama Kông, rượu cần Tây Nguyên, rượu cần Buôn Ma Thuột; hay khu vực Tây Bắc gắn liền với các tộc người Thái, Mông, Dao, Tày như rượu cần Hòa Bình…
Dân tộc Ralgai là một trong những dân tộc cư trú lâu đời ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam. Địa bàn cư trú của người Raglai phân ra làm hai vùng rõ rệt. Một bên là núi có nhiều triền dốc, một bên là đồng bằng hẹp nằm giữa núi và biển (Thành Phần, 2003). Do đó, nơi phân bố làng xã của người Raglai thường gần núi và sông. Đây là nguồn nước chính cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày của người Raglai. Cũng giống như dân tộc Chăm, người Raglai tập trung cư trú thành từng làng gọi là Palei. Đây là đơn vị cư trú cổ truyền của người Raglai. Chung quanh Palei là những khu rừng và nương rẫy, một loại hình sinh hoạt kinh tế truyền thống của người Raglai.
Mỗi Palei luôn luôn có khu vực lãnh thổ riêng của mình. Việc định các mốc ranh giới lãnh thổ thuộc sở hữu palei thường được dựa vào một số địa hình có nhiều đặc điểm nổi bật được nhiều người biết đến như: quả đồi, tảng đá lớn, con suối, con sông, cây cổ thụ, đồng cỏ v.v… Người Raglai thường lấy tên sông, tên suối, tên núi nơi cư trú để đặt tên làng. Ngày nay, có một số nơi đặt thêm tên làng bằng tiếng Việt cho làng của người Raglai để tiện dùng vào văn bản hành chính Nhà nước.
Người Raglai theo tín ngưỡng đa thần. Họ quan niệm mỗi sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên đều có một vị thần ngự trị. Các vị thần vô hình nhưng luôn luôn theo dõi mọi hoạt động của con người. Ai vi phạm vào những điều cấm kỵ sẽ bị thần trừng trị. Thần chỉ giúp đỡ những người nào ăn ở hiền lành, thật thà và luôn luôn tôn trọng các vị thần.
Các vị thần được người Raglai tôn trọng và quan tâm nhiều nhất là thần núi (yang cek), thần biển (yang tasik), thần sóng biển (yang tarak), thần rẫy (yang puh), thần gò mối hoặc mô đất (yang patuoic), thần trầm hương (yang gahlaw)…
2. Phương thức chế biến rượu cần
Người Raglai cũng như các tộc người khác cư trú ở Tây Nguyên và cực Nam trung bộ đều có tập quán uống rượu cần. Người Raglai gọi rượu cần là Aia tapai. Rượu cần được chế biến từ bắp, lúa hoặc sắn với loại men tự tạo được lấy từ lá rừng. Mỗi gia đình người Raglai luôn luôn có ít hoặc nhiều ché rượu cần để dành phòng hờ có khách đột xuất hoặc để chuẩn bị cho những ngày lễ trong năm. Các công đoạn chế biến rượu cần của người Raglai cũng tuân thủ những nguyên tắc rất nghiêm ngặt.
Giai đoạn đầu tiên: nấu bắp, sắn hoặc gạo như nấu cơm thường nhật.
Giai đoạn thứ hai: đổ những thứ đã nấu chín ra trên chiếu, trải đều cho mau nguội.
Giai đoạn thứ ba: giã men nhỏ để trộn với bắp, sắn và gạo đã nguội.
Giai đoạn thứ tư: rửa ché (bình ủ rượu) cho sạch và phơi khô.
Giai đoạn thứ năm: cho những thứ đã trộn với men vào trong ché rượu.
Giai đoạn thứ sáu: đậy miệng ché bằng lá chuối, dùng tro trét cho kín miệng theo phương thức yếm kín.
Thời gian ủ khoảng một tháng là có thể dùng được (đối với khoai mì thì ủ khoảng 15 ngày, còn trái cây thì 7 ngày). Nếu thời gian ủ lâu thì sẽ uống ngon hơn. Thời gian ủ rượu tối đa là 6 tháng, nếu để quá thời gian trên thì rượu cần giảm chất lượng.
3. Nguyên liệu và cách chế biến men
Người Raglai ít khi dùng men mua ở chợ về làm rượu cần. Thường họ tự làm lấy men theo công thức riêng của truyền thống dân tộc mình. Các vật liệu dùng làm men rượu gồm có: gạo la-o pataw (giống lúa này người Raglai vẫn còn trồng), ớt hiểm (mraik glai) và củ riềng (laquah).
Cách chế biến men rượu của người Raglai khá đơn giản. Ngâm gạo vào nước khoảng 5 phút đến 15 phút. Vớt ra để cho khô ráo nước, rồi giã gạo chung với ớt và củ riềng, sàn lấy bột. Sau đó giã lại một lần nữa để lấy bột nhuyễn. Cho nước vào bột vừa đủ để vo tròn thành từng viên. Những viên men đã làm xong xếp thành từng lớp trong một chiếc thúng. Dùng lá chuối đậy lại, mang để trên chỗ cao ráo. Sang ngày hôm sau mang ra phơi nắng cho thật khô để khỏi bị mốc. Men rượu người Raglai rất có chất lượng, làm ra nhiều rượu hơn các loại men mua ở chợ rất nhiều. Có thể cất giữ với thời gian dài, nếu bảo quản tốt có thể để dành từ 5 năm đến 10 năm.
4. Những kiêng kỵ trong chế biến rượu cần
Trong khi đang làm men rượu cần, người Raglai không cho người lạ đến gần nhà. Thường trong lúc đang làm, luôn luôn có người đứng canh chừng để thông báo với khách là “nhà đang bận”. Nếu trường hợp không kịp thông báo, khách đã lỡ vào nhà nhằm trong lúc đang làm men rượu thì người khách này tuyệt đối không được nói hay hỏi một điều gì và phải đến cùng phụ làm men một chút rồi mới đi ra khỏi nhà một cách lặng lẽ. Ngoài ra, tuyệt đối cấm người đàn bà có kinh, người đàn bà mang thai… đến gần.
Ngoài tập quán uống rượu cần, người Raglai còn có thói quen uống rượu gạo. Ngày nay, rượu gạo khá phổ biến trong tầng lớp thanh niên Raglai, nhưng họ rất ít nấu loại rượu này. Để có rượu gạo họ phải đi mua hoặc trao đổi hàng hóa với người Chăm hoặc người Kinh.
5. Cách thức thưởng lãm rượu cần
Phong cách uống rượu cần của người Raglai khá độc đáo. Họ có thói quen uống rượu bằng chén hoặc bằng tô. Trước tiên, chủ nhà rót rượu ra chén. Chấp tay thành khẩn xin phép những người đã khuất và rưới rượu xuống đất một chút. Kế tiếp họ chấp tay cầu nguyện các thần linh phù hộ, độ trì và rưới rượu xuống đất một lần nữa. Sau đó, dùng tay phải nâng rượu lên, tay trái đỡ theo để mời khách. Khách đưa hai tay đón nhận, không nên uống ngay (nếu muốn giữ phép lịch sự) mà rót thêm vài giọt rượu vào chén rượu mời đang đầy và mời ngược trở lại chủ nhà (người mời). Chủ nhà đưa hai tay đón nhận chén rượu cần và uống một chút lấy lệ; sau đó mới đưa trở lại cho khách uống (người được mời).
Phương thức chế biến và thưởng lãm rượu cần là một trong những hoạt động văn hóa hết sức độc đáo, mang bản sắc riêng của người Raglai. Thưởng lãm rượu cần mang tính nhân bản giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người và gia chủ với khách; thực hiện sự bình đẳng và phát huy tiềm năng của mỗi tộc người. Đồng thời, giúp cho các tộc người hiểu rõ nhau hơn trong việc tăng cường tình đoàn kết thống nhất giữa các tộc người anh em.
Tài liệu tham khảo:
  1. Phan Xuân Biên(chủ biên), 1998. Văn hoá và xã hội người Raglai ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  2. Thành Phần, 2003. Bước đầu tìm hiểu hệ thống thân tộc Raglai, đăng trong Những vấn đề văn hóa và ngôn ngữ Raglai, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, trang 23 – 36.

Dân tộc Ê đê

Dân tộc Ê đê

Trang phục của người Ê Đê
Tên gọi khác: Anăk Ê Đê, Ra Đê, Ê Đê - Êgar, Đê
Nhóm ngôn ngữ: Malayô - Pôlinêxia
Dân số: 306.333 người (ước tính năm 2003).
Cư trú: Tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên
Đặc điểm kinh tế: Người Êđê làm rẫy là chính. Ngoài trồng trọt, đồng bào còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt.
Hôn nhân gia đình:  Người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, chủ nhà là phụ nữ, con cái mang họ mẹ, con trai không được hưởng thừa kế. Đàn ông cư trú trong nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế thì người chồng phải về với chị em gái mình. Nếu chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ. 
Văn hóa: Người Êđê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các Khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng với Khan Đam San, Khan Đam Kteh Mlan... Đồng bào yêu ca hát và thích tấu nhạc. Nhạc cụ có chiêng, cồng, trống, sáo, khèn, đàn.

Nhà dài Ê Đê
Nhà cửa: Nhà người Ê Đê thuộc loại hình nhà sàn dài, bộ khung kết cấu đơn giản. Cái được coi là đặc trưng của nhà Ê Đê là hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt chia thành hai phần. Nửa đằng cửa chính (Gah) là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (tới 20cm), chiêng ché... Nửa còn lại (Ôk) là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là "trên" chia thành nhiều gian nhỏ; phần về bên phải là hàng lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp... Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Muốn vào nhà phải qua sân sàn.
Trang phục:
Nam để tóc ngắn quấn khăn màu chàm nhiều vòng trên đầu. Y phục gồm áo và khố. Áo có hai loại cơ bản: loại áo dài tay, khoát cổ chui đầu, thân dài trùm mông, xẻ tà; và loại áo dài (quá ngối), khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo ngắn trên,... Khố có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bongbăl là loại khố thường. Nam giới cũng mang hoa tai và vòng cổ.

Phụ nữ Ê Đê để tóc dài buộc ra sau gáy. Họ mang áo váy trong trang phục thường nhật. Áo phụ nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi mặc cho ra ngoài váy. Cùng với áo là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Hiện nay nữ thanh niên thường mặc váy kín. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay. Xưa họ để tóc theo kiểu búi tó và đội nón duôn bai. Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc đồng. Vòng tay thường đeo thành bộ kép, nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân. 

Nghệ thuật điêu khắc của người Êđê

Theo truyền thống của người Êđê, nghệ thuật điêu khắc mang tính chất khép kín. Do vậy, từ chủ đề, bố cục chất liệu, đường nét trong nghệ thuật điêu khắc thường ổn định. Các hoạ tiết, hoa văn trang trí trên cột klao, kbao, nhà mồ, nhà ở đầu hàm chứa rất nhiều nội dung phong phú, các mô típ gắn liền với đời sống kinh tế, săn bắn, hái lượm. Đây là những hình ảnh quen thuộc của người Êđê, mô típ là những đường thẳng song song, kết hợp với đường cong biểu trưng cao nhất của đời sống sung túc, vừa mang yếu tố nghệ thuật, vừa mang yếu tố tâm linh, cấu trúc hài hoà cân đối phối hợp giữa màu sắc nhân tạo với cảnh sắc thiên nhiên như bông lúa, bông vải, sừng trâu, những đồ dùng hàng ngày trong gia đình.

Hoa văn trên vải mang những chủ đề không xa với cuộc sống hàng ngày, màu đen, đỏ vẫn là màu chủ đạo kết hợp với những đường thẳng song song chạy sát bên mép vải hay gần mép vải cách điệu hình học. Hoa văn trên vải của người Êđê có ấn tượng mạnh mẽ về phong cách. Chính những hoa văn phản ánh văn hoá truyền thống và đời sống sinh hoạt hằng ngày của người Êđê. Ngoài ra nó còn thể hiện ở tượng nhà mồ chất phác, không chau truốt, không rườm rà, nhiều khi không cân đối, không tỷ lệ… Chỉ bằng những chiếc rìu, cái rựa với đôi bàn tay khéo léo, trí tưởng tượng của người Êđê đã tạo ra những tác phẩm có giá trị đáp ứng các yêu cầu thẩm mỹ trong đời sống của họ, đó là hình tượng người đàn ông vỗ trống, đàn bà giã gạo, mang gùi… Mỗi hình tượng trang trí đều có ý nghĩa khác nhau làm tăng thêm vẻ đẹp, biểu hiện yếu tố tâm linh.

Trải qua bao năm tháng cùng với sự giao lưu, phát triển nghệ thuật điêu khắc, nhưng người Êđê vẫn giữ được và phát huy góp phần làm nên một bản sắc văn hoá đặc thù. Hiện nay đến buôn làng người Êđê vào dịp lễ hội vẫn còn in đậm nghệ thuật điêu khắc thể hiện qua trang phục, nhà mồ, đồ đan, cột klao, kbao… Chính những hình tượng này làm cho bản sắc văn hoá của người Êđê khác với các dân tộc khác. Mặc dù họ đang sống trong một môi trường ảnh hưởng văn hoá vùng đồng bằng nhưng người Êđê vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình, góp phần không nhỏ vào việc gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung, tỉnh Phú Yên nói riêng./.
 

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2011

Sự Khác Biệt Giữa Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành

Tin lành Toàn Thống và sự khác biệt về Giáo lý liên quan đến Đức Mẹ như thế nào?

Giáo lý đích thực đã được thánh Công đồng Vaticanô II đề cập trong Hiến chế Giáo Hội, (GH 67), những khác biệt về giáo lý với các anh em ly khai Tây Phương (Sắc lệnh HN 20), trong đó vấn đề tranh luận liên quan đến Đức Maria ảnh hưởng sâu sắc đến phương diện tình cảm, là lý do của mối lo âu đại kết (Philibert Zobel, Dictionary of Mary, bản Việt ngữ của Ngọc Đính C.M.C p140). Trươc hết, chúng ta cùng tìm hiểu một trong các điểm khác biệt quan trọng về Giáo lý giữa anh em Tin lành Toàn Thống (Fundamentalis) và Giáo Hội Công giáo:

- Phía anh em Tin lành:

Bắt đầu thời Cải cách, anh em Tin lành đã đưa ra lý thuyết duy Kinh thánh “ Sola Scriptura”(Lat: by Scripture alone). Mỉa mai thay, định đề này lại chẳng có trong Kinh thánh. Để cho định đề duy Kinh thánh đứng vững, chúng ta đưa ra ví dụ nói rằng: “Đức tin chỉ căn cứ vào Kinh thánh là đầy đủ”, không cần dựa vào Huấn quyền của Giáo hội và không cần Thánh truyền. Thế nhưng thuyết Duy Kinh thánh đã không chứnh minh được tìm thấy trong Kinh thánh. Kinh thánh không khẳng định chỉ Duy Kinh thánh là quy luật đầy đủ cho Đức tin của các Kitô hữu. (Patrick Madrid: Where is that in the Bible: authority of the Church, page 39, Our Sunday Visitor Publishing)

- Phía Giáo Hội công giáo:

Đưa ra những chứng cứ qủa quyết sự quan trọng gồm phẩm trật Giáo Hội, Thánh truyền và Huấn quyền của Giáo Hội: Matthêu 16: 18-19: “Trên đá này Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày… Thày sẽ trao cho con chìa khoá nước Trời, sự gì con cầm buộc dưới đất, trên Trời cũng cầm buộc, sự gì con cỏi mở dưới đất, trên Trời cũng cởi mở.” Matthêu: 18: 17-18: “Nếu nó chẳng nghe lời Hội Thánh, hãy kể nó như một người ngoại và một người thu thuế, thật, Thày nói thật cho anh em, dưới đất, anh em cầm buộc điều gì, trên Trời cũng cầm buộc như vậy, dưới đất, anh em tháo cởi điều gì, trên Trời cũng tháo cởi như vậy”. Luca: 10: 16: “Ai nghe anh em là nghe Thày, mà ai khước từ anh em là khước từ Thày, mà ai khước từ Thày là khước từ Đấng đã sai Thày”. Trong Cựu ước, chúng ta còn tìm thấy lời cảnh cáo cho những ai khước từ thẩm quyền giảng dạy của các tư tế là những người Chúa trao thẩm quyền cắt nghĩa lề luật và truyền đạt lời Chúa một cách chính thức. ( x Lêvi 20: 1-27, 25: 1-55). Trong sách Đệ nhị luật: 17: 11-13: “Căn cứ vào lời các tư tế chỉ giáo cho anh em, và vào bản án họ công bố cho anh em, anh em sẽ hành động đúng như lời họ thông báo cho anh em, không đi trệch bên phải bên trái. Người nào cả gan không nghe vị tư tế chầu chực ở đó để phụng sự Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hay không nghe vị Thẩm phán, thì sẽ phải chết.”

Qua những đoạn Kinh thánh kể ra trên đây, Thiên Chúa thiết lập Huấn quyền của Giáo hội với thẩm quyền dạy dỗ (x Matt. 28: 20), cắt nghĩa Kinh thánh (x TDCV 2:14-36) cầm buộc và tháo cởi (Matt. 18; 18; TDCV 15: 28-29).

- Thuyết Duy Kinh thánh và những Tín điều về Đức Maria:

Lập trường của hai phía Tin lành và Công Giáo trong Tín điều Đức Mẹ Hồn XácLên trời và Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội khác biệt nhau: Anh em Tin lành chủ trương chỉ có những gì trong Thánh kinh mới trở thành niềm tin cho các Kitô hữu. Đó là điểm gây bất đồng giữa anh em Tin lành và Giáo hội Công giáo. Anh em Tin lành nói hai Tín điều nêu trên không được mạc khải trong Kinh thánh, vì vậy không thể chấp nhận được. Nhưng Giáo hội Công giáo nại vào Thánh truyền như nguồn phù trợ cho Thánh kinh. Chỉ có Thánh kinh mà thôi thì chưa đủ (Vat. II, hiến chế MK 98). Thánh kinh và Thánh truyền do các Thánh Tông đồ được Giáo hội Công giáo coi như quy luật tối cao hướng dẫn đức tin (MK 21).

Sự khác biệt về Giáo lý kể trên đã làm nảy sinh các vấn nạn khác của anh em Tin lành về Đức Maria. Những vấn nạn ấy sẽ được lần lượt đề cập trong những bài sau. Vì lòng yêu mến Đức Mẹ, người Công giáo cố gắng tìm hiểu và học hỏi những giáo lý liên quan đến Mẹ, để củng cố niềm tin nơi Mẹ, như Hiến chế Giáo Hội dạy: “Công đồng muốn làm sáng tỏ vai trò của Đức Trinh Nữ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và nhiệm vụ của nhân loại đối với Mẹ mình là Đức Trinh Nữ Maria” (GH 54). Cũng trong Hiến chế ấy, Công đồng kêu gọi các nhà thần học tiếp tục tìm tòi để làm sáng tỏ các vấn đề thần học còn đang được nghiên cứu.

Thắc mắc về tước hiệu Mẹ Thiên Chúa trong các anh em Tin lành

Lịch sử giáo Hội cho thấy tước hiệu Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria vẫn được mọi người chấp nhận. Tới năm 429, Giám mục Nestoriô dấy lên lạc thuyết nói rằng Chúa Giêsu có hai ngôi vị riêng biệt, và Đức Maria chỉ là Mẹ của ngôi vị loài người mà thôi. Năm 431, lạc thuyết này bị công đồng Ephêsô lên án và không còn thấy tái hiện trong Kitô giáo cho tới sau thời kỳ giáo phái Tin Lành ra đời. Sự kiện có những anh em Tin lành không nhìn nhận Đức Maria là Mẹ của Thiên Chúa là một sự xa rời căn bản của Kinh thánh và các Giáo phụ. Bởi vì điều ấy hàm ý rằng Chúa Giêsu chẳng phải là Thiên Chúa hoặc là nơi Ngài có hai ngôi vị riêng biệt.

1-Sự cần thiết nêu lên những lý chứng: Anh em Tin lành viện lẽ rằng Đức Maria chẳng có thể tạo ra Thiên tính của Chúa Giêsu, vậy Đức Mẹ không thể được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Đây là một sai lầm nghiêm trọng. Vì Chúa Giêsu là một ngôi vị duy nhất (Công đồng Ephêsô, x Denziger-Schonmetzer 250). Chúng ta nói một kẻ được sinh ra, mà không nói bản tính được sinh, hay thân xác được sinh. Chẳng hạn, cha mẹ không sinh ra linh hồn chúng ta, vì chúng ta lãnh nhận linh hồn trực tiếp từ Thiên Chúa, cha mẹ chỉ sinh chúng ta phần xác. Thế nhưng người ta không nói “mẹ tôi chỉ sinh ra thân xác tôi”, mà nói “mẹ tôi sinh ra tôi”.

2-Cần nêu chứng từ của Kinh thánh: Có rất nhiều đoạn cho chúng ta biết Chúa Giêsu là Chúa. Phúc âm Matthew (Mat 1: 23) ( nhắc lời tiên tri Isaia) nói danh hiệu Đấng Cứu thế là Emmanuel, nghĩa là “Chúa ở với chúng tôi”. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Galata: “Đến thời gian viên mãn, Chúa đã sai Con của Ngài, sinh bởi người nữ, sinh dưới chế độ lề luật” (Gal 4,4). Luca cũng cho biết: “Con trẻ được sinh ra, sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa( Lc 1: 35). Bà Isave cũng nói: “Mẹ của Chúa tôi”. Chữ “Chúa tôi” đối với dân Do thái chỉ để quy về Thiên Chúa (Luc 1: 43).

3-Anh em Tin lành đồng ý Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu: mặc dù anh em Tin lành không nhìn nhận Đưc Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng họ đồng ý Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu: Chúng ta biết, Con Thiên Chúa nhập thể không có nghĩa một phần là Thiên Chúa, một phần là người. Nếu hiểu như vậy thì hoá ra một nửa Chúa Giêsu là Chúa, một nửa kia là người pha trộn với nhau. Thế nhưng Chúa Giêsu không phải là sự pha trộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. (Sách GLCG số 464 a). Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật trong một ngôi duy nhất là ngôi thứ hai. Trong suốt những thế kỷ đầu tiên để chống lại các lạc thuyết, nhất là lạc thuyết Nestoriô, Hội Thánh đã phải bảo vệ và minh giải chân lý đức tin này: “Thiên Chúa làm người, đã làm người mà vẫn thật sự là Thiên Chúa” (Sách GLCG 464b và 468)

4-Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa qua việc Con Thiên Chúa làm người trong lòng Mẹ: Đức Mẹ sinh ra Chúa Giêsu là một ngôi vị duy nhất, bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại không thể tách rời nhau, như công đồng Êphêsô đã tuyên xưng: “Ngôi Lời đã làm người khi kết hợp trong ngôi vị mình một thân xác do một linh hồn làm cho sống động. Nhân tính của Chúa Giêsu không có một chủ thể nào khác ngoài ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa, Đấng từ lúc tượng thai đã nhận lấy nhân tính ấy làm của mình… vì thế chúng ta nói: “Ngôi Lời đã sinh ra làm người”. (Denzinger-Sconmetzer: Tuyển tập các tín biểu, các Định tín, Sách GLCG số 466 trích dẫn). Cuối cùng, công đồng Ephêsô năm 431 công bố rằng: “Đức Maria trở thành Mẹ Thiên Chúa qua việc Con Thiên Chúa làm người trong lòng Mẹ”

5- Học hỏi trong tương lai: Chúng ta sẽ có dịp đề cập tới các Giáo phụ và các nhà Sáng lập của Tin lành đã xác lập quả quyết rằng: Đức Maria là Mẹ của Thiên Chúa. Như vậy hy vọng chúng ta và anh em Tin lành càng có nhiều lý chứng rất đáng thuyết phục.

Oi Mẹ Thiên Chúa, “Đấng đầy ơn sủng, Đức Chúa ở cùng Bà”(Lc 1: 28). Xin cho con được chia xẻ một phần phúc lộc của Mẹ, để con đáng được Chúa Giêsu thương đến! Amen.

Phải hiểu cho đúng việc tôn sùng Đức Mẹ và việc tạc vẽ ảnh tượng của người Công giáo như thế nào?

Một số đông anh em Tin Lành không hiểu rõ ý nghĩa việc người Công giáo tôn kính Đức Mẹ Maria một cách đặc biệt, nên có một số người đã quá găy gắt bình phẩm rằng người Công giáo qùy xụp lạy trước tượng Đức Mẹ có khác nào như thể đang thờ ngẫu tượng! Và họ còn lên án rằng người Công giáo không biết phân biệt giữa Thiên Chúa tối cao và ảnh tượng gỗ đá do con người tạo ra, vậy sự kiện này có thực sự đúng không?

Thưa không. Bởi vì, chẳng hạn người Tin lành cũng từng ôm hôn cây Thánh giá hoặc cuốn Kinh thánh, nhưng có ai dám nói họ đang hôn gỗ, hôn giấy không? Điều quan trọng chúng ta phải ghi nhớ là Sách thánh hay Thánh giá được ôm hôn kia là để tưởng niệm Đức Giêsu và công trình cứu độ của Ngài. Cũng vậy, những hình ảnh của các vị thánh hiển vinh của Thiên Chúa được sùng kính là để nhắc nhớ chúng ta về gương mẫu của các vị thánh đã tận hiến đời mình để đáng được công nghiệp cứu chuộc của Đức Giêsu.

1- Quỳ trước tượng Đức Mẹ không phải là thờ lạy: Người Công giáo không nghĩ rằng họ đang “thờ lạy” Đức Mẹ khi họ quỳ trước các ảnh tượng của Đức Mẹ. Họ chỉ tôn kính Đức Mẹ và qua Đức Mẹ, họ thờ phượng Thiên Chúa, và Chúa Giêsu. Để cứu rỗi nhân loại, Thiên Chúa đã muốn cho Con của Ngài sinh bởi Đức Mẹ đồng trinh, vì thế, người công giáo biệt tôn Đức Mẹ trên hết các thần thánh, nhưng không vì thế mà biến việc tôn kính thành tôn thờ. Có người hỏi: “Thế nhưng tại sao người công giáo lại mộ mến Đức Mẹ một cách say sưa như thể Đức Mẹ là ngôi vị “thứ tư” trong ba ngôi Thiên Chúa? Xin thưa: người Công giáo, nhất là công giáo Việt nam say sưa yêu mến Đức Mẹ một cách rất đặc biệt. Thiên Chúa chọn Đức Mẹ và ban cho Đức Mẹ vinh dự vô cùng lớn lao được làm Mẹ Thiên Chúa; vì Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu. Đức Mẹ còn là Mẹ nhân loại. Chính Chúa Giêsu yêu kính Mẹ của Ngài một cách hoàn hảo. Chúng ta được kêu gọi để bắt chước những gì Chúa Giêsu đã làm khi thực thi giới răn thứ bốn là: “Các ngươi phải thảo kính cha mẹ”. Lòng thảo kính đặc biệt ấy không phải là sự tâng bốc muốn đưa Đức Mẹ lên ngang hàng với ngôi vị Thiên Chúa. Lòng thảo kính ấy đã được chính Chúa Giêsu cổ võ.

2- Phải hiểu cho đúng ý nghĩa việc tạc vẽ ảnh tượng: Có người trưng đoạn sách Xuất hành (Xh 20:4-5) nói rằng Thiên Chúa đã cấm tạc tượng, vẽ hình, thế mà người công giáo còn tạc tượng Đức Mẹ, như vậy là vi phạm luật Chúa?

Thưa: - Thiên Chúa cấm làm hình tượng với mục đích thờ lạy hình tượng thay vì thờ lạy Thiên Chúa. Vì dân chúng dưới thời Môsê thích tạc ngẫu tượng để thờ, nên Chúa đã truyền lệnh cấm ấy. Thế mà sau đó, chúng đã đúc bò vàng để thờ thay vì thờ Chúa khiến Chúa nổi giận (Xuất hành 32: 7-10). Nhưng Chúa đâu có cấm tạc vẽ ảnh tượng nói chung. Trong sách Xuất hành (Xh 25: 18-19). Chúa truyền cho Môsê làm các tượng thần Chêrubim. Trong sách Dân số, Chúa nói với Môsê đúc con rắn đồng. Người Do thái tạc rất nhiều hình tượng trong đền thờ của họ gồm thiên thần, bò lừa, sư tử, các cây cọ, chà là, hoa lá (Sách các Vua, quyển 1, đoạn 6 và 7). Có lẽ ở nhà, chúng ta để hình ảnh của người thân trong phòng khách; lúc đi đường còn mang theo trong ví, trong bóp, hình ảnh những người yêu dấu ấy. Đấy là những hình tượng do con người làm nên. Có phải chúng ta thờ phượng các ảnh tượng đó khi chúng được dùng như biểu tượng nhắc nhở mối liên hệ thâm sâu giữa ta với người trong ảnh tượng? Không ! Thế thì cũng một nguyên tắc ấy được ứng dụng trong việc tôn kính trước các ảnh tượng. Hình tượng Đức Mẹ được trang trọng đặt trên bệ, trên đài là vì lòng mộ mến, tôn kính Đức Mẹ một cách rất đặc biệt của người công giáo. Qua hình tượng Đức Mẹ, người công giáo lúc nào cũng quy hướng tâm hồn về Thiên Chúa tối cao để thần phục, tôn thờ. Người công giáo chỉ dùng những hình tượng Đức Mẹ, các Thánh và các Thiên thần của Thiên Chúa để nhắc nhở cho mình những nhân đức và hành vi thánh thiện của thánh nhân đáng tôn kính mà các ảnh tượng kia biểu hiện.

Lạy Mẹ Maria, con của Mẹ còn nơi dương gian, giữa chốn ba đào hiểm nguy, xin Đức Mẹ thương con và cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho con. Amen!

LM Trần Xuân Lãm
Vietcatholic.net

Những Điểm Khác Nhau Giữ Tin Lành và Công Giáo





Trong bài viết này tác giả không đề cập lý do tại sao có sự hình thành Đạo Tin Lành, chỉ tập trung liệt kê ra những khác nhau giữa hai mói Đạo này. Về căn bản, Đạo Tin Lành giống với Đạo Công Giáo đều dựa vào kinh Thánh. Sự khác nhau chủ yếu trong luật lệ và lễ nghi, lối sống đạo và cơ cấu tổ chức Giáo Hội. có thể liệt kê ra như sau:

1/ Đạo Công Giáo tin nhận tất cả 64 quyển Kinh Cựu Ước, trong khi Đạo Tin Lành chỉ tin nhận 39 quyển.

2/ Đạo Công Giáo coi Kinh Thánh, các nghị quyết Cộng đồng và quyết định của Giáo Hoàng là cơ sở pháp lý; trong khi Đạo Tin Lành cho rằng Kinh Thánh là chuẩn mực căn bản và duy nhất của giáo lý và đức tin. Ngoài Kinh Thánh ra không còn văn bản nào khác.

3/ Đạo Công Giáo chủ yếu sử dụng hai loại kinh Nguyện và kinh Bổn (sách giáo lý) trong sinh hoạt tôn giáo; trong khi Đạo Tin Lành chỉ sử dụng kinh Thánh trong sinh hoạt tôn giáo.

4/ Đạo Công Giáo cho rằng Đức Mẹ Ma ri a đồng trinh trọn đời và đề cao tôn sùng bà, coi bà là Mẹ của Thiên Chúa; trong khi Đạo Tin Lành chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giê-su và chỉ coi bà là mẹ trần thế của Chúa Kitô, nên chỉ tôn trọng chú không tôn sùng thờ lạy bà Ma ri a.

5/ Đạo Công Giáo đề cao tôn sùng các Thánh, trong khi Đạo Tin Lành chỉ kính trọng và noi gương các Thánh, không đề cao, tôn sùng.
6/ Đạo Công Giáo chủ trương hành hương viếng các nơi Thánh để được ơn phúc; trong khi Đạo Tin Lành không chủ trương hành hương viếng các nơi Thánh.

7/ Đạo Công Giáo tin có Thiên Đàng, địa ngục và luyện ngục, Đạo Tin Lành chỉ tin có Thiên đàng, địa ngục chứ không có luyện ngục.

8/ Đạo Công Giáo có bảy phép bí tích gồm: rửu tội, thêm sức, giải tội, thánh thể, xức dầu Thánh, truyền chức Thánh, hôn phối; Đạo Tin Lành chỉ tin và thực hiện phép rửa tội, (bắp tem), phép tiệc Thánh, ngoài ra Đạo Tin Lành còn thực hiện một số lễ hôn phối, lễ dâng con trẻ cho Thiên Chúa.

9/ Đạo Công Giáo thực hiện lễ rửa tội cho trẻ sơ sinh bằng vẩy nước và đặt tên Thánh cho người được rửa tội, trong khi Đạo Tin Lành chỉ thực hiện phép này gọi là bắt tem cho người 15 tuổi trở lên, chủ yếu bằng cách dìm mình dưới nước và không đặt tên Thánh cho người chịu phép bắp tem.

10/ Đạo Công Giáo nhận phép biến thể trong lễ Thánh thể (bánh mì, rượu nho biến thành Mình Chúa và Máu Chúa), Đạo Tin Lành không công nhận thuyết biến thể trong phép Tiệc Thánh và cho rằng đó là kỷ niệm về cái chết của Chúa Kitô, bánh và rượu chỉ tượng trưng cho Mình Chúa và Máu Chúa.

11/ Đạo Công Giáo qui định tín đồ xưng tội với Thiên Chúa qua Linh mục, Đạo Tin Lành qui định tín đồ chỉ xưng tội với Thiên Chúa.

12/ Đạo Công Giáo thường sử dụng hình thức cầu nguyện chung bằng các bài Kinh nguyện đã soạn sẵn, trong khi Đạo Tin Lành, tín đồ tự cầu nguyện nói lên ước vọng của mình với Thiên Chúa và chỉ cầu nguyên hai bài chung là Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính.

13/ Đạo Công Giáo khi cầu nguyện có sử dụng tràng hạt, quỳ lạy, làm dấu Thánh, Đạo Tin Lành không sử dụng tràng hạt, không quỳ lạy, không làm dấu Thánh khi cầu nguyện.

14/ Đạo Công Giáo thờ hình tượng và ảnh; Đạo Tin Lành không thờ hình tượng và ảnh vì cho rằng trong kinh Cựu Ước Thiên Chúa đã nói đến việc không thờ hình tượng.

15/ Đạo Công Giáo lấy lễ là chính, bắt buộc các tín đồ phải thực hiện các nghi lễ theo qui định, trong Đạo Tin Lành, sinh hoạt tôn giáo lấy sự hiểu biết lẽ Đạo qua Kinh Thánh, tín đồ không nhất thiết phải thực hiện các lễ nghi.

16/ Đạo Công Giáo thường xây dựng nhà thờ theo kiểu Gô-tích nhiều hoa văn hoạ tiết cầu kỳ và có Thánh quan thầy bảo hộ, trong khi nhà thờ Đạo Tin Lành có lối kiến trúc hiện đại, trong ngoài nhà thờ không có tranh tượng, chỉ đặt Thập tự giá biểu tượng Chúa Kitô chịu nạn và không có Thánh quan thầy bảo hộ.

17/ Đạo Công Giáo xây dựng một giáo hội thống nhất, có cơ quan trung ương là Giáo Triều Vatican; Đạo Tin Lành không có một tổ chức giáo hội thống nhất, chia ra thành nhiều hệ phái, mỗi hệ phái có nhiều giáo hội độc lập.
18/ Đạo Công Giáo điều hành giáo hội chịu ảnh hưởng của cơ chế phong kiến, quyền lực tập trung vào Giáo Hoàng; trong khi Đạo Tin Lành điều hành giáo hội theo cơ chế dân chủ, tín đồ được tham dự các hoạt động của giáo hội một cách trực tiếp hoặc theo cơ chế đại cử tri.

19/ Đạo Công Giáo có hàng giáo phẩm với phẩm trật theo thứ tự trên dưới khác nhau: Giáo Hoàng, Hồng Y; Giám Mục; Linh Mục;…. Trong hàn giáo phẩm Đạo Tin Lành gồm các chức: Mục sư; Trưởng lão và Chấp sự. Một số hệ phái Đạo Tin Lành có cả nữ phái tham gia hàng giáo phẩm.

20/ Đạo Công Giáo hàng giáo phẩm duy trì chế độ độc thân có thần quyền rất lớn, trong khi Đạo Tin Lành hàng giáo phẩm được lập gia đình và không có thần quyền.

21/ Đạo Công Giáo hình thành hệ thống dòng tu nam, nữ và thường được chia làm nhiều dòng tu theo quy chế địa phận, dòng tu theo qui chế Toà Thánh, Đạo Tin Lành không có duy trì dòng tu nào.


8. Khác biệt giữa Tin lành & Công giáo

8.1. Tin Lành và Thiên Chúa khác nhau thế nào?
Có rất nhiều điểm khác nhau giữa Tin Lành và Công giáo, những điểm lớn là:
Bà Mari, mẹ về phần xác của Chúa Jesus không đồng trinh trọn đời, nghĩa là sau khi sinh Chúa Jesus, bà còn sinh những người con khác. Còn người Công giáo tin rằng bà Mari đồng trinh trọn đời.
Ngươì theo Tin Lành chỉ tôn kính chứ không tôn thờ bà Mari, còn người Công giáo xem bà Mari là Mẹ thông ơn Thiên Chúa và cầu nguyện với bà Mari nữa.
Người Tin lành không xưng tội với Mục sư như người Công giáo xưng tội với Linh mục.
8.2. Sao không xưng tội cho giống nhà thờ Thiên Chúa? Xưng tội với Cha có được tha hết tội?
Kinh Thánh (ngay cả Kinh thánh Công giáo) không có chỗ nào dạy phải xưng tội với Linh mục. Kinh Thánh chép: “Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Jesus Kitô.” (I Timôthê 2:5- Bản dịch Công giáo). Chúng ta có thể tự do đến gần xưng tội với Thiên Chúa qua Danh Chúa Jesus mà không cần phải xưng tội với bất cứ một ai khác.
8.3. Có phải Tin Lành không tin Đức Mẹ là đồng trinh?
Bạn đã hiểu lầm rồi, người Tin Lành tin rằng bà Mari không trọn đời đồng trinh vì sau khi sinh Chúa Jesus bà còn sinh những anh em khác của Ngài. Nghĩa là bà chỉ đồng trinh khi sinh Chúa Jesus.
8.4. Sao trong nhà thờ tin lành không thấy tượng Chúa Giê-xu và đức mẹ?
Kinh Thánh dạy không được phép thờ bất cứ hình tượng nào. Thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật.
8.5. Mục sư có vợ, linh mục thì không. Tại sao? (ý hỏi về nền tảng giáo lý)
Kinh thánh dạy: “hôn nhân hoàn toàn quí trọng” cũng không có chỗ nào cấm bất cứ ai (ngay cả linh mục) có vợ. Kinh thánh còn dạy rõ: “Giám mục là chồng của chỉ một vợ mà thôi.” (I Timôthê 3:2). Chính sứ đồ Phêrô (Phierơ) và đa số các sứ đồ khác còn có vợ (chỉ trừ Phaolô).
8.6. Kinh thánh của Tin Lành và công giáo có giống nhau không? Nếu giống nhau nhiều sao lại làm khác nhau?
Kinh Thánh Tin lành và Công giáo hoàn toàn giống nhau chỉ trừ các sách (phần Cựu Ước) mà người Tin Lành không công nhận Quy điển: Máccabê, Tôbigia, Barúc… Làm khác nhau là vì làm đúng và không làm đúng với Kinh Thánh.
8.7. Người Tin lành có cưới người công giáo được không? Tại sao? Vì cả 2 điều thờ Chúa. Chúa của Tin Lành và Công giáo không khác nhau vậy sao phải chia ra cả về hôn nhân lẫn nơi thờ phượng, cách thờ phượng?
Trong thực tế vẫn có người Công giáo và Tin Lành lấy nhau. Nhưng nên nhớ hai niềm tin hoàn toàn khác nhau, dù cả hai đều tôn thờ Thiên Chúa. Xem thêm 8.1.
Câu hỏi:
Xin cho tôi được biết nhiều hơn về đạo Tin Lành và Thiên Chúa Giáo. Giữa hai đạo Tin Lành và Thiên Chúa Giáo có gì khác biệt với nguồn gốc lịch sử hình thành?

Trả lời:
Cảm ơn bạn viếng thăm website của chúng tôi. Chúng tôi đã nhận được thắc mắc của bạn và xin được trả lời như sau:

Trước hết, chúng tôi xin được trình bày với bạn những điểm căn bản nhất của niềm tin Tin Lành để từ đó có thể đưa ra sự khác biệt giữa Công Giáo và Tin Lành. Niềm Tin Tin Lành tin vào Đức Chúa Trời theo như Kinh Thánh bày tỏ. Kinh Thánh Sáng Thế Ký 1:1 cũng cho chúng ta biết "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất." Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo vũ trụ này, tạo ra bạn và tôi và là Đấng tối cao toàn quyền điều khiển mọi sự trên thế giới thọ tạo của Ngài. Đức Chúa Trời là Đấng rất nhân từ yêu thương nhưng cũng hết sức thánh khiết, Ngài không chấp nhận tội lỗi. Xuất Êdíptôký 34:6-7 Đức Chúa Trời nói về mình rằng "Giêhôva! Giêhôva! Là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ơn huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá đều gian ác, tội trọng và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội làvô tội và nhơn tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời..."

Bởi đức thánh khiết của Ngài, Ngài không chấp nhận một tội lỗi nào dù chỉ trong tư tưởng, lời nói. Tiêu chuẩn công chính của Chúa được trình bày trong Kinh Thánh. Nếu bạn đọc sẽ rõ những tiêu chuẩn đó thật cao quá so với khả năng "làm lành" của bất kỳ một con người nào thiện hảo nhất. Ví dụ Chúa dạy chúng ta phải hết lòng yêu kính Chúa, Chúa dạy chúng ta nếu ai chỉ ghét người khác thì phạm tội cũng như tội giết người, Chúa dạy phải yêu thương kẻ thù nghịch mình, Chúa dạy phải hạ mình coi người khác tôn trọng hơn mình... và còn nhiều tiêu chuẩn khác nữa của Ngài mà khi nghiêm túc xét mình trước những tiêu chuẩn đó thì chúng ta sẽ phải nhận ra rằng chúng ta có quá nhiều tội. Không ai trong chúng ta, dù tốt lành đến đâu, có thể được kể là "không có tội trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta không tài nào cố gắng nổ lực để được chấp nhận trong mắt Đức Chúa Trời và đáng phải nhận hình phạt nơi hỏa ngục vì tội lỗi mình. Không có con đường nào cho chúng ta, ngoại trừ một con đường duy nhất mở ra bởi tình thương của Đức Chúa Trời: Vì tình yêu thương, Đức Chúa Trời không muốn bỏ mặc con người trong hình phạt tội lỗi nên đã thực hiện một chương trình cứu rỗi cho con người: Đức Chúa Trời đã sai Chúa Giêxu, cũng là Đức Chúa Trời, đến thế gian làm con người và chịu chết trên thập tự giá, chịu hình phạt thay cho con người, "Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết" (Rôma 5:8). Cũng giống như một người phạm một tội gì đó phải chịu án tù. Luật pháp không thể "tha trắng án" người đó được nhưng có một người khác "vô tội" chịu đứng ra nhận án phạt cho người đó thì người đó có thể được trắng án. Chúa Giêxu là Đấng hoàn toàn không có tội, nhưng Ngài đã chấp nhận đứng vào chỗ chúng ta để chịu án thay cho chúng ta để tiêu chuẩn công bình của Đức Chúa Trời được thỏa đáng mà con người cũng thoát khỏi hình phạt đời đời nơi hỏa ngục. Thế thì tình trạng bế tắc kể trên của con người chỉ được giải quyết bằng một giải pháp duy nhất là TIN NHẬN ƠN CỨU CHUỘC CỦA CHÚA GIÊXU CHO MÌNH. Con người không thể cố gắng làm lành để được cứu vì dù làm lành mấy thì lấy gì bù vào cho những tội đã phạm? Chỉ có một cách là một Đấng không hề có tội chịu thay án phạt cho con người mà thôi và con người chỉ có thể bởi lòng tin nhận lấy công lao của Ngài cho mình để mình được cứu. Thế thì Chúa Giêxu mà chắc hẳn bạn thường nghe nhắc đến khi nói đến đạo Tin Lành là Đức Chúa Trời xuống thế gian làm người cách đây hơn 2000 năm, để chết thay cho loài người. Ngài đã sống lại sau ba ngày và về trời.

Theo hiểu biết của chúng tôi, vấn đề khác biệt lớn nhất giữa niềm tin Thiên Chúa Giáo và niềm tin Tin Lành là vấn đề con người có nhờ công đức mà được sự cứu rỗi hay không. Niềm tin Tin Lành tin rằng con người được cứu hoàn toàn bởi đức tin nơi sự cứu chuộc của Chúa Giêxu mà không nhờ một chút nào vào công đức của bản thân người đó, nghĩa là một người được cứu chỉ bởi nhận mình có tội và nhận lấy công lao cứu chuộc của Chúa Giêxu cho mình mà thôi. Ở điểm này, niềm tin Công Giáo cho rằng sự cứu rỗi của con người có sự góp phần của công đức của người đó nữa, rằng bởi mình tin và cố gắng làm lành thì mình được cứu chớ chẳng phải do tin Chúa chết thay mình mà thôi. Dù rằng Thiên Chúa Giáo cũng tin Chúa Giêxu chết thay cho tội lỗi con người, nhưng để được cứu, con người còn phải làm điều thiện nữa.

Niềm tin Tin Lành dựa trên nền tảng Kinh Thánh Êphêsô 2:8,9 nói "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời, ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình." Kinh Thánh cũng dạy chúng ta làm điều tốt, Galati 6:9 nói "Chớ mệt nhọc về sự làm lành." Tuy nhiên, vấn đề là thứ tự của nó: nghĩa là chúng ta phải TIN ĐỂ ĐƯỢC CỨU, rồi bởi là Con Chúa, chúng ta LÀM LÀNH BỞI MUỐN LÀM THEO LỜI CHÚA. Chúng ta không cố gắng làm lành để có công mà được cứu vì công trạng của chúng ta không thể cứu chúng ta.

Một vấn đề khác biệt nữa giữa niềm tin Công Giáo và Tin Lành là việc cầu xin qua trung gian bà Mari và các thánh. Giáo hội Công Giáo cho phép tín hữu cầu nguyện với Đức Chúa Trời qua trung gian là đức mẹ Mari và các thánh. Niềm tin Tin Lành chỉ cầu nguyện với Đức Chúa Trời qua một mình Chúa Giêxu mà thôi vì tin rằng mọi người khác dù tốt lành đến đâu cũng chỉ là con người với những tội lỗi của mình và đều cần được cứu, chỉ có Chúa Giêxu là Đức Chúa Trời làm người, là Đấng trọn vẹn không tội lỗi. Kinh Thánh dạy trong 2Timôthê 2:5, "Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giêxu Christ, là người." Theo đó, chúng ta chỉ có thể cầu nguyện thông qua (hay "trong danh") Chúa Giêxu mà thôi.

Về mặt lịch sử giáo hội, từ ban đầu chỉ có một giáo hội mà thôi. Từ khi Chúa Giêxu sống lại, về trời trong thế kỷ thứ nhất, các môn đồ Ngài vâng lời Ngài đi ra rao giảng đạo Chúa khắp nơi và có nhiều người tin theo Chúa. Những người này họp nhau học lời Chúa, cầu nguyện, thờ phượng Chúa... và được gọi là "Christian" nghĩa là người theo Đấng Christ hay người theo Chúa Cơ Đốc, mà ngày nay gọi ngắn lại là Cơ Đốc Nhân. Vậy ban đầu chỉ có Cơ Đốc Giáo mà thôi. Tuy nhiên cùng với thời gian, Cơ Đốc Giáo phát triển lan rộng, có quy cũ tổ chức hẳn hoi. Cùng với sự phát triển đó cũng có những sự lệch lạc trong cách giảng dạy và giải thích Kinh Thánh, những nghi thức tôn giáo do con người đặt ra xen vào giáo hội. Vì vậy mà càng lúc giáo hội Cơ đốc càng đi xa khỏi sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Đến thế kỷ 16, Martin Luther, một tu sĩ trong dòng tu Cơ Đốc, đã đứng ra kêu gọi giáo hội sửa đổi những sai trật để đi đúng lại với niềm tin ban đầu của Kinh Thánh. Vấn đề chính ông đưa ra là sự cứu rỗi chỉ bởi đức tin mà thôi mà không bởi chút công trạng nào của con người. Con người không thể dùng tiền bạc hay công trạng nào của mình để mua lấy sự cứu rỗi. Ông cũng đề nghị bỏ đi một số hình thức tôn giáo mê tín sai lạc của giáo hội lúc bấy giờ. Giáo hội lúc ấy đã bác bỏ đề nghị của Martin Luther và vì thế mà Luther cùng với một số người khác đã lập nên giáo hội Cải Chánh mà ngày nay tiếng Việt gọi là giáo hội Tin Lành. Như đã trình bày ở trên, vấn đề khác biệt lớn nhất đưa đến sự thành lập giáo hội Tin Lành là vấn đề con người được cứu chỉ bởi đức tin nơi sự cứu chuộc của Chúa Giêxu mà thôi mà hoàn toàn không bởi chút công đức nào.

Thật ra vấn đề bạn nêu lên là một đề tài lớn. Trong giới hạn cho phép, chúng tôi xin được trình bày như trên. Ước mong câu trả lời của chúng tôi giúp ích cho sự tìm hiểu của bạn.

Từ Trường Kinh Thánh Đà Nẵng đến Thánh Kinh Thần Học Viện Sài gòn


Cập nhật ngày 07 tháng 07 năm 2011 - vào lúc 07:27

Huấn luyện đào tạo là công tác vô cùng quan trọng, ngay từ khi bước vào chức vụ, Chúa Giê su bắt dầu công tác huấn luyện đào tạo cho các môn đồ để họ ra đi rao truyền Phúc Âm. Sau này các môn đồ cũng lấy công tác huấn luyện đào tạo làm nòng cốt đào tạo nhân sự để mở mang và phát triển Hội thánh.

Năm 1911, khi đạo của Chúa được truyền đến Việt Nam, cùng với công tác truyền giáo, việc giảng dạy lời Chúa cũng được chú trọng. Những người tiếp nhận Phúc Âm của buổi ban đầu rất khao khát học lời Chúa. Chính họ đã yêu cầu đựơc dạy Kinh thánh. Đứng trước  nhu cầu cấp thiết, năm 1918, các giáo sĩ đã mở một lớp dạy Kinh thánh vào buổi trưa, lớp học này mở ra tại nhà riêng của các giáo si tại Đà Nẵng. Lóp học Kinh Thánh ban đầu này là chiếc nôi của trường Kinh Thánh Đà Nẵng.

 Trường Kinh Thánh Tourane 1939 - 1940
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác huấn luyện và đào tạo, tháng 9/1921, giáo sĩ D. I. Jeffrey bắt đầu mở trường Kinh thánh chính thức tại Đà Năng, với nội dung giảng dạy theo khuôn mẫu trường Thần học Nyack của Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp ở Hoa Kỳ. Ngày ấy, lớp học diễn ra ở một nhà để xe ngựa đơn sơ, lợp tranh trong khuôn viên của Hội truyền giáo.

Sau khi nhà thờ Đà Nẵng được xây cất, năm 1922, một phòng lớn phía sau dùng làm lớp học Kinh thánh. Một thời gian sau, số học viên ngày một đông, gia tăng từ 8 người (1921) lên đến 47 người (1924). Trước nhu cầu cấp thiết đó, một cơ sở trường học được xây dựng riêng biệt bằng vật nhẹ gồm 1 lễ đường, 4 phòng học và 3 ký túc xá với tiện nghi đầy đủ, đủ chổ cho 90 học viên.

Việc sáng lập, quản trị trường Kinh Thánh cũng như công việc đào tạo ban đầu đều do các giáo sĩ đảm trách. Đến năm 1927, mới có người Việt Nam được bổ sung vào ban giáo sư. Thời gian đào tạo của trường là: 5 năm: năm đầu học KT tại trường; 2 năm tiếp theo làm truyền đạo sinh thực tập, hầu việc Chúa với các Ms, giáo sĩ tại điểm được phân công; năm cuối trở về trường học và tốt nghiệp.

Tính đến cuối năm 1927, có trên 150 người ghi danh theo học. Phần lớn những người này dâng mình hầu việc Chúa. Lễ tốt nghiệp đầu tiên của Trường Kinh thánh Đà Nẵng được cử hành vào tháng 4. 1927 với 8 học viên tốt nghiệp. Tất cả đều được tấn phong mục sư.
Trong 30 năm đầu ( 1921-1951), chức vụ Đốc học ( hiệu trưởng) do giáo sĩ của Hội Truyền Giáo đảm nhiệm, từ năm 1951 đến khi dời vào Nha Trang do cố mục sư Ông Văn Huyên làm Đốc học. Trải qua 38 năm hoạt động, Trường  KT Đà Nẵng đã đào tạo nhiều MS, Truyền đạo gửi đến khắp các tỉnh thành trong cả nước. Những người tốt nghiệp các khóa đầu tiên đã trở nên những nhà lãnh đạo đầy ơn, đóng góp  rất nhiều cho sự gây dựng và phát triển Hội thánh như:

Cố Mục sư Hội trưởng Hoàng Trọng Thừa, Ông Văn Huyên, Lê Văn Thái, hay những Mục sư truyền giáo dấn thân hy sinh như các Cố MS Phan Đình Liệu, Bùi Tự Do, Huỳnh Văn Ngà, Phạm Xuân Tín, Phan văn Xuyến, Lê Khắc Cung, Đăng văn Sung.. đến những giáo sư tận tụy như Quốc Phục Hòa, Lê Nguyên Anh, Vũ Văn Cư, Lê Hoàng Phu, Phạm Xuân Tín, Phạm Xuân Thiều… và rất nhiều Mục sư, Truyền đạo, quản nhiệm các Hội thánh luôn hết lòng vì bầy chiên như cố MS Lưu Văn Mão, Lê Châu, Nguyễn Văn Xuyến, Phan văn Tranh….
Từ năm 1949-1952 trường Kinh Thánh áp dụng chương trình học liên tục 3 năm học rồi cấp bằng tốt nghiệp và ra trường sẳn sàng cho việc bổ nhiệm đến các nơi. Từ năm 1953 chương trình này bị hủy bỏ và trở lại chương trình 5 năm như cũ.

 
Đà Nẵng 1924

Bước sang những năn 1957-1958, Mục sư Hội trưởng Lê Văn Thái và Đốc học Mục sư Ông Văn Huyên đã có ý muốn dời Trường KT Đà Nẵng vào Nha Trang để thuận tiện cho các con cái Chúa miền Trung và miền Nam đến học. Ý kiến này được Hội trưởng Hội Truyền GIáo J.H.Revelle nhiệt thành ủng hộ. Hơn nữa lúc này Mục sư Nguyễn Văn Tầm đang quản lý lô đất trên 10 hecta cho một người Pháp là ông Ourgaud tại Hòn Chồng - Nha  Trang. Việc đo đạc và đăng ký quyền sở hữu lô đất và xây cất cơ sở cũng được được thuận lợi. Dưới sự quản ký của MS Duy Cách Lâm, từ mùa hè năm 1957 đến giữa năm 1961 công tác vỡ đá phá núi, xây dựng đã hoàn tất và trường KT với tên mới là Thánh Kinh Thần Học Viện đã được khánh thành ngày 9/7/1961 với tổng kinh phí 15 triệu đồng theo thời giá lúc ấy. Cơ sở vật chất của trường rất khang trang, bao gồm 1 nhà 3 tầng làm Lễ  Bái Đường, các phòng học, văn phòng, hai ký túc xá sinh viên, nhà ở cho nhân viên, nhà ở cho giáo sư, nhà để xe..Cơ sở của Viện có đủ chổ cho 200 sinh viên nội trú ăn học.

Trong 16 năm hoạt động, MS Ông Văn Huyên là Viện trưởng, với nhiều giáo sư là các giáo sĩ và Mục sư người Việt như: MS Lê Hoàng Phu, Phạm Xuân Tín, Phạm Văn Năm… GS Otis G.Fisher, J.H.Revelle, S.T.Sutherland, O.N.Steinkamp, D.R.Douglas…Từ năm 1972 có thêm các MS Phạm Xuân Thiều, TĐ Nguyễn hữu Cương, TĐ Nguyễn Kiên Trinh… được mời làm giáo sư của Viện.

Chương trình học vẫn theo chương trình 5 năm ( 2 năm học ở trường, 2 năm thực tập, 1 năm học tốt nghiệp), đến niên khóa 1968-1969 Viện đã mở thêm lớp Cử nhân thần học và từ khóa 1970-1971 mở thêm lớp Cao đằng thần đạo tại Sài Gòn để thực thi chương trình mở rộng đào tạo thần đạo cho Hội thánh.

Từ ngày Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang bắt đầu hoạt động cho đến khi ngưng vào năm 1976, đã có nhiều sinh viên tốt nghiệp. Sau nay, nhiều người được phong chức mục sư nhằm đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng của Hội thánh khắp cả nước.

Năm 2001, HTTLVN( MN) có` được tư cách pháp nhân. TLH đã nghĩ đến việc xin mở lại trường Kinh Thánh  nhăm đào tạo nhân lực cho Hội thánh. Năm 2003, Nhà nước đã cấp phép để TLH mở lại Trường Kinh Thánh với tên gọi Viện Thánh Kinh Thần Học do MS Phạm Xuân Thiều lúc bấy giờ là Hội trưởng kiêm chức Viện trưởng. Khóa đầu tiên tuyển sinh 50 người, 2 năm sau, tuyển sinh khóa 2 với số lượng 100 người. Do chưa có cơ sở nên Viện đặt tại Nhà thờ Tin Lành Sài Gòn, dùng lầu 4 làm phòng học, thư viện tạm thì dùng một phòng tại 30 Hồ Hảo Hớn ( trước đây là cơ sở của nhà in Tin Lành), sinh viên nội trú tại 14 Sư Vạn Hạnh, quận 5 ( Cơ sơ nhà sách Tin Lành cũ).

Năm 2007, TLH bắt đầu cho xây dựng cơ sở mới của Viện tại Phường Bình Trưng, Quận 2, TP HCM, trên lô đất 7.600m2. Dự án tổng thể bao gồm khu học xá là 1 tòa nhà 4 tầng, 2 tòa nhà ký túc xá cao 9 tầng, 1 nhà hành chánh 3 tầng và 1 nhà thờ với quy mô 2.000 chổ ngồi. Dự án xây dựng này sau khi hoàn chỉnh sẽ có đủ chổ cho 400 sinh viên nội trú học. Tổng kinh phí dự trù khoảng 120 tỷ đồng (6 triệu USD).

Tháng 3 năm 2010, sau khi xây dựng xong khu nhà học xá và 1 block ký túc xá, Viện đã bắt đầu  chuyển sinh viên khóa 3 và khóa 4 về học tại đây. Mặc dầu công tác xây dựng chỉ hoàn tất được 40%, nhưng với cơ sở mới được trang bị đầy đủ tiện nghi, việc học tập của sinh viên thần học được thuận tiện hơn rất nhiều.

Từ năm 2003 khi bắt đầu khóa đầu tiên, đã có 150 sinh viên tốt nghiệp hệ  chính quy, gần 300 TĐ tình nguyện được học các lớp bổ túc mục vụ và cũng đã được bổ nhiệm làm Truyền đạo. Hằng trăm Hội thánh, Hội nhánh bấy lâu nay chưa có quản nhiệm giờ đã được bổ nhiệm đến, góp phần ổn định và phát triển Hội thánh.

Từ Năm 2002 là MS Phạm Xuân Thiều làm viện trưởng, năm 2002-2005: MS Dương Thạnh. Từ năm 2005 đến này là MS Thái Phước Trường.

Việc mở Viện thần học tại TP HCM và khởi đầu sự dụng cơ sở tại quận 2, TP HCM là một nổ lực lớn của toàn Hội thánh và sự trợ giúp nhiệt thành của nhiều ân  nhân, đồng thời cũng thể hiện một bước tiến trong việc cung cấp nhân lực cho sự phát triển của Hội thánh.

Qủa thật, huấn luyện đào tạo là công tác không thể thiếu được trong quá trình mở mang và phát triển Hội thánh Chúa.Từ trường Kinh Thánh Đà Nẵng đến Thần Học Viện Sài Gòn  là cả một khoang thời gian dài, với biết bao khó khăn gian khổ mà HTTLVN phải vượt qua để đào tạo ra hàng ngàn mục sư, truyền đạo và nhân sự rường cột cho Hội thánh, góp phần to lớn trong công cuộc rao giảng Phúc Âm củả Chúa cho đồng bào Việt Nam. 
Nguyễn Vy (tổng hợp)