Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Tiết khí

Tiết khí (tiếng Hán truyền thống: 節氣; phát âm PinYin: Jieqi) là 24 điểm đặc biệt trên quỹ đạo của Trái Đất xung quanh Mặt Trời, mỗi điểm cách nhau 15°. Tiết khí có xuất xứ từ Trung Quốc. Nó được sử dụng trong công tác lập lịch của các nền văn minh phương đông cổ đại như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên để đồng bộ hóa các mùa. Ở Việt Nam có một số học giả phân biệt tiết và khí. Họ cho rằng cứ một tiết lại đến một khí. Tuy nhiên để dễ hiểu, nhiều người vẫn gọi chung là tiết khí hoặc đơn giản chỉ là tiết.
Có hai yếu tố ảnh hưởng đến khoảng cách giữa hai tiết khí gần nhau, đó là:
  1. quỹ đạo của Trái Đất là một hình elíp rất gần với hình tròn chứ không phải là một hình tròn nên vận tốc di chuyển của Trái Đất trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời không phải là một hằng số. Do đó khoảng cách tính theo thời gian giữa các tiết khí không phải là con số cố định.
  2. Do làm tròn thời điểm bắt đầu của mỗi tiết khí vào đầu ngày mà tiết khí đó bắt đầu.
Nên khoảng cách giữa hai tiết khí kề nhau sẽ ở trong khoảng 14-16 ngày. Lấy ví dụ trong kỷ nguyên J2000 khoảng thời gian từ điểm thu phân đến điểm xuân phânBắc bán cầu là 6 ngày ngắn hơn khoảng thời gian từ điểm xuân phân đến điểm thu phân. Đó là do quỹ đạo hình elip của Trái Đất; vào tháng 1, Trái Đất ở gần Mặt Trời nhất (điểm cận nhật vào khoảng ngày 3 tháng 1) nên theo định luật Kepler nó phải chuyển động nhanh hơn thời kỳ ở xa Mặt Trời (điểm viễn nhật khoảng ngày 4 tháng 7). Chính vì thế nên nửa hoàng đạo từ điểm xuân phân đến điểm thu phân, Trái Đất đi hết 186 ngày. Nửa còn lại, từ điểm thu phân đến điểm xuân phân, chỉ cần 179 đến 180 ngày.


Hai mươi tư tiết khí

 

Bảng dưới đây liệt kê hai mươi tư tiết khí trong lịch các nước phương Đông:
Kinh độ Mặt Trời Tiếng Việt Tiếng Hoa1 Tiếng Nhật Tiếng Triều2 Ý nghĩa3 Ngày dương lịch4
315° Lập xuân 立春 立春(りっしゅん) 입춘(立春) Bắt đầu mùa xuân 4 tháng 2
330° Vũ thủy 雨水 雨水(うすい) 우수(雨水) Mưa ẩm 19 tháng 2
345° Kinh trập 驚蟄(惊蛰) 啓蟄(けいちつ) 경칩(驚蟄) Sâu nở 5 tháng 3
Xuân phân 春分 春分(しゅんぶん) 춘분(春分) Giữa xuân 21 tháng 3
15° Thanh minh 清明 清明(せいめい) 청명(清明) Trời trong sáng 5 tháng 4
30° Cốc vũ 穀雨(谷雨) 穀雨(こくう) 곡우(穀雨) Mưa rào 20 tháng 4
45° Lập hạ 立夏 立夏(りっか) 입하(立夏) Bắt đầu mùa hè 6 tháng 5
60° Tiểu mãn 小滿(小满) 小満(しょうまん) 소만(小滿) Lũ nhỏ, duối vàng 21 tháng 5
75° Mang chủng 芒種(芒种) 芒種(ぼうしゅ) 망종(芒種) Chòm sao tua rua mọc 6 tháng 6
90° Hạ chí 夏至 夏至(げし) 하지(夏至) Giữa hè 21 tháng 6
105° Tiểu thử 小暑 小暑(しょうしょ) 소서(小暑) Nóng nhẹ 7 tháng 7
120° Đại thử 大暑 大暑(たいしょ) 대서(大暑) Nóng oi 23 tháng 7
135° Lập thu 立秋 立秋(りっしゅう) 입추(立秋) Bắt đầu mùa thu 7 tháng 8
150° Xử thử 處暑(处暑) 処暑(しょしょ) 처서(處暑) Mưa ngâu 23 tháng 8
165° Bạch lộ 白露 白露(はくろ) 백로(白露) Nắng nhạt 8 tháng 9
180° Thu phân 秋分 秋分(しゅうぶん) 추분(秋分) Giữa thu 23 tháng 9
195° Hàn lộ 寒露 寒露(かんろ) 한로(寒露) Mát mẻ 8 tháng 10
210° Sương giáng 霜降 霜降(そうこう) 상강(霜降) Sương mù xuất hiện 23 tháng 10
225° Lập đông 立冬 立冬(りっとう) 입동(立冬) Bắt đầu mùa đông 7 tháng 11
240° Tiểu tuyết 小雪 小雪(しょうせつ) 소설(小雪) Tuyết xuất hiện 22 tháng 11
255° Đại tuyết 大雪 大雪(たいせつ) 대설(大雪) Tuyết dầy 7 tháng 12
270° Đông chí 冬至 冬至(とうじ) 동지(冬至) Giữa đông 22 tháng 12
285° Tiểu hàn 小寒 小寒(しょうかん) 소한(小寒) Rét nhẹ 6 tháng 1
300° Đại hàn 大寒 大寒(だいかん) 대한(大寒) Rét đậm 21 tháng 1






Ghi chú:
  1. Trong ngoặc là tiếng Hoa giản thể nếu cách viết khác với tiếng Hoa phồn thể (truyền thống).
  2. Trong ngoặc là cách viết kiểu Hanja
  3. Ý nghĩa của các tiết về cơ bản là giống nhau trong các nước, tuy nhiên có một vài điểm khác nhau rõ rệt.
  4. Ngày bắt đầu của tiết khí có thể cách nhau trong phạm vi ±1 ngày.
Trong khoảng thời gian giữa các tiết khí như Đại tuyết, Tiểu tuyết trên thực tế ở miền bắc Việt Nam không có tuyết rơi. (Trừ một số đỉnh núi cao như Phan Xi Păng, Mẫu Sơn có thể có, tuy vậy tần số xuất hiện rất thấp và lại rơi vào khoảng thời gian của Tiểu hàn-Đại hàn).
Các điểm diễn ra hay bắt đầu các tiết xuân phân, hạ chí, thu phân, đông chí trùng với các điểm vernal equinox (điểm xuân phân), summer solstice (điểm hạ chí), autumnal equinox (điểm thu phân), winter solstice (điểm đông chí) trong tiếng Anh đối với Bắc bán cầu.
Tiết Khí.svg

Ý nghĩa

Phân tích các tiết khí theo bảng trên đây, có thể nhận thấy chúng có liên quan đến các yếu tố khí hậu và thời tiết rất đặc trưng cho vùng đồng bằng sông Hoàng Hà của Trung Quốc. Trong quá khứ nó đã từng được áp dụng để tính toán các thời điểm gieo trồng ngũ cốc sao cho phù hợp với các điều kiện thời tiết và khả năng sinh trưởng của chúng. Tuy vậy nó cũng có thể áp dụng được cho các vùng lân cận như khu vực phía bắc Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v.v. Chính vì thế lịch Trung Quốc xưa còn có tên gọi là nông lịch tức lịch nông nghiệp.

 Phân định mùa

Theo tiết khí trong lịch Trung Quốc, các mùa bắt đầu bằng tiết khí có chữ "lập" trước tên mùa. Ví dụ: mùa xuân bắt đầu bằng tiết khí lập xuân.
Tuy nhiên phân định này chỉ đúng cho thời tiết các nước ở bắc bán cầu Trái Đất xung quanh vùng Trung Hoa cổ đại. Tại các nước phương Tây, các mùa được phân định bằng các thời điểm như điểm xuân phân, điểm hạ chí, điểm thu phânđiểm đông chí. Trong thiên văn học, mùa trên các hành tinh nói chung cũng phân theo kiểu phương Tây. Ví dụ, mùa xuân trên sao Hỏa bắt đầu vào điểm xuân phân (kinh độ Mặt Trời bằng 0) và kết thúc vào điểm hạ chí (kinh độ Mặt Trời bằng 90°).

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Nhãn chai rượu vang nói gì với bạn? Tiếng Pháp gọi nhãn rượu là “Etiquette”. Một chai vang thường có 1 nhãn rượu chính phía trước và một nhãn phụ “Contre-étiquette” dán phía sau.

ruou
Tuy nhiên trong lịch sử thì rượu vang chưa có nhãn giống như ngày nay, nó được in ấn rất thô sơ và thậm chí còn không có cả năm sản xuất rượu nữa.
Khái niệm "millésime" (năm sản xuất) là hoàn toàn mới xuất hiện gần đây. Vào khoảng đầu thế kỷ XIX xuất hiện kiểu nhãn rượu vang có trang trí và nó nhanh chóng trở thành trào lưu được tất cả áp dụng.
Mục đích của nhãn rượu là để cung cấp các thông tin chính xác cho mục đích thương mại nhưng bên cạnh đó thì một chiếc nhãn đẹp cũng sẽ thu hút được khách hàng nhiều hơn.

Trên nhãn rượu có những thông tin thuộc loại bắt buộc và những thông tin khác tùy theo người sản xuất. Tất cả các nhãn rượu vang lưu hành trên thị trường đều được Phòng chống hàng giả của Pháp kiểm soát chặt chẽ. Ta cũng cần biết rằng ở châu Âu người ta xếp rượu vang thành 2 chủng loại:
-Les vins de table (Vang bàn)
- Les vins de Qualité Produits dans des Régions Déterminées (VQPRD) (Vang chất lượng cao theo tên Vùng xác định)
Trong khi đó nước Pháp chia thành 4 chủng loại khác nhau từ thấp đến cao (hay nói một cách khác là trong mỗi chủng loại châu Âu còn có hai chủng loại nhỏ nữa) :
- Les vins de table (Vang bàn)
- Les vins de pays
- Les Vins d’Appellation d’Origine -Vins Délimités de Qualité Supérieure (AO-VDQS) (Các loại vang chất lượng cao có nguồn gốc xuất xứ) .
- Les Vins d’Appellation d’Origine Contrôlée (AOC) (Các loại vang chất lượng cao có nguồn gốc xuất xứ đã được kiểm định ).
"Vin de table"
Đây là loại rượu vang trên nhãn không có xác nhận rượu được làm ra từ một vùng đất nhất định với một loại nho Cépage xác định, cũng không có «cépages» nào bị cấm dùng trong khi làm rượu cả, đồng thời cũng không có «Millésime».
Chú thích :
1 : Hình minh họa
2 : Thương hiệu
3 : Thông tin thêm không có giá trị pháp lý
4 : Loại rượu «Vin de table» (thông tin bắt buộc)
5 : Lượng cồn trong rượu (thông tin bắt buộc)
6 : Lượng rượu đóng chai (thông tin bắt buộc)
7 : Thông tin đầy đủ về nhà chế tạo (thông tin bắt buộc)  

"Vin de pays"
"Vin de pays" là một loại «Vin de table» mà trên nhãn rượu có ghi rõ vùng làm rượu.
Loại rượu vang này có thể có “Millésime” nhưng nó phải tuân thủ theo rất nhiều điều kiện khắt khe. “Vin du pays” có nhiều gu rượu khác nhau, chia thành các loại: « des appellations régionales, des appellations départementales, des appellations locales ». (Xuất xứ Vùng, Xuất xứ theo Tỉnh, Xuất xứ theo khu vực).
ruou
Chú thích :
1 : Millésime
2 : Hình minh họa
3 : Thông tin về loại nho «cépages» duy nhất dùng làm rượu
4 : Loại rượu «Vin de pays» và vùng làm rượu (thông tin bắt buộc)
5 : Lượng cồn trong rượu (thông tin bắt buộc)
6: Thông tin đầy đủ về nhà chế tạo (thông tin bắt buộc)
7: Lượng rượu đóng chai (thông tin bắt buộc)

"Vins d’Appellation d’Origine - Vins Délimités de Qualité Supérieure (AO-VDQS)"

Loại rượu này được xếp hạng từ năm 1949 bởi INAO (Institut National des Appellations d’Origine - Cục kiểm định quốc gia), nó cho phép tiếp nhận các loại rượu vang có chất lượng cao mà không nhất thiết phải nằm trong hạng A.O.C.
Để có thể đứng vào hàng AO-VDQS thì rượu vang làm ra phải tuân theo các quy định về vùng làm rượu, loại nho; phương pháp trồng nho, phương pháp làm rượu, sản lượng tính trên hectare, độ lên men tối thiểu của rượu. Cuối cùng là phải được nếm thử.
 ruou

Chú thích:
1: Hình minh họa
2: Millésime
3: Vùng trồng nho
4: Thông tin về VDQS (thông tin bắt buộc)
5: Tem bảo hiểm cùng số kiểm soát (thông tin bắt buộc)
6: Thông tin đầy đủ về nhà chế tạo (thông tin bắt buộc)
7: Lượng cồn trong rượu (thông tin bắt buộc)
8: Thông tin bắt buộc phải có để dùng cho xuất khẩu
9: Lượng rượu đóng chai (thông tin bắt buộc)

"Vins d’Appellation d’Origine Contrôlée (AOC)"
Tiêu chuẩn cao nhất của rượu vang Pháp được xác lập vào năm 1935 và đến năm 1947 thì INAO chính thức kiểm soát A.O.C. Bắt buộc phải tuân thủ theo các điều kiện vô cùng khắt khe và sau đó còn bị kiểm tra một lần nữa trước khi đưa ra bán trên thị trường. Các loại rượu vang A.O.C thật sự là đỉnh cao của nghệ thuật làm rượu của nước Pháp.

Trên nhãn rượu bạn cần lưu ý phân biệt các thông tin sau đây: A.O.C, Milésime, Premier Cru, Réserve, Cuvée, Grand Vin… Tất cả các loại rượu A.O.C đều có chữ “d’Appellation Contrôlée” trừ loại nhãn của rượu Champagne.
Trên đây là các thông tin mà bạn có thể thấy trên chiếc nhãn rượu chính ở phía trước, còn chiếc nhãn phụ ở phía sau lại thường là nơi nhà sản xuất cung cấp thêm thông tin cho bạn cùng những lời khuyên bổ ích khi thưởng thức rượu. Một dạng quảng cáo tế nhị mà thú vị.
Còn một dấu hiệu nữa để bạn có thể phân biệt nhanh chóng loại rượu vang đó là nhìn vào chiếc tem tròn dán ở trên đỉnh nút chai, tiếng Pháp gọi là “Capsule-congé”. Nó chính là một loại tem thuế quan dùng trong kiểm soát vận chuyển rượu. Với các loại “Vin de table” thì tem mầu xanh da trời, với các loại A.O.C thì là mầu xanh lá cây, còn các loại rượu vang nước ngoài thì có mầu đen.
Để có thể biết chính xác là minh đã mua loại rượu vang tốt thì bạn có thể kiểm tra chữ dập chìm trên nút chai, thông thường nó có tên của “Propriété”( Chủ sản xuất) và năm sản xuất - Millésime.

Như đã nói, bằng cách nhìn mầu của tem trên nút chai rượu có thể nhanh chóng phân biệt đẳng cấp của rượu vang Pháp.
 ruou
Capsule-congé của Vin A.O.C có mầu xanh lá cây như thế này. Ảnh chụp nút chai "Vin blanc" Riesling của vùng Alsace và chai Vin Jaune của Jura.
ruou
Đây là chai Porto, không phải rượu vang nhưng chiếc tem mầu đen này được dùng cho tất cả các loại rượu ngoại nhập vào Pháp.
ruou
Nút chai li-e có in hình lâu đài và tên của nó.
ruou
Cổ chai rượu vang.

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Cho người nước ngoài thuê nhà cần những điều kiện gì?

Hỏi:
Tôi có nhà muốn cho người nước ngoài thuê. Xin hỏi điều kiện và thủ tục cho thuê là gì? Mức thuế đối với hoạt động cho thuê nhà được quy định như thế nào?  

Trả lời:

Việc cho cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài hay công ty (Việt Nam hay nước ngoài) thuê nhà để ở, làm văn phòng… là một hoạt động kinh doanh và phải tiến hành làm thủ tục đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Bạn có thể liên hệ với phòng đăng ký kinh doanh cấp quận, huyện nơi có căn nhà định cho thuê để được cung cấp mẫu đơn đăng ký kinh doanh và được hướng dẫn làm thủ tục cụ thể.

Việc thuê và cho thuê phải được lập thành hợp đồng; hợp đồng thuê nhà phải được lập thành văn bản, nếu thời hạn thuê từ 6 tháng trở lên thì phải có công chứng, chứng thực và phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Sau khi ký kết hợp đồng cho thuê nhà, chủ nhà phải làm thủ tục khai báo tạm trú cho người thuê nhà tại cơ quan Công an địa phương.

Nội dung khai báo: Xuất trình hộ chiếu, tờ khai xuất nhập cảnh, chứng nhận tạm trú và thị thực (nếu thuộc diện có thị thực); khai vào bản khai tạm trú theo mẫu; lập danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú và nộp tại Công an phường xã sở tại và thông báo số lượng người nước ngoài tạm trú cho Công an phường, xã sở tại biết; lưu giữ phiếu khai báo tạm trú cùng danh sách người nước ngoài tạm trú để xuất trình khi có yêu cầu.

Hộ cá thể khi hoạt động kinh doanh phải kê khai nộp các loại thuế môn bài, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng. Mức thuế suất thuế môn bài phải nộp căn cứ vào số vốn đăng ký trong giấy phép đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.

Thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ cho thuê nhà, văn phòng là 10%. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân (Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập từ sản xuất, kinh doanh, tiền lương, tiền công, thù lao).

Biểu thuế đối với cá nhân cư trú: TN tính thuế đến 5 triệu/tháng: 5%; Trên 5 tr-10tr 10%; Trên 10 tr- 18tr 15%; Trên 18tr- 32tr 20% ; Trên 32 tr- 52 tr 25%; Trên 52-80 tr 30%; Trên 80tr 35%).

Điều kiện nhà cho thuê:

- Có địa chỉ cụ thể, nằm ngoài khu vực an ninh, quốc phòng;
- Riêng biệt (không cùng chung căn hộ hoặc cùng chung cửa đi với căn hộ khác).
- An toàn về cấu trúc, xây dưng.
- Bảo đảm điều kiện an ninh, trật tự,vệ sinh môi trường, phòng cháy, chữa cháy.
- Không có tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng.

Làm thế nào để bớt đau khổ ?

Đau khổ là đau và khổ. Nếu đau thì khổ. Nếu bỏng tay, gãy chân thì đau khổ. Nhưng đau và khổ là hai điều khác nhau. Đau là nguyên nhân và khổ là hậu quả. Trong ví dụ gãy chân, đau là hiện tượng sinh học do gãy xương, khổ là hiện tượng tâm l‎ý trong đầu–cái tâm buồn rầu, gắt gỏng, phàn nàn vì đau.

Đau thì trong một số trường hợp không thể chận được—nếu bị đụng xe gãy tay là phải đau. Nhưng khổ thì có thể chận được vì ta có thể điều khiển cách suy tư của tâm mình.

Vì đau và khổ liên hệ nhân quả mật thiết với nhau, nên công thức chấm dứt, hay ít ra là giảm bớt khổ, cũng khá giản dị:
1. Tránh đau
Nếu lái xe cẩn thận, thì khó bị đụng xe, có nghĩa là cơ hội bị gãy xương và đau đớn bị giảm xuống còn rất nhỏ. Thế có nghĩa là tránh khổ bằng cách tránh đau, tránh những gì có thể mang đến nỗi đau cho mình.
- Đừng ăn trộm, thì tránh được ăn đòn khi bị bắt.

- Đừng nói dối, thì tránh được bị xỉ vả hay bị phạt khi lòi ra tội nói dối.

- Đừng giết người thì tránh được bị người tùng xẻo trả thù.

- Đừng say rượu thì tránh được đụng xe.

- Đừng nói xấu người thì tránh được bị người đánh.

- Nói chung là đừng làm những chuyện sai quấy thì cơ hội bị đau sẽ ít đi rất nhiều.
2. Tập luyện để khi bị đau thì thấy ít đau
Như là người học võ bị đấm không thấy đau, chúng ta có thể huấn luyện để gia tăng khả năng chịu đau của mình:
- Nghe người nói xấu, thì mỉm cười bỏ ngoài tai, vì đó chỉ là chuyện ăn cơm bữa, nhất là khi bạn nổi tiếng vì giỏi, vì đẹp, vì thành công. Ghen tuông là điểm yếu của con người. Tha thứ cho họ.
- Bị người chơi xấu, thì bỏ qua, cho đó là chuyện yếu kém tự nhiên của con người, và tha thứ cho họ.
- Làm ăn thua lỗ, thì xem đó là chuyện thường—đã làm ăn là phải có lên có xuống.
- Bị vấp ngã trên đường đời vì bất kỳ l‎ý do gì đó, thì coi như đó là chuyện thường. Đã có hai chân để đi thì nhất định phải có lúc vấp ngã, nhất là trên những quãng đường khó khăn.
- Không đạt được mục đích nào đó, thì coi như đó là chuyện thường, vì nếu mục đích trên đời nào mình cũng đạt được hết thì chắc đó không phải là mục đích. Đã là mục đích thì đương nhiên là phải có thử thách khó khăn và nhất định là phải có lúc không đạt được.


3. Nếu phải bị đau rất đau, thì phải biết làm qu‎yết định khôn ngoan để không khổ, hay ít ra là bớt khổ
Đây thường là những trường hợp mình bị rất đau, hầu như không giảm đau được, như một người vợ rất yêu chồng tự nhiên bị chồng bỏ ngang vì chồng bị “người khác quyến rũ”; hay một người làm ăn khó nhọc lâu năm bỗng nhiên bị partner hất chân ra khỏi thương mãi; hay một người rất yêu quí bạn bè đột nhiên bị bạn đâm một nhát chí tử sau lưng…
Đây là những trường hợp chúng ta hoàn toàn không ngờ tới, và cảm thấy bị phản bội và tổn thương tột cùng, và chẳng cách nào giảm đau được.
Đây là những trường hợp khó khăn nhất, và cũng là nguồn gốc của những bi kịch lớn nhất của con người.
Cơn đau quá lớn và quá mãnh liệt đến nỗi nó ảnh hưởng như là một quả đấm knock out, lăn quay ra ngất xỉu ngay và chẳng còn tính toán suy nghĩ gì được. Ai đã từng bị knock out hay chứng kiến cảnh knock out mới hiểu được tác dụng đo ván trong vòng 1/10 giây đồng hồ.
Nếu so sánh với knock out, thì khi ta bị cú sốc kinh khủng, ít ra cũng phải có một thời gian toàn thân toàn tâm tê liệt không biết phản ứng thế nào. Bất tỉnh. Ai cũng thế thôi.


Câu hỏi là khi bắt đầu lai tỉnh lại một tí, thì làm gì đây?
Phản ứng tự nhiên của nhiều người là nhào vô đánh tiếp, và lúc này là đánh theo kiểu nổi điên. Nhưng, đã bị knock out rồi thì thường là càng đánh càng thua, càng bị ăn đòn.
Người võ sĩ kinh nghiệm và không tự ái biết là mình đã thua, mỉm cười và chịu thua. Người thiếu kinh nghiệm và nhiều tự ái thì phải đợi bị knock out thêm vài lần nữa mới bỏ cuộc. Khỗ nỗi, càng đau nhiều thì tự ái càng cao–hình như các cơn đau có năng lực thổi phồng cái tôi rất nhiều. Mà tự ái càng cao thì lại càng khó bỏ đi.
Người có con tim nhẹ nhàng thì coi thắng thua là lẽ thường, và vui vẻ ra đi. Người có tâm sân hận sẽ nuôi thù mười năm, hai mươi năm, cho đến khi rửa được hận.
Đây là lúc cái tâm của mình quyết định đời mình—hoặc là thong dong tự tại, thua thì cười ha hả, “bái phục bái phục”, và vui vẻ ngày tháng giang hồ; hoặc là bị cầm tù trong con tim sân hận, tức tối, nhiều stress của mình vài mươi năm nữa.
Đây là ngã rẽ lớn của cuộc đời, môt tích tắc quyết định có thể làm khác nhau mấy mươi năm sống.
Đây là ngã ba giữa tự do và tù ngục.
Nếu rất đau, thì có lẽ lúc này phải nhờ vào trí tuệ căn cơ. Đau nhiều thì cảm xúc mạnh, dễ làm trí óc lu mờ. Nhưng người có căn cơ trí tuệ sẽ thấy được quả tim có thể bị ngục tù như thế nào và mấy mươi năm ngục tù sẽ đau khổ như thế nào. Người không có trí tuệ không thấy được điều đó.
Rốt cuộc sự lựa chọn lúc này tùy thuộc vào cái mà nhà Phật gọi là xả bỏ–dùng sức mạnh của toàn tâm toàn trí, và trí tuệ của toàn tâm toàn trí, để chiến thắng sự cai trị của nỗi đau thế kỷ–đau thì đau, nhưng xả bỏ thì vẫn xả bỏ.
Xả bỏ cả một núi Thái Sơn sân hận, để tâm trí có thể tự do. Và hạnh phúc.
Xả bỏ, người ta thường tưởng lầm rằng đó là vì mình yêu người. Có thể như thế lắm. Nhưng trước hết, xả bỏ không phải là vì người, mà vì mình.
Xả bỏ là cái giá mình phải trả cho tự do, và hạnh phúc, của chính mình.
Chúc các bạn một ngày vui.

Truyền thống tư tưởng của Trung Quốc

Người Hoa thường coi trọng đến sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, đến cách đối nhân xử thế của từng cá nhân và đặc biệt chú trọng đến ý thức tỉnh ngộ của từng con người, do đó trong truyền thống tư tưởng của người Hoa thì “无人合一” tức “Vô nhân hợp nhất” là chủ đề hay được bàn luận nhất.

Có thể nói , Trung Quốc có một hệ thống tư tưởng rất hoàn chỉnh đã được hình thành từ mấy nghìn năm nay và có ảnh hưởng sâu sắc đến người dân của họ, mà nòng cốt của hệ thống tư tưởng này phải kể đến: Khổng Tử, Mạnh Tử (đã sáng lập ra tư tưởng Nho giáo); Lão Tử, Trang Tử (đã sáng lập ra tư tưởng đạo giáo); và tư tưởng Phật giáo. Trong đó, ảnh hưởng đến Trung Quốc nhiều nhất và sâu đậm nhất vẫn là tư tưởng Nho Giáo .

http://caasc.net/images/Confucius.jpg
Khổng Tử

Khổng Tử:( Trước Công Nguyên 551- Trước Công Nguyên 479), họ Khâu, tên Trọng Ni, người Lỗ quốc. Là một trong những nhà tư tưởng, nhà giáo và là người sáng lập ra tư tưởng Nho giáo vĩ đại của Trung Quốc. Tổ tiên của Khổng Tử là dòng tộc cao quý thời Tống quốc, là hậu duệ của Ân Vương Thất. Cha Khổng Tử mất từ khi ông còn nhỏ, sau đó hoàn cảnh gia đình càng ngày càng sa sút. Mặc dù nghèo khổ nhưng ông lại rất quyết tâm học, ông đã từng nói: “三人行,必有我师焉” (Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư), tức “Trong 3 người bất kì cùng đi bộ với nhau, tôi nhất định sẽ tìm ra một điều gì đó của họ để học hỏi” .

Về sau, ông bắt đầu thu nhập học trò, tổng cộng khoảng hơn 3000 học trò, trong đó có không ít trẻ em thuộc gia đình nghèo khó, và chính ông đã làm thay đổi truyền thống chỉ có con em nhà quý tộc mới đủ tư cách đi học đã được lưu truyền trước đó. Về cuối đời ông có biên soạn cuốn Cổ Thư Tịch, trong đó có lưu giữ rất nhiều những dữ liệu thời cổ đại, và cho đến nay rất nhiều các tác phẩm mà chúng ta được đọc đều do thông qua ông biên soạn.

Rất nhiều tư tưởng của Khổng Tử cho đến nay vẫn rất giá trị, ví dụ : Khổng Tử làm phong phú nội hàm của từ: ”仁”tức “nhân”. Ông cho rằng, “nhân” có nghĩa là phải biết quan tâm đến người khác, nếu những việc gì mà bản thân không thích thì cũng không nên ép người khác làm. Ông còn cho rằng trong việc xử lý quan hệ giữa con người với con người cần phải công nhận sự khác biệt giữa người với người, không nên dùng một chuẩn mực nhất định để đánh giá đối phương, có vậy mới tồn tại một xã hội công bằng và ổn định.

Trong lĩnh vực giáo dục, ông dùng phương pháp khêu gợi để rèn luyện tính độc lập suy nghĩ của học trò, ngoài việc học những kiến thức trong sách vở ông còn khuyến khích học trò của mình phải có những quan điểm riêng …

Tư tưởng của ông đã được người sau ghi nhận và đến nay đã trở thành một trong những luồng tư tưởng chủ yếu của người dân Trung Quốc, đồng thời tư tưởng này càng ngày càng được truyền bá rộng rãi đến các nước xung quanh.

“Tứ Thư Ngũ Kinh” và Tư tưởng Nho Giáo

Tứ Thư: Thực ra “Tứ Thư” tồn tại từ thời đầu nhà Tần, nhưng lúc đó chỉ chưa tồn tại cách gọi “Tứ Thư” mà thôi. Tứ thư gồm 4 quyển sách: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, và Mạnh Tử.

Quyển Mạnh Tử là cuốn sách tóm tắt về Tư tưởng chính trị của Mạnh Kha. Còn Đại Học và Trung Dung là hai chương trong “Lễ Kí “, chủ yếu giảng về cách học hỏi và cách sửa chữa những khuyết điểm của bản thân . Đến thời Nam Tống, Chu Hi đem phân khai thành hai cuốn riêng biệt, đồng thời bổ sung chú giải thêm, và kết hợp với Luận Ngữ, hợp thành giáo trình sơ cấp cho những người học Nho Giáo, và lấy tên là “Tứ Thư”.

Đại Học vốn chỉ là một chương trong sách Lễ kí (Kinh Lễ sau này), được Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử chế hóa thành. Tuy nhiên, nó chỉ thuộc bộ Tứ thư vào thời Tống, với sự xuất hiện cuốn Tứ thư tập chú của Chu Hi. Sách Đại học gồm 2 phần: Phần đầu có một chương gọi là Kinh, chép lại các lời nói của Khổng Tử. Phần sau là giảng giải của Tăng Tử (Tăng Sâm), gọi là Truyện, gồm 9 chương.

Đại học đưa ra ba cương lĩnh (gọi là tam cương lĩnh), bao gồm: Minh minh đức (làm sáng cái đức sáng), Tân dân (làm mới cho dân. Có khi viết là thân dân, nghĩa là gần gũi với dân), và Chỉ ư chí thiện (dừng ở nơi chí thiện).

Ba cương lĩnh này được cụ thể hóa bằng 8 điều mục nhỏ (gọi là bát điều mục), bao gồm:

– Cách vật (tiếp cận và nhận thức sự vật)

– Trí tri (đạt tri thức về sự vật)

– Thành ý (làm cho ý của mình thành thực)

– Chính tâm (làm cho tâm của mình được trung chính)

– Tu thân (tu sửa thân mình)

– Tề gia (xếp đặt mọi việc cho gia đình hài hòa)

– Trị quốc (khiến cho nước được an trị)

– Bình thiên hạ (khiến cho thiên hạ được yên bình).

Trung Dung do cháu nội của Khổng Tử là Tử Tư làm ra cũng trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ. Tử Tư là học trò của Tăng Tử. Tử Tư dẫn những lời của Khổng Tử nói về đạo “trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử.

Sách Trung Dung chia làm hai phần:

* Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy các học trò về đạo lý trung dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; mức ở được gồm đủ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hòa với muôn vật, hợp với lòng Trời.

* Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ ràng ý nghĩa và giá trị của hai chữ trung dung..

Luận Ngữ là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và những lời nói của người đương thời. Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên không có liên hệ với nhau. Sách Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ của Khổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo.

Mạnh Tử: Do học trò của Tử Tư (cháu nội Khổng Tử) là Mạnh Kha và các học trò của Mạnh Kha biên soạn. Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Tâm học và Chính trị học.

* Tâm học: Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho. Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện. Nhân và nghĩa vốn có sẵn trong lương tâm của người. Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa.

* Chính trị học: Mạnh Tử chủ trương “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là quí, quốc gia kế tiếp, vua là thấp nhất). Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành.

“Ngũ Kinh” gồm Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư (“Thượng Thư”) , Kinh Lễ (”Lễ Kí”) và Kinh Xuân Thu, 5 bộ điển tịch.

1. Kinh Dịch: nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,…

2. Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu nam nữ. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng.

3. Kinh Thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.

4. Kinh Lễ: ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự.

5. Kinh Xuân Thu: ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa.

Thời kì Minh Thanh, mỗi lần thi cử đều dựa vào những câu văn trong “Tứ Thư Ngũ Kinh" để ra đề, thí sinh bắt buộc phải dựa vào cuốn “Tứ Thư” của Chu Hi để giải thích câu chữ trong bài. Và tất nhiên, “Tứ Thư Ngũ Kinh ” đã trở thành cuốn sách luyện thi quan trọng của các phần tử trí thức. Và cho đến nay, tư tưởng hàm ẩn trong “Tứ Thư Ngũ Kinh” cũng vẫn còn ảnh hưởng đến con người thời nay .

Lão Tử
Lão Tử

Lão Tử, Trang Tử và tư tưởng Đạo Giáo:

Lão Tử là người đầu tiên sáng lập ra tư tưởng Đạo Giáo của Trung Quốc (vào giai đoạn cuối của thời kì Xuân Thu ). Lão Tử, họ Lý, tên Nhĩ, ông đã từng làm người coi quản thư sách trong triều đình. Tác phẩm của Lão Tử, Đạo Đức Kinh, mặc dù chỉ có hơn 5000 chữ, nhưng có ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sau.

Lão Tử dùng “道” tức “đạo” để giải thích sự hình thành và diễn biến của vũ trụ, ông cho rằng tư tưởng và hành vi của con người cũng nên tuân theo đặc điểm và quy luật của chữ “đạo”, thuận theo tự nhiên, dùng nhu để trị cương, bởi vì những vật bề ngoài có vẻ yếu mềm nhưng bản chất lại thường rất cứng rắn.

Về sau Trang Tử đã gánh vác và tiếp tục phát triển tư tưởng của Lão Tử. Trang Tử tên là Chu, ông đã từng làm một quan nhỏ trong Sơn Viên tại Mông Cổ của Tống quốc. Trong tác phẩm của mình ông đã kế tiếp và phát triển quan điểm “道法自然” tức “Đạo Pháp Tự Nhiên” của Lão Tử, chủ trương đem vạn vật bên ngoài và bản thân tương đồng với nhau, hay đem sự sống và cái chết tương đồng với nhau.

Vì tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử có nhiều điểm rất giống nhau cho nên mọi người có thói quen gọi tên: Lão Trang .

http://www.ancientsculpturegallery.com/images/2952.jpg

Tư tưởng Phật Giáo

Ngay từ triều Hán, sau khi Phật Giáo được hình thành tại Ấn Độ đã được truyền bá vào Trung Quốc. Trong quá trình phát triển tại Trung Quốc Phật Giáo đã không ngừng được Trung Quốc hóa, và có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống tư tưởng Tôn Giáo của người Trung Quốc — Tư Tưởng Phật Giáo.

Tùy – Đường là thời kỳ Phật Giáo được Trung Quốc hóa phát triển nhất. Cùng với sự thống nhất của quốc gia, sự phát triển vượt bậc về văn hóa và kinh tế của nước nhà, Phật Giáo đã đạt được mức phát triển chưa từng có từ xưa đến nay. Phật Giáo trong quá trình hòa nhập với nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc,đã kết nạp không ít tư tưởng Nho Giáo và Đạo Giáo, hình thành nên một vài Tôn phái Phật Giáo Trung Quốc hóa. Trong đó, Thiền Tông là phái mạnh nhất. Tư tưởng Phật Giáo đươc hình thành đã lấp kín những thiếu sót trong tư tưởng truyền thống và làm phong phú thêm nền văn hóa của Trung Quốc.

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Top 10 songs about Christmas

Top 10 songs about Christmas

1.Jingle Bells
 Cũng giống như Happy New Year của ABBA là ca khúc dành cho năm mới, Jingle Bells được coi là “theme song” của ngày lễ Giáng sinh. Jingle Bells do nhạc sĩ tài ba James Lord Pierpont sáng tác vào năm 1857 dưới cái tên One Horse Open Sleigh. Ca khúc này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được biết đến trên toàn thế giới với cái tên Jingle Bells. Rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi đã trình diễn bài hát này theo nhiều phong cách khác nhau nhưng có lẽ thành công hơn cả là nhóm nhạc Jamaica Boney M. Tiếng chuông ngân vang mở đầu bài hát, giai điệu vui vẻ, ấm áp khiến cho Jingle Bells trở thành ca khúc bất tử của nhóm Boney M.

2.Silent Night
Đây là một trong những ca khúc thánh ca lâu đời nhất. Silent Night bản gốc tên là Stille Nacht do một vị cha xứ người Áo viết năm 1817. Năm 1839, nhạc sĩ John Freeman dịch sang tiếng Anh và đem trình diễn lần đầu tại một nhà thờ ở St. Nicholas, Áo. Ngay lập tức, Silent Night trở thành bản thánh ca phổ biến tại các nhà thờ trên toàn thế giới. Năm 1905, ban nhạc Haydn Quartet lần đầu tiên ghi âm ca khúc này và sau đó được các ban nhạc khác nhau trên khắp thế giới hát lại. Tại Việt Nam, từ hơn nửa thế kỷ trước, nhạc sĩ Hùng Lân đã chuyển thể Silent Night thành phiên bản Việt với tên gọi "Đêm Thánh vô cùng”. Lời ca của Silent Night mang ý nghĩa là mừng lễ Giáng sinh và ngợi ca Chúa đã ban phước lành cho con người. (Silent Night do Christian Enya thể hiện).

3.Last Christmas
Last Christmas tính đến nay đã trở thành ca khúc được các nghệ sĩ trẻ cover nhiều nhất. Mỗi năm, hàng loạt bản ghi âm ca khúc này theo nhiều phong cách khác nhau được phát hành.Từ Backstreet Boys, Human Nature, Savage Garden cho đến Hillary Duff, Ashley Tisdale, Taylor Swift… Nhưng có lẽ chưa bản ghi âm nào để lại ấn tượng mạnh mẽ bằng bản gốc của nhóm Wham. Last Christmas do George Michael viết năm 1984 và đã nhanh chóng trở thành đĩa đơn ăn khách nhất Anh quốc mùa giáng sinh 1984. Giai điệu bài hát da diết là lời tâm sự của chàng trai về một tình yêu không thành trong mùa Giáng sinh. Last Christmas khơi gợi những kỷ niệm cũ trong mỗi con người nhưng sau đó lại kéo chúng ta trở về thực tại mỗi khi câu hát “Last Christmas, I gave you my heart. But the very next day, you gave it away. This year, to save me from tears…” vang lên.

4.When A Child is Born 
Nhạc phẩm của Fred Jay ra đời năm 1976. Johnny Mathis là người đầu tiên trình diễn ca khúc này và đã bán được hơn 850.000 bản trong 3 tuần đầu phát hành. Đêm mùa đông giá lạnh, khi tiếng chuông nhà thờ ngân vang, mọi người cùng chào đón một Noel bên nhau, giai điệu của When A Child Is Born khiến người nghe liên tưởng đến câu chuyện trong đêm Noel như Cô bé bán diêm. Chợt xót xa vì ngoài kia vẫn còn nhiều em nhỏ lang thang, không có nhà ở, những em nhỏ mang trên mình nhiều bệnh tật không được sống cuộc sống như người bình thường… Vì vậy, hãy biết trân trọng từng giây phút của cuộc đời và đừng để nó trôi qua vô ích. Đó chính là những thông điệp mà nhạc sĩ Fred Jay muốn gửi tới người nghe thông qua tác phẩm bất hủ của mình. Năm 2006, nhóm nhạc đa quốc tịch IL Divo đã thể hiện rất thành công When A Child Is Born trong album Christmas Collection.

5.The First Noel
 Đây là bản nhạc dân ca nổi tiếng xuất hiện từ thế kỷ 16. Hai nước Anh và Pháp đều giành phần xuất xứ. Từ “Noel” cho thấy, rất có thể bản nhạc này xuất xứ từ Pháp nhưng thực tế chứng minh The First Noel lại bắt nguồn từ xứ Cornwall của nước Anh. Có thể nói The First Noel là một trong những bản nhạc Giáng sinh ra đời sớm nhất mà cho tới nay vẫn không bị lãng quên. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng The First Noel được viết nên bởi một người bình dân ít học nên nó trở thành bài ca của mọi người và được cả thế giới yêu mến. The First Noel ca ngợi sự tinh túy của lễ Giáng sinh, là hồi chuông loan báo tin vui ngày Chúa giáng thế. Tại nhiều nước theo đạo Thiên chúa trên thế giới, The First Noel luôn là bài hát mở đầu trong mỗi mùa Giáng sinh.

6.Hark The Herald Angels Sing

Bản thánh ca này được Charles Wesley viết vào năm 1739 với lời ca tôn vinh Chúa giáng thế. Hàng năm cứ đến dịp Giáng sinh là các đài phát thanh trên toàn thế giới đều chọn ca khúc này để phát. Giai điệu sâu lắng và da diết của Hark The Herald Angels Sing luôn làm ấm lòng người nghe vào mùa đông giá rét. Đây cũng là ca khúc gây nhiều tranh cãi nhất, bởi trải qua hàng trăm năm tồn tại nhưng nó luôn bị biến đổi về giai điệu và vẫn chưa ai tìm ra được một nhạc điệu cố định cả. Ngay cả tên bài hát cũng có nhiều bản ghi âm cũng đã thay đổi thành “Heard The Herald Angels Sing”. Ca khúc này còn được sử dụng trong rất nhiều vở nhạc kịch trong kinh thánh như “Eli and Paolo”. Phiên bản dưới đây được thể hiện bởi giọng hát trong trẻo và ấm áp của nữ ca sĩ Jewel. 


7. Mary’s Boy Child
 
Một ca khúc rất được bạn trẻ Việt Nam yêu thích bởi giai điệu ngọt ngào và tiết tấu vui tươi. Bài hát mở đầu bằng lời kể chuyện “Ngày xửa ngày xưa ở cánh đồng Bethblehem xa vời, Jesus Christ - đứa trẻ của Mary, đã được sinh ra trong ngày lễ Giáng sinh. Muôn ngàn tiếng ca của các thiên thần vang lên, không trung vang lừng tiếng nhạc thánh ân…”. Mary’s Boy Child được viết năm 1956 và lời ca kể về ngày Thiên chúa Giáng sinh đến với con người. Tên gốc của ca khúc này là “Mary’s Little Boy Child” nhưng khi nhóm nhạc disco lừng danh người Jamaica Boney M. cover lại vào năm 1978, họ đã đổi thành “Mary’s Boy Child / Oh My Lord”. Mary’s Boy Child còn là ca khúc được các em thiếu nhi trên toàn thế giới ưa thích.

8.All I Want For Christmas
 
Là ca khúc nổi tiếng nhất nằm trong album giáng sinh “Merry Christmas” của diva Mariah Carey phát hành năm 1995, Merry Christmas luôn được xếp vào top những album Giáng sinh hiện đại hay nhất. All I Want For Christmas còn là single chủ đề Giáng sinh đoạt doanh thu kỷ lục trong lịch sử âm nhạc với 400.000 bản được bán ra trong tuần đầu tiên phát hành. Lời ca mang đầy ý nghĩa của cô gái trẻ dành cho người yêu “Em không muốn gì nhiều cho lễ Giáng sinh, em cũng không cần những gói quà. Chỉ có điều duy nhất em muốn trong lễ Giáng sinh đó là anh”. Ca khúc này đã được nhiều nghệ sĩ tên tuổi hát lại như Shania Twain, Samantha Mumba, nhóm rock My Chemical Romance hay nữ diễn viên trẻ Olivia Olson đã biểu diễn trong phim bộ phim Love Actually.

9.The Christmas Song
 Là ca khúc đứng thứ nhất trong Top 10 ca khúc Giáng sinh hay nhất mọi thời đại của hãng Edison Research bình chọn. Một bản nhạc kinh điển về Giáng sinh và có thể nói tất cả những gì liên quan đến Giáng sinh được thu gọn lại trong một bài hát “Chestnuts roasting on an open fire, Jack Frost nipping on your nose, Yuletide carols being sung by a choir, And folks dressed up like Eskimos…”. Bản ghi âm đầu tiên của Nat King Cole từ năm 1946 vẫn là phiên bản để lại nhiều ấn tượng hơn cả đối với người yêu nhạc. Còn điều gì thú vị hơn khi đêm Giáng sinh thưởng thức hạt dẻ nóng với một ly rượu táo thơm lừng cùng với giai điệu của The Christmas Song. Năm 2001, với chất giọng khỏe khoắn và truyền cảm, nữ ca sĩ Christina Aguilera cũng đã đem đến cho người nghe một The Christmas Song hoàn hảo trong album Giáng sinh của cô mang tên My Kind Of Christmas.

10.We Wish You A Merry Christmas
 Một giai điệu đã quá quen thuộc với bất kỳ ai. Bản nhạc We Wish You A Merry Christmas bắt nguồn từ miền Tây nước Anh vào thế kỷ 16 và đã trở thành giai điệu thân quen trên toàn thế giới mỗi dịp Giáng sinh về. Không có một nghệ sĩ hay một bản thu âm nào đặc biệt hoàn chỉnh của ca khúc này cả, We Wish You A Merry Christmas là dành cho tất cả mọi người. Nó còn mang ý nghĩa là một lời chúc Giáng sinh vui vẻ và cho một năm mới suôn sẻ: “We wish you a Merry Christmas and a Happy New Year”. 

Link:  http://diendan.az24.vn/clip-bai-hat-hay/131607-top-10-ca-khuc-giang-sinh-kinh-dien.html 

SƠ LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ TAM,TỨ PHỦ



Thứ hai, ngày 06 tháng mười hai năm 2010

SƠ LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ TAM,TỨ PHỦ




1.MỞ ĐẦU:
          Đã từ lâu tâm linh, tín ngưỡng đã đóng vai trò rất quan trọng đối với người dân Việt.Trong đó tín ngưỡng thờ Mẫu là tập tục phổ biến và có từ lâu đời. Đó là tập tục thờ các vị nữ thần có từ thời nguyên thuỷ với các nữ thần đại diện cho thiên nhiên như Mẹ ĐấtMẹ Nước, Mẹ Lúa… đến các vị nữ anh hùng , các vị Công Chúa, Hoàng Hậu, hay bà Tổ cô của dòng họ, bà Tổ nghề của một làng nghề… trong dân gian.Các vị  nữ thần thường được nhân gian suy tôn là Thánh Mẫu .Đó vừa là vị thần có quyền năng màu nhiệm vừa là người mẹ bao dung che chở cho đàn con thơ, vừa huyền bí lại vừa gần gũi.

       Một tín ngưỡng có sức ảnh hưởng rộng rãi ở nước ta là tín ngưỡng thờ Mẫu và tam,tứ phủ với nghi lễ đặc trưng là hầu đồng (hầu bóng, lên đồng...).Trong tín ngưỡng này, Thánh Mẫu được tôn thờ là vị thần chủ quyền năng cai quản toàn vũ trụ.Theo quan điểm đó vũ trụ được chia ra làm ba miền (ứng với tam phủ) hoặc bốn miền (ứng với tứ phủ).
==================================================

2.QUAN NIỆM VỀ TAM PHỦ , TỨ PHỦ:
Quan điểm thứ nhất
           * Tam phủ gồm :
1.     Đệ Nhất Thiên Phủ
2.     Đệ Nhị  Địa Phủ
3.     Đệ Tam Thoải Phủ


           * Tứ phủ gồm :

1.     Đệ Nhất Thiên Phủ (cõi trời)
2.     Đệ Nhị  Địa Phủ  ( cõi đất)
3.     Đệ Tam Thoải Phủ  ( miền sông nước)
4.  Đệ Tứ Nhạc Phủ ( miền núi rừng)

Quan điểm thứ hai
    Sự sắp xếp theo thứ tự trên của các phủ ( Thiên, Địa, Thuỷ, Nhạc) có lẽ theo lịch sử xuất hiện của tam, tứ phủ.Theo quan điểm đó thì tam phủ có truớc và tứ phủ có sau với sự ra đời của nhạc phủ.Trong các khoa cúng và các bản chầu văn ngày nay hầu như đều ghi thứ tự tứ phủ là Thiên, Địa, Thuỷ, Nhạc.Song song với đó quan niệm tứ phủ với một trật tự khác cũng rất phổ biến đó là Thiên ,Nhạc ,Thuỷ , Địa với danh hiệu của bốn phủ như:


           * Tam phủ gồm :
1.     Đệ Nhất Thiên Phủ
2.     Đệ Nhị  Nhạc Phủ
3.     Đệ Tam Thoải Phủ
           * Tứ phủ gồm :
1.     Đệ Nhất Thiên Phủ (cõi trời)
2.     Đệ Nhị  Nhạc Phủ ( miền núi rừng)
3.     Đệ Tam Thoải Phủ  ( miền sông nước)
4.  Đệ Tứ Địa Phủ  ( cõi đất)

       Quan điểm này ngày nay rất phổ biến và nhiều người không còn biết đến sự sắp xếp trật tự tứ phủ như xưa kia nữa.Quan niệm thứ tự của tứ phủ như vậy cũng rất hợp lý theo mặt không gian từ cao xuống thấp.Cao nhất là tầng trời (Thiên); sau đó đến vùng cao nguyên rừng núi ( Nhạc); sau đến vùng đại dương sông nước (Thuỷ hay còn đọc chệch là thoải),rồi mới đến vùng địa phủ.

      Tứ Phủ được đặc trưng bởi bốn màu :Màu đỏ (thiên phủ); Màu xanh (nhạc phủ) ; Màu trắng (thoải phủ) ; Màu vàng (địa phủ). Để dễ theo dõi ta lập bảng tổng hợp sau:



      Tín ngưỡng thờ tam phủ tứ phủ thật diệu kỳ, tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng lại không hề mâu thuẫn bởi vì chung quy lại đó đều là tôn thờ Thánh Mẫu tôn thờ toàn vũ trụ . 
==================================================

3.TAM TÒA THÁNH MẪU:
   Tam tòa Thánh Mẫu được coi là ba vị Thánh Mẫu quyền năng tối cao,tương ứng với tam phủ và tứ phủ như vừa trình bày . Xét quan điểm thứ nhất, trong các khoa cúng thưởng thỉnh danh hiệu các vị Thánh Mẫu như sau:
1.     Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên ,Cửu Trùng Thanh Vân Công Chúa
2.     Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên, Liễu Hạnh Công Chúa
3.     Mẫu Đệ Tam Thuỷ Cung, Xích Lân Công Chúa
4.     Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên, Sơn Lâm Công Chúa


Có bốn vị thánh Mẫu tương ứng với bốn phủ nhưng tam tòa Thánh Mẫu thì chỉ nói về ba trong số bốn vị Thánh Mẫu mà thôi. Chính vì vậy nên có nhiều quan điểm về thứ bậc trong Tam Tòa Thánh Mẫu. Ta thường gặp 2 quan điểm sau:

Hai quan điểm này dường như giống trong quan điểm về tam phủ đã nói ở trên (thiên - địa- thoải và thiên - nhạc -thủy). Có điều Mẫu Liễu Hạnh được coi là thần chủ là khởi nguồn của tín ngưỡng này nên cả trong hai quan điểm đều có nói đến ngài. Quan điểm thứ nhất thường thấy trong các bản văn cúng, các bản chầu văn. Quan điểm thứ hai lại rất thường gặp trong việc thờ tự. Mẫu Liễu Hạnh vừa là Mẫu Địa Tiên vừa được coi là Thiên Tiên Thánh Mẫu .Thần tượng của ngài thường được tôn trí với trang phục màu đỏ và ngự bên trái là Mẫu Thượng Ngàn ( trang phục màu xanh) và bên phải là Mẫu Thoải ( trang phục màu trắng):

    Nhiều nơi thờ tam tòa Thánh Mẫu là tam thế giáng sinh của Mẫu Vân Hương ( Mẫu Liễu Hạnh) ứng với ba lâng giáng trần của ngài : lần đầu ở Vỉ Nhuế, Đại Yên, Nam Định lần thứ hai ở Phủ Giày, Nam Định và lần thứ ba ở Đông Thành, Kẻ Sóc, Nghệ An  ( có ý kiến cho rằng lần thứ ba Mẫu giáng là ở Nga Sơn Thanh Hóa).Cụ thể như cung Mẫu trong phủ chính Tiên Hương, cung Mẫu đền Dâu ( Ninh Bình)... đều thờ tam thế Vân Hương Thánh Mẫu. Ta cũng thường gặp nhiều nơi ban thờ đề tam tòa Thánh Mẫu nhưung chỉ tôn trí một pho tượng Mẫu mà thôi.

       Xét về mặt lịch sử có lẽ tam toà Thánh Mẫu xuất phát từ tục thờ tam phủ ứng với ba vị Mẫu Thiên Địa Thoải, mặc dù tín ngưỡng sau này đổi thành tứ phủ nhưng tam toà Thánh Mẫu vẫn không đổi. Tam toà không chỉ nói về số lượng ,số đếm thông thường mà còn nói về sự bao quát, đầy đủ mà người xưa đã xây dựng.Số ba có thể nói là một số thiêng chúng ta thấy có Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới), Tam thời (Quá khứ, Hiện tại, Tương lai), Tam vô lậu học (Giới, Định, Tuệ)…Ngoài ra thì người phương đông cũng thường dùng số lẻ trong việc thờ cúng .Với quan niệm số lẻ là sự cân bằng âm dương (số lẻ là tổng của số lẻ và số chẵn)….Tam tòa Thánh Mẫu  cũng ứng với tam thân Thánh Mẫu , là biểu tượng của quyền năng thâu tóm toàn vũ trụ , Bởi lẽ, xét về tâm linh thì bốn vị Mẫu chính là đại diện cho một vị Thánh Mẫu duy nhất đó là người mẹ của tâm linh.mà cũng có thể đơn giản đó là biểu tượng của người mẹ bất diệt trong lòng người dân Việt Nam   
==================================================

4.HỆ THỐNG CHƯ THẦN TRONG TÍN NGƯỠNG: 
            Tín ngưỡng tam tứ phủ dưới ảnh hưởng của Phật giáo và đạo giáo (Trung Hoa) tôn thờ chư Phật , Bồ Tát... và rất nhiều vị thần như Vua Đế Thích, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thập Điện Minh Vương, Bát Hải Long Vương….Các vị thần được nhắc đến khá đầy đủ trong bản văn Công Đồng.Tuy nhiên với tín ngưỡng bản địa thờ các vị thần nước Nam thì các vị thần của đạo giáo cũng khá mờ nhạt, đa số người ta chỉ biết tới Ngọc Hoàng Thượng Đế (Vua Cha Ngọc Hoàng) và Bát Hải Long Vương (Vua Cha Động Đình).Còn lại các vị thánh đa số là các vị thần bản địa và được chia làm các hàng bậc rõ rệt như sau:
-  Tam Bảo: Chư Phật, Bồ Tát...
-  Các vị Vua cha như Ngọc Hoàng Đại Đế.,Vua Cha Bát Hải...
-  Tam Toà Thánh Mẫu 
-  Hàng Quan Lớn 
-  Hàng Thánh Chầu 
-  Hàng Thánh Hoàng 
-  Hàng Thánh Cô 
-  Hàng Thánh Cậu 
-  Các vị Thánh khác ( không được xét vào hàng tứ phủ)
- Thanh xà, bạch xà, ngũ hổ...

      Hệ thống chư vị thánh thần trong tín ngưỡng tứ phủ đã được xây dựng từ thời xưa. Nhiều khảo cứu dẫn đến kết luận khởi đầu là việc thờ Mẫu Vân Hương ( Mẫu Liễu Hạnh) từ thời Hậu Lê, sau đó là sự phát triển đưa thêm nhiều vị nữa vào thờ và đưa Mẫu Vân Hương thành ngôi vị thần chủ cao nhất ( ứng với Tam Tòa Thánh Mẫu)  .Đến ngày nay  hệ thống chư thần tứ phủ đã được xem là cố định. Các vị thánh khác được  phối hợp  thờ  cùng tứ phủ , hay thậm chí được các thanh đồng hầu bóng giá đó nhưng vẫn được coi là vị thần ngoài tứ phủ . Lấy thí dụ như các giá Chúa Tây Thiên, Chúa Nguyệt Hồ, Bà Chúa Kho,... .Các đền thờ những vị thần địa phương những vẫn kết hợp thờ tứ phủ, và khi hầu bóng các giá đó thường gọi là giá thánh thủ đền. 
             Mặt khác tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ Phủ còn chịu ảnh hưởng của Phật giáo, đa số các chùa miền Bắc đều có thờ Mẫu với quan điểm “tiền Phật, hậu Mẫu” .Ngoài ra tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ còn kết hợp thờ với các tín ngưỡng dân gian khác như tín ngưỡng thờ Trần Triều, thờ các vị thần địa phương (Chủ yếu là nữ thần), thờ ngũ hổ, thanh xà bạch xà,thổ công,thần núi, ….
       Nói đến tứ phủ (cũng như tam phủ) là nói đến toàn vũ trụ.Vì thế khi nói Tứ Phủ Thánh Chầu,Tứ Phủ Thánh Hoàng….người ta liên tưởng tới toàn bộ chư thánh Chầu,Thánh Hoàng…chứ không phải đích danh chỉ một vài vị.Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Vạn linh muốn nói đến toàn bộ chư thần, với sự linh diệu của tín ngưỡng thờ Mẫu
       Như vậy tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ có một quan niệm rất bao quát, không chỉ thờ cố định số lượng các vị thần mà là tôn thờ toàn vũ trụ.Và tất cả cũng có khi đơn giản gần gũi đó chỉ là một vị thần ,đó là Thánh Mẫu.Thánh Mẫu là  người mẹ luôn che chở dạy dỗ, thương yêu muôn loài.Tuỳ vào căn duyên mà biến hiện ,hóa thân phù đời giúp nước.Vì thế khi đặt câu hỏi có bao nhiêu vị Thánh Mẫu thì chúng ta có thể trả lời có muôn vàn vị Thánh Mẫu, nhưng cũng có thể trả lời là chỉ có một vị Thánh Mẫu duy nhất ,đó chính là điều kỳ diệu của tâm linh, như năm chữ : vạn pháp duy tâm tạo vậy
==================================================

5.CÁC NGHI LỄ TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU:

1- Hành hương , đi lễ cầu an tại các đền phủ.
2- Lập đàn cúng lễ các nghi lễ như Tụng kinh , dâng sao giải hạn, di cung hoán số, trả nợ tào quan, thí thực..
3- Đội bát nhang (tôn nhang bản mệnh)
4- Dâng văn thờ
5- Hầu bóng
6- Các nghi lễ khác.....

6.GIỚI THIỆU CÁC VỊ THÁNH QUA MỘT SỐ BỨC TRANH THỜ
*Tranh Tứ Phủ Công Đồng


Tứ phủ công đồng là bức tranh thờ chung tất cả các vị thánh tứ phủ ( công: chung, đồng là cùng).Tranh vẽ các vị thánh đại diện cho các hàng bậc như sau:
Trên cùng là đức quán thế âm bồ tát, ngài đại diện cho Tam bảo : Phật, Pháp, Tăng trong đạo Phật. Theo huyền tích lưu lại thì Vân Hương Thánh Mẫu ( Mẫu Liễu Hạnh) quy y tam bảo và là đệ tử của đức Phật sau này ngài nên chính quả được tương truyền là Mã Hoàng Bồ Tát. Trong các đền thờ có thể thờ phật mẫu chuẩn đề, Phật Thích Ca, hay tam thế Phật.. làm đại diện
Hàng thứ hai :  là Đức Ngọc Hoàng thượng đế ( ngồi giữa), hai bên là hai quan hầu cận ( thường là quan nam tào, bắc đẩu) .Có nhiều nơi thờ tam phủ ba vua (ba vị vua cha) là ba vị vua ứng với tam phủ thiên ,địa ,thoải là ngọc hoàng thượng đế ( thiên phủ), Diêm vương ( địa phủ), bát hải long vương( thoải phủ) , thông thường trong tam vị vua cha thì vua cha ngọc hoàng và vua bát hải là có ghi chú thích danh hiệu còn vị vua thứ ba thường để trống và không có chú thích gì, Theo phúc yên thì vị này có thể coi là địa phủ thần vương ( diêm vương) hay nhạc phủ thần vương ( nhạc phủ) đều được. Nhiều người cho rằng các vị vua này là xuất phát từ đạo giáo bên Trung Hoa ( có người còn cho rằng tam vị vua thờ là tam thanh: thái thanh, thượng thanh, ngọc thanh) nhưng rõ ràng Tam vị Vua Cha là các vị thần ứng với tín ngưỡng thờ tam phủ, tứ phủ và đã được Việt hóa khá nhiều. Vua Động Đình Hồ Bát Hải Long Vương được thờ ở đền Đồng Bằng Thái Bình, Vua cha Ngọc Hoàng được dân gian gọi với tên dân dà là ông trời ( ông giời)....Các vị Vua cha tuy có thứ bậc cao hơn Thánh Mẫu nhưng lại không có sức ảnh hưởng và ngôi vị thực sự trong tâm linh người Việt. 
Hàng thứ ba :  là tam tòa Thánh Mẫu: Mẫu Đệ Nhất (áo đỏ), Mẫu Đệ Nhị (áo xanh), Mẫu Đệ Tam (áo trắng).
Hàng thứ tư :  là ngũ vị tôn quan : Quan Đệ Nhất ( áo đỏ), Quan Đệ Nhị ( áo xanh), Quan Đệ Tam ( áo Trắng), Quan Đệ Tứ (áo vàng), Quan Đệ Ngũ (áo xanh da trời đậm)
Hàng thứ năm :  là tứ phủ thánh Chầu với các vị đại diện là Chầu Đệ Nhất ( áo đỏ), Chầu Đệ Nhị ( áo xanh), Chầu Đệ Tam ( áo trắng), Chầu Đệ Tứ (áo vàng), Chầu Lục (  phía ngoài cùng bên phải), Chầu Bé ( phía ngoài cùng bên trái)
Hàng thứ sáu:  là tứ phủ thánh hoàng với đại diện là ông Hoàng Cả ( áo đỏ), Hoàng Bơ ( áo trắng), Hoàng Bảy ( áo xanh lam đậm). Hoàng Mười ( áo vàng)
Hàng thứ bảy :  là tứ phủ thánh cô ( bên trái) và tứ phủ thánh cậu ( bên phải).        + Phía bên trái có các vị đại diện là Cô Bơ ( áo trắng), Cô Tư ( áo vàng), Cô Chín (áo hồng) và Cô Bé Thượng Ngàn ( áo chàm xanh). 
Phía bên phải có các vị đại diện là Cậu Cả ( áo đỏ), Cậu Bơ ( áo trắng), Cậu Tư ( áo vàng), và Cậu Bé ( áo xanh)

Qua bức tranh ta thấy các vị thánh đại diện ở mỗi hàng đều tương ứng với tứ phủ (một cách tương đối) :
Thiên phủ ( màu đỏ hoặc hồng)
Nhạc Phủ ( màu xanh lá cây, xanh chàm..)
Thoải Phủ ( màu trắng)
Địa Phủ ( màu vàng)

Tín ngưỡng thờ Mẫu , tam, tứ phủ là tín ngưỡng tôn thờ toàn vũ trụ ( thiên địa thủy nhạc) có thờ cả nam thần-nữ thần;    thiên thần- nhân thần  ; Các vị hiển tích ở miền xuôi cũng như miền ngược..... Cao hơn hết là Thánh Mẫu , người mẹ của tâm linh luôn có lòng bao dung độ lượng thương xót chúng sinh. Cửa Mẫu luôn rộng mở để chờ đón chúng ta, những khi vui hãy tìm đến Mẹ, lúc ta buồn hãy mở lòng tâm sự với Mẹ, Lúc khốn khó lại tìm đến mẹ để cầu xin mẹ che chở giúp đỡ chúng ta. Hãy an tâm trong cuộc sống bởi ta đã có mẹ, luôn có mẹ và mãi mãi có Mẹ. Mẹ là tất cả:

Mỗi người mỗi nước mỗi non
Đã về cửa mẹ như con một nhà...

*Tranh Tam Phủ Công Đồng
Tranh thờ tam phủ 
Trong bức tranh:
- phía trên cùng là Quán Âm Bồ Tát ( dân gian hay gọi là Phật Bà Quán Âm), hai bên có kim đồng ngọc nữ hầu cận
- hàng thứ hai là tam phủ ba vua ( tam vị đức vua, ba vị vua cha..) gồm
  + Thiên Phủ Thần Vương ( áo đỏ)
  + Nhạc Phủ Thần Vương  ( áo xanh)
  + Thoải phủ long vương ( áo trắng)
      và hai vị quan hầu cận
- hàng thứ ba là tam tòa Thánh Mẫu:
  + Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên ( áo đỏ)
  + Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn ( áo xanh)
  + Mẫu Đệ Tam Thoải Cung ( áo trắng)

Tam phủ gồm ba phủ ( thượng thiên- thượng ngàn -thoải phủ).
*Một số bức tranh thờ khác

Tranh tứ phủ công đồng


 Tranh Ngọc Hoàng và các vị thần  theo đạo giáo Trung Hoa

BA VỊ TAM THANH


Thánh Hoàng cuỡi tam đầu cửu vĩ    



 Chầu Lục và các cô hầu cận


 Chầu Bé ( Đền Bắc Lệ)  


Cô Bơ Thoải