Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

6 bất cập trong đề xuất cải tiến “Tiếq Việt” của PGS Bùi Hiền

Khi phần 1 bản đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ của PGS. TS Bùi Hiền (phần phụ âm) được công bố trên truyền thông, công luận đã có những phản ứng trái chiều, trong đó nghiêng về phản đối. Bài viết sau đây cũng là nối tiếp mạch suy nghĩ ấy khi PGS Bùi Hiền công bố tiếp phần 2 bản đề xuất với những cải tiến về hệ thống nguyên âm tiếng Việt.

Xin giới thiệu bài viết của TS. Trịnh Thu Tuyết (nguyên giáo viên Ngữ văn - Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội):
Nhìn nhận nghiêm túc thì Tiếng Việt của mình có rất nhiều điều bất hợp lý cả trăm năm nay, những bất hợp lý được hợp lý hoá bằng những qui ước mang tính mặc định trong cộng đồng sử dụng ngôn ngữ Việt, ví dụ các chữ cái c/k/q, r/d/gi, ng/ngh, g/gh...
Những mặc định đó tồn tại lâu dần thành thói quen, từ thói quen, lâu dần thành chuẩn mực chính tả phổ thông, và chuẩn mực là một trong những tiêu chí quan trong thiết lập giá trị thẩm mỹ trong tâm thế người sử dụng ngôn ngữ Việt. Bất hợp lý luôn tiềm tàng nhu cầu thay đổi để giảm thiểu tiến tới xoá bỏ nó, để dần mang tới tính khoa học, thẩm mỹ cho tiếng Việt.
Tuy nhiên, sự thay đổi thói quen đã hình thành hàng trăm năm là điều cực kì khó khăn, khó từ phương án thay đổi tới vấn đề giải quyết những hệ lụy cũ trong các văn bản hàng trăm năm nay, đặc biệt là khó khăn trong tâm thế tiếp nhận của cộng đồng!
Vậy vấn đề đặt ra là phải tìm phương án tốt nhất cho sự thay đổi, phương án ấy vừa khoa học, hợp lý, vừa không thay đổi quá nhiều những yếu tố có sẵn, tránh gây sốc cho cộng đồng.
Phương án do PGS Bùi Hiền đề xuất có quá nhiều sự thay đổi chưa thuyết phục được người sử dụng tiếng Việt, cũng là chủ nhân đích thực của tài sản tinh thần quí giá của cộng đồng, dễ gây phản ứng tiêu cực cũng là dễ hiểu.
Nhiều ý kiến lý giải sự bất hợp lý, dẫn tới bất khả thi trong những phương án đề xuất của PGS, tôi chỉ xin đưa ra một vài ý kiến rất nhỏ về những bất cập.

Tác giả bài viết - TS. Trịnh Thu Tuyết, nguyên giáo viên Ngữ văn - Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội.
Tác giả bài viết - TS. Trịnh Thu Tuyết, nguyên giáo viên Ngữ văn - Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội.
Trước hết là sự bất ổn trong cách đặt vấn đề:
- Giải quyết khắc phục tình trạng viết sai chính tả bằng cách xoá bỏ ranh giới đúng - sai của các phụ âm!
- Dùng tiếng thủ đô Hà Nôi làm cơ sở ngữ âm cho việc xác định danh mục chữ cái tiếng Việt. Trong khi đó, tiếng của Hà Nội về cơ bản không phân biệt r, d/ s, x/ ch, tr... sẽ không thể đại diện cho cách phát âm của người Việt nói chung.
Tiếng nói có trước, chữ viết có sau để ghi âm tiếng nói, vậy chữ phải thể hiện được đầy đủ các sắc độ tinh tế của tiếng nói, không thể xoá nhoà và đồng nhất các sắc độ ấy, không thể thay đổi chính âm và buộc người sử dụng ngôn ngữ chạy theo chính tả khi đồng nhất x/s; ch/tr; r/d...
Một trong những vẻ đẹp của tiếng Việt chính là sự phong phú, uyển chuyển tinh tế của ngữ âm, và ngữ âm được hình thành chủ yếu bởi thanh điệu, vần điệu, âm điệu, những yếu tố được cấu tạo trước hết bằng hệ thống phụ âm và nguyên âm! Sự khác nhau giữa các phụ âm r - d, ch - tr, x - s... tạo nên sắc điệu tinh tế cho các âm tiết khi phát âm!
Lấy ví dụ, sẽ không thể nhận ra vẻ đẹp của câu thơ " Những luồng run rẩy rung rinh lá" của Xuân Diệu; câu " Đứng bên này sông sao nhớ tiếc/ Sao xót xa như rụng bàn tay" của Hoàng Cầm; câu " Chí cha chí chát khua giày dép/ Đen thủi đen thui cũng lụa là" của Trần Tế Xương; hay ca từ " Trùng trùng quân đi như sóng... Trùng trùng say trong câu hát..." của Văn Cao... nếu phát âm theo hướng cải tiến quốc ngữ được đề xuất!
Sự thật không thể phủ nhận, đó là ngữ âm tạo nên KHÍ của ngôn ngữ, đó là cái tinh tế linh diệu của một ngôn ngữ! Chính vì thế, tôi cho rằng việc cải tiến nên hướng tới giải quyết những bất hợp lý đơn thuần về những chữ viết không làm phương hại tới ngữ âm!
Sau yếu tố ngữ âm là yếu tố từ vựng. Nghĩa biểu đạt của từ vựng liên quan chặt chẽ tới chữ viết. Nếu xoá nhoà ranh giới của ch/tr, s/x, r/d..., sẽ xuất hiện những yêu tố đồng âm khác nghĩa rất phức tạp trong tiếng Việt.
Ví dụ hai câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm:" Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng/ Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi"- người đọc phân biệt sự khác nhau giữa " truyền" (sự trao gửi những giá trị - chủ yếu tinh thần - qua thời gian) với " chuyền" (việc chuyển chủ yêu các yếu tố vật chất trong không gian); phân biệt sự khác nhau giữa " sẻ" trong " chia sẻ" (chủ yếu hướng tới việc bày tỏ/ tâm tình/ đồng cảm...các giá trị tinh thần;
Nếu là giá trị vật chất, cũng chủ yếu hướng tới cách bộc lộ tình cảm đùm bọc cảm thông như " nhường cơm sẻ áo"... ) với " xẻ" (việc dùng một vật dụng như cưa, dao... để chia/cắt một đối tượng thường là hữu hình theo chiều dọc); hoặc phân biệt nghĩa các phát ngôn qua cách phát âm như " Không xa đâu Trường Sa ơi"/ " - Anh ăn trưa chưa? - Anh chưa ăn trưa! / Của nhà chồng em trồng đấy/ Loài trâu bò châu Á/ Da cô ấy dạo này trắng ra..." Đó là những hiện tượng ngôn ngữ rất khó phân biệt nếu giản lược các chữ cái theo đề xuất.
Toàn bảng chữ cái (âm vị) Tiếng Việt (thủ đô Hà Nội) gồm 33 đơn vị của PGS Bùi Hiền.
Toàn bảng chữ cái (âm vị) Tiếng Việt (thủ đô Hà Nội) gồm 33 đơn vị của PGS Bùi Hiền.
Nguyên tắc PGS đưa ra cải tiến tiếng Việt là mỗi âm vị chỉ ghi bằng một chữ cái ( ký tự). Tuy nhiên, cách khắc phục của PGS lại nảy sinh một số vấn đề mới như sau:
- Sẽ có trường hợp một chữ phải gánh trong nó nhiều âm.
Ví dụ: c phải hàm chứa hai âm tr và ch; z hàm chứa r, d và gi. Bất cập đó dẫn tới sự tự loại bỏ một bộ phận âm vị không chỉ làm mất đi tính nhạc phong phú, đặc sắc trong TV mà còn dẫn tới những đồng âm rất khó phân biệt như đã nói ở phần 2 & 3.
- Hoặc ngược lại, một âm vẫn hiện hữu trong nhiều chữ cái khác nhau.
Quan sát đoạn "Thử nghiệm trực tiếp" cua PGS Bùi Hiền - đoạn trích báo Nhân dân - 16-12-2017, có trường hợp như âm ă ghi là a trong âm tiết " cách"; âm ă lại ghi là ă trong âm tiết " căn" (câu " ...một kác kăn kơ, bài bản...").
- Theo nguyên tắc chính tả hiện hành, nếu nguyên âm đôi uô/ ươ/iê là âm giữa vần thì ghi uô (rau muống), ghi ươ (tương đương), ghi iê (tiếng Việt), còn nếu đứng độc lập không có âm cuối vần thì chuyển thành ua (mua); ưa (mưa); ia (tia). Hàng trăm năm nay, sự chuyển âm này không còn là vấn đề với người sử dụng tiếng Việt.
Nay theo đề xuất của PGS Bùi Hiền, chữ a chỉ ghi âm a, và các trường hợp a đọc là ô (mua) sẽ trả lại là "muô"; a đọc là ơ (mưa) sẽ trả lại là " mươ"; a đoc là ê (tia) sẽ trả lại là " tiê"; a đọc là ă ( tay) sẽ trả lại là " tăy" .
Tuy nhiên, trường hợp âm â ghi â và ớ như trong các âm tiết: "tân" và "tớ" sẽ là hiện tượng một âm xuất hiện ở hai chữ cái trong khi nếu tuân thủ hệ thống cải tiến theo nguyên tắc một chữ ghi một âm thì chữ " tớ" phải chuyển thành " tấ"! Vậy là nguyên tắc một chữ ghi một âm của PGS đã không triệt để ngay trong chính hệ thống của ông!
Đề xuất cắt một nét của chữ "n", ghép liền với chữ "h" để ghi âm " nhờ"( nh) là một đề xuất rất khó thuyết phục cả về tính khoa học lẫn thẩm mỹ!
Sự cải tiến đồng bộ chữ viết Tiếng Việt sẽ tạo ra sự đứt đoạn của một giai đoạn văn hoá dân tộc! Lần thứ nhất, số đông người VN đã khó khăn trước những di sản văn hoá, lịch sử sử dụng Hán ngữ; còn lần này lại là khó khăn thật trớ trêu trước di sản sử dụng Việt ngữ!
PGS nói không cần in lại toàn bộ sách báo, ấn phẩm, sách giáo khoa, hợp đồng kinh tế, giấy tờ..., vì cho rằng những người biết quốc ngữ vẫn yên tâm sử dụng tất cả những thứ đó tới hết đời! Vậy nếu đề xuất này được thực hiện, những thế hệ con cháu chúng ta sẽ tiếp nhận di sản văn hoá sử dụng chữ quốc ngữ hiện tại như thế nào nếu không biết đồng thời hai hệ thống ngôn ngữ?
Đưa ra giải pháp "in một số tác phẩm văn thơ cần thiết để phổ cập nhanh chóng" như thời dùng chữ quốc ngữ thay chữ Hán đầu thế kỉ trước sẽ mặc nhiên loại bỏ một phần lớn di sản văn hoá dân tộc (bởi nếu in lại nhiều sẽ là một vấn đề quá lớn cho ngân sách).
PGS dẫn chứng giấy khai sinh thời Pháp in ba thứ chữ: chữ Pháp, chữ Nho, chữ quốc ngữ (!), nếu theo sáng kiến này, lượng tiền của, công sức, thời gian...in ấn sẽ lớn gấp bao nhiêu lần 9% tiết kiệm được mà ông cho rằng cải tiến mới sẽ đem lại?
Đó là một vài suy nghĩ ban đầu về những bất cập nếu chúng ta áp dụng đề xuất cải tiến tiếng Việt của PGS Bùi Hiền.
TS. Trịnh Thu Tuyết
(Nguyên giáo viên Ngữ văn - Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội)

Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2017

Chống tham nhũng: Ai chống, chống ai?


Tham nhũng không phải bây giờ mới xuất hiện mà có từ thời thượng cổ. Khi con người lập ra bộ máy cai trị thì tham nhũng nảy sinh. Đơn giản là con người vốn tham, lúc có quyền hành trong tay thì lòng tham ấy được trợ lực, trỗi dậy, biến thành tham nhũng.
Vậy thì tham nhũng là gì? Là lợi dụng chức vụ quyền hạn để vơ vét, thâu tóm tiền bạc, của cải, tài sản không phải của mình về cho mình. Nói cách khác, tham nhũng là cuộc cướp đoạt vật chất bằng quyền bính.
Trong bất cứ thể chế, hình thức xã hội nào, kể cả xã hội XHCN, xã hội cộng sản “vì dân do dân”, chỉ những kẻ nắm quyền mới có thể tham nhũng. Dân không thể nào tham nhũng bởi dân không có quyền. Dân chỉ có nhiệm vụ chống tham nhũng. Nhưng trong xã hội XHCN dân cũng không được chống tham nhũng bởi thấp cổ bé miệng, nói chả ai nghe. Lịch sử Việt chỉ ghi nhận duy nhất trường hợp dân chống tham nhũng thành công là nhà thơ Đoàn Phú Tứ (tác giả bài “Màu thời gian” nổi tiếng) dõng dạc tố cáo đại tá Trần Dụ Châu khiến ông quan năm này bị phơi bày, chính phủ buộc phải ra tay xử lý. Còn về sau, bất kỳ người dân nào đứng lên đấu tranh chống tham nhũng số phận đều chịu lên bờ xuống ruộng.
Muốn chống tham nhũng, bộ máy cai trị xã hội phải có sự kiểm tra giám sát nhau theo cơ chế đối lập, dân chủ, đa đảng. Đảng nào, lực lượng nào nắm quyền mà tham nhũng thì đảng khác, lực lượng khác sẽ phanh phui, buộc nó phải ra đi cho đảng, lực lượng trong sạch hơn nắm quyền.
Độc đảng thì không bao giờ chống nổi tham nhũng. Có chống cũng như ném đá ao bèo, giật gấu vá vai, chữa cháy, lấp chỗ này hở chỗ khác. Độc đảng là cơ chế sinh ra tham nhũng, là mẹ đẻ của tham nhũng, nên nó không thể tự chống nó, nó thừa biết chống cũng chả đem lại kết quả tốt đẹp gì. Nó làm màu thế thôi, để lừa thiên hạ, che giấu cái thực chất thối nát của nó.
Nói thẳng ra, công cuộc chống tham nhũng do đảng cầm quyền xứ này, hiện thời dưới sự dẫn dắt của ông Nguyễn Phú Trọng, thực chất chỉ là cuộc đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực, bè phái (mà họ là nhóm, lợi ích nhóm) trị nhau. Kẻ chống lẫn kẻ bị chống đều cùng một giuộc, cùng từ một nguồn tham lam quyền lực, từng là đồng chí, từng chung quyền lợi, từng tụng niệm những bài giáo điều, từng thề thốt phấn đấu cho thứ này thứ nọ… Khi có quyền, khi phủ phê phè phỡn vật chất, chia bôi anh nhiều anh ít, sinh ra tị nạnh, ghen ghét, lôi kéo bè phái, tìm kẻ ăn cánh, không hạn chế lòng tham, dẫn tới đụng độ, tố cáo nhau, bày mưu tính kế triệt hại nhau. Họ gọi “đồng chí kẻ thù” là “tự suy thoái”, “lợi ích nhóm”, đẩy nhau vào lò lửa. Họ lợi dụng nhân dân, dựng chiêu bài chống tham nhũng vì nước vì dân để tranh thủ lôi kéo nhân dân vào phe với mình.
Những cuộc đấu đá “chống tham nhũng”, bắt bớ tràn làn, những ông này bà nọ bị khởi tố, truy tố đã và đang diễn ra chỉ chứng minh rằng bộ máy cai trị đã phân hóa rất ghê rợn, thậm chí thối nát, quyền lực đang được sử dụng vào cuộc tranh giành phe nhóm chứ dân chúng chả có ích lợi gì. Tham nhũng như thằng giặc Pham Nhan, cứ chặt đầu này sẽ mọc ngay đầu khác, bởi cái cơ chế sinh ra nó vẫn tồn tại thì nó phải tồn tại và phát sinh. Không có Đinh La Thăng, Vũ Huy Hoàng, Trịnh Xuân Thanh, Hồ Kim Thoa, Lê Phước Thanh, Ngô Văn Tuấn, Trần Văn Truyền, Nguyễn Xuân Anh… này thì sẽ có Thăng, Thanh, Hoàng, Thanh, Tuấn… khác. Vòng luẩn quẩn.
Tham nhũng chỉ bị đánh dẹp thực sự, chỉ giảm đi, mất đi khi không còn bà đỡ cho nó, cơ chế đẻ ra nó.
Chống tham nhũng ở xứ này, như kiểu cách hiện thời, chống một nghìn năm vẫn thế thôi.

Công là công, tội là tội

- Hầu hết các ông trùm ở Việt Nam hay thậm chí là các ông trùm ma tuý của thế giới, khi được hỏi thì hàng xóm hay người dân đa số đều nói tốt về họ.
Những người này họ sống rất tốt với hàng xóm, thường hay giúp đỡ người nghèo, làm từ thiện, chơi thân và đối tốt với cánh nghệ sĩ, nhà báo. Họ ít khi dùng vũ lực, ít động tay động chân và lúc nào cũng giữ cho mình một hình ảnh thân thiện, thế nên khi họ xộ khám, đa số những người từng được họ đối tốt đều cảm thấy bất ngờ.
Nếu hỏi hàng xóm của Năm Cam, Minh Sâm, Hưng Sóc, Bầu Kiên, Vũ Nhôm...thì tôi cá là bạn sẽ chẳng bao giờ nghe được hoặc nếu có thì là rất ít về tiếng xấu của những người này. Chính vì cái vỏ bọc hoàn hảo ấy nên dư luận luôn có sự tranh cãi, người ghét kẻ bênh khi bàn về họ.
Ở đời này, như tôi từng nói, những kẻ đao to búa lớn hay động tay động chân thì hậu quả mà họ gây ra nó thường rất nhỏ nếu đem so với bọn giang hồ chuyên hồ khoác lên mình chiếc áo thầy tu.
Như việc bạn giết một người thì bạn sẽ bị xã hội lên án và nguyền rủa, nhưng bạn giết hàng triệu người thì lại trở thành lãnh tụ được tôn thờ. Hay nếu bạn ăn cắp một con vịt mà bị bắt quả tang thì bạn trở thành tên trộm xấu xa, nhưng bạn ăn cắp hàng nghìn tỷ đồng thì bạn là lãnh đạo và đi đâu cũng có kẻ dạ người thưa.
Người tốt không thể là người đi cướp của rất nhiều người khác hay khiến cho bao gia đình tan nát, xã hội suy đồi để rồi lấy của cải cướp được đó mua lại cái nhìn thiện cảm của một số ít người khác được.
Công là công, tội là tội, cái gì cũng phải rạch ròi. Cái tốt được đánh đổi bằng máu, bằng nước mắt hay bằng sinh mạng của hàng nghìn người dân thì nó còn xấu xa tồi tệ gấp nghìn lần cái ác của bọn chuyên ăn cắp vặt hay đâm thuê chém mướn gây ra!

VÌ SAO NGƯỜI DO THÁI GIỎI LÀM GIÀU VÀ GIÚP ĐỠ NHỮNG NGƯỜI DÂN NGHÈO CỦA DÂN TỘC HỌ CÙNG GiÀU LÊN.

Giỏi thực hành và giỏi cả lý thuyết kinh tế
Ai cũng biết người Do Thái từ xưa đến nay đều rất giỏi làm kinh tế. Nếu không thì họ không thể nào tồn tại nổi trong suốt 2.000 năm bị trục xuất ra khỏi tổ quốc mình, phải sống lưu vong khắp thế giới, phần lớn đi tới đâu cũng bị hắt hủi, xua đuổi thậm chí hãm hại, tàn sát, bị cấm sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, nguyên vật liệu …).
Cho tới năm 1948 dân tộc lưu vong này mới được Liên Hợp Quốc chỉ định cho một “mảnh đất cắm dùi” rộng 20.770 km2 – tức nước Israel hiện nay, nơi tập trung khoảng 43% trong tổng số 13,9 triệu người Do Thái trên toàn thế giới.
Israel nghèo tài nguyên, thiếu cả nước ngọt, lại luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn do bị các nước A Rập xung quanh đe dọa chiến tranh, nhưng người dân nước này đã vượt qua mọi khó khăn xây dựng được một nền kinh tế phát triển. GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 32.700 USD, cao thứ 50 trên thế giới, là nước có mức sống cao ở vùng Trung Đông và châu Á.
Cộng đồng Do Thái ở Mỹ có 5,7 triệu người, chiếm 40% tổng số người Do Thái trên toàn thế giới, là quần thể dân tộc thiểu số thành công nhất, có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của dân Mỹ.
Dù chỉ chiếm khoảng 1,7~2,6% số dân nước Mỹ (số liệu 2012; tùy định nghĩa thế nào là người Do Thái) nhưng người Do Thái chiếm khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ.
Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính nước này, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel những khoản tiền khổng lồ.
Trong 50 người giàu nhất thế giới hiện nay do tạp chí Forbes đưa ra (3/2015) có tới 10 người Do Thái.Đó là :
Larry Ellison, tài sản 54,2 tỷ USD.nhà sáng lập và CEO Oracle Corp., giàu thứ 3 nước Mỹ
Michael Bloomberg, 35,5 tỷ USD
Mark Zuckerberg, 33,4 tỷ USD, tỷ phú trẻ nhất thế giới (sinh 1984)
Sheldon Adelson, 32,4 tỷ USD, vua casino
Sergey Brin và Larry Page (29,2 và 29,7 tỷ USD), đồng sáng lập Google
George Soros, 24,2 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện.
Carl Icahn, 23,5 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện.
Len Blavatnik, 20,2 tỷ USD, người giàu nhất nước Anh (sinh tại Liên Xô cũ).
Michael Dell, nhà sáng lập Dell Computer Founder..
Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thếgiới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng to lớn nếu không nói là quyết định tới tiến trình tiến hóa của nhân loại:
Trong tổng số 74 chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1969-2014, có 22 là người Do Thái, chiếm tỷ lệ gần 30%, dù người Do Thái chỉ chiếm 0,19 % số dân toàn cầu. Chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008)… là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng…
Từ năm 1987 tới nay có ba người Do Thái kế tiếp nhau làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed, tức Ngân hàng Trung ương Mỹ), cơ quan nắm quyền sinh sát trong giới tài chính Mỹ và thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu.
Đó là ông Alan Greenspan 19 năm liền (2/1987-2/2006) được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử vào chức vụ này.
Tiếp sau là ông Ben Bernanke (nhiệm kỳ 2/2006-2/2014) và bà Janet Yellen (từ 2/2014 tới nay).
Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James D. Wolfensohn, hai cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính có tác dụng rất lớn đối với các nước đang phát triển, đều là người Do Thái.
Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người:
Jacob Schiff (1847-1920), chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; năm 1904 do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân.
Nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong Thế chiến II phát xít Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc, tuy đồng minh số một của Nhật là phát xít Đức có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy. Schiff là người nước ngoài đầu tiên được Nhật Hoàng Minh Trị tiếp kiến tại Hoàng cung Nhật.
George Soros, nổi tiếng về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn, từng làm chao đảo thị trường tài chính toàn cầu.
Michael Blooomberg, sáng lập và sở hữu 88% Bloomberg L.P., một công ty truyền thông về tin tức tài chính và dịch vụ thông tin. Blooomberg từng trúng cử liền 3 khóa thị trưởng thành phố New York (2002-2013) với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế thế giới.
### NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG CỦA NGƯỜI DO THÁI
Vì sao người Do Thái lại giỏi làm kinh tế, tài chính trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy?
Lịch sử cho thấy yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của họ.
Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man trong suốt 2.000 năm qua.
Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.
Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người.
Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi.
`
Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành. Ngoài ra họ chú trọng truyền cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ.
Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn quan điểm của đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Khổng, ta cần phân tích thêm.
Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau và chiến tranh giữa các quốc gia. Hegel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền về tài sản.”
Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, toàn dân mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có, tức cùng có nhân quyền và thực sự bình đẳng với nhau.
Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa”, ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ, là tôn giáo của người nghèo.
Khổng giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn.
Karl Marx xuất thân gia đình khá giả, vợ ông cũng là con nhà quý tộc, nhưng ông không coi trọng đồng tiền. Marx từng nói: Đồng tiền là con đĩ của loài người.
Trong bài viết “Về vấn đề Do Thái” công bố năm 1843, ông mạnh mẽ công kích dân tộc Do Thái: “Sự sùng bái cá nhân của người Do Thái là gì? Lừa đảo. Đức Chúa Trời của họ là gì? Tiền!”.Ông cho rằng tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái.
Như vậy nghĩa là Marx đã thừa nhận người Do Thái tham dự sáng lập ra chủ nghĩa tư bản, một chế độ xã hội mới thay thế chế độ phong kiến và làm nên phần chủ yếu trong cộng đồng quốc tế hiện nay. Quả thật, người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Mọi người phải yêu Thượng Đế với toàn bộ trái tim, cuộc đời và của cải của mình; mỗi người đều phải quan tâm tới tài sản; không ai được phép dùng tài sản của mình để làm hại kẻ khác và không ai được trộm cắp tài sản người khác; tài sản của một người nhưng không phải chỉ là của người đó mà phải dùng nó để giúp kẻ khác …
### CÙNG NHAU GIÚP ĐỠ NGƯỜI DÂN NGHÈO CÙNG GIÀU LÊN.
Có thể hiểu “Yêu Thượng Đế với toàn bộ tài sản của mình” nghĩa là phải sử dụng tài sản riêng của mình theo lệnh Thượng Đế, nghĩa là phải chia bớt cho người nghèo. Quy ước này đã đặt nền móng cho tư tưởng nhân ái, bình đẳng của văn minh phương Tây. Từ đó ta dễ hiểu vì sao cộng đồng Do Thái ở đâu cũng giúp đỡ nhau để tất cả cùng giàu lên, không có ai nghèo khổ.
Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện.
Soros từng góp 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ khi ấy) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.
Người Do Thái luôn nghĩ rằng Thượng Đế giao cho họ nghĩa vụ và quyền làm giàu. Đây là động lực chủ yếu khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, không bao giờ chịu nghèo khổ. Hai nghìn năm qua, dù sống lưu vong ăn nhờ ở đợ các quốc gia khác và ở đâu cũng bị cấm sở hữu mọi tài sản cố định nhưng dân tộc này vẫn nghĩ ra nhiều cách kinh doanh hữu hiệu bằng các dịch vụ như buôn bán, dành dụm tiền để cho vay lãi …
Muốn làm giàu, điều cơ bản là xã hội phải thừa nhận quyền tư hữu tài sản.
Kinh Talmud viết:
Ai nói “Của tôi là của tôi, của anh là của anh” thì là người bình thường.
Ai nói “Của tôi là của anh, của anh là của tôi” thì là kẻ ngu ngốc.
Ai nói “Của tôi là của anh và của anh là của anh” thì là ngoan đạo .
Ai nói “Của anh là của tôi và của tôi là của tôi” là kẻ xấu .
Nghĩa là họ thừa nhận quyền tư hữu tài sản là chính đáng, không ai được xâm phạm tài sản của người khác.
Tuy thừa nhận quyền sở hữu tài sản và luật pháp bảo vệ quyền đó, nhưng đạo Do Thái không thừa nhận quyền sở hữu tài sản tuyệt đối và vô hạn, cho rằng tất cả của cải đều không thuộc về cá nhân mà thuộc về Thượng Đế, mọi người đều chỉ là kẻ quản lý hoặc kẻ được ủy thác của cải đó.
Tài nguyên thiên nhiên do Thượng Đế tạo ra là để ban cho tất cả mọi người, không ai có quyền coi là của riêng mình. Đây là một quan niệm cực kỳ tiến bộ và có giá trị hiện thực cho tới ngày nay: tài nguyên thiên nhiên, sự giàu có của đất nước là tài sản của toàn dân, tuyệt đối không được coi là của một số nhóm lợi ích hoặc cá nhân.
Kinh Talmud viết nhiều quy tắc hữu dụng về kinh doanh. Chẳng hạn:
– Vay một quả trứng, biến thành một trại ấp gà.
– Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin (tín dụng) là mất tất cả.
– Nghèo thì đáng sợ hơn 50 loại tai nạn.
– Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản; ki bo chỉ làm nghèo đi.
– Chỉ lấy đi thứ gì đã trả đủ tiền cho người ta.
– Biết kiếm tiền thì phải biết tiêu tiền; v.v…
Từ sự phân tích sơ qua về quan điểm đối với tài sản và tiền bạc nói trên, có thể thấy hệ thống tư tưởng của đạo Do Thái rất phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và chính vì thế nó tạo dựng nên truyền thống văn hóa bất hủ của dân tộc Do Thái – nền móng vững chắc làm cho dân tộc này dù phải sống lưu vong không tổ quốc hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn là dân tộc thành công nhất trên hầu hết các hoạt động của loài người.
Nguyễn Hải Hoành dịch
.
P/s :Ngược lại sống với cộng sản " Giàu thì nó ghét - Đói rét thì nó khinh - Thông minh thì nó tìm cách tiêu diệt "
Chỉ giỏi hút máu dân,cướp bóc,cưỡng chế đất đai khắp nơi làm khổ dân mà thôi.

Bữa ăn của người Việt qua góc nhìn của người Tây

Câu chuyện được cho là do một chàng Tây kể lại về bữa cỗ của người Việt
Bữa ăn của người Việt qua góc nhìn của người Tây
Cỗ ở nhiều vùng quê Việt Nam
Tất cả bọn họ hân hoan ngồi sà xuống nền nhà bày la liệt và lộn xộn các món thơm ngon, một số chồm người qua các đĩa đồ ăn để lấy cho mình gia vị và những thứ cần thiết. Những người trung niên bắt đầu đào bới trong các đĩa đồ ăn lớn, lôi ra những thứ có lẽ là ngon nhất cho vào chén của những người già hơn, một số người già sau khi nhận được miếng ngon bắt đầu cằn nhằn và lập tức chuyển chúng sang chén của mấy đứa con nít đang ngồi xung quanh.
Không khí rất ồn ào, ai cũng nói một điều gì đấy nhưng có vẻ không quan trọng.
Noi gương những người đàn ông, đám phụ nữ thì tay lôi ra từ đĩa hay dùng đũa khoắng vào trong các nồi to hơn tìm kiếm một vài thứ mong muốn, khi vớt được một chùm trứng gà còn nhỏ, cả mấy người phụ nữ và đám con nít reo ồ lên.
Một trong số họ tiếp tục vớt đồ ăn trong các tô lớn, một số khác tỉ mẩn ngồi xé các chiến lợi phẩm để cung cấp cho lũ nhỏ.
Tôi thực sự không biết là bữa ăn đã bắt đầu hay chưa, khi người có vẻ lớn tuổi nhất ngồi rung rung chân liên tục và uống những ly rượu đục ngầu, một trong số họ lấy tay bốc một cây rau to, vặt lấy vài lá rồi ném cọng rau còn thừa trở về đĩa.
Số trẻ em vừa ăn vừa nói chuyện huyên náo và xô đẩy nhau rất hiếu động. Cứ mỗi lần mấy người đàn ông chọc đũa vào một đĩa xào thơm phức họ lại gào lên với những người xung quanh: Ăn đi, ăn đi.
Một phụ nữ đang múc đồ ăn cho chính mình chợt rụt phắt tay lại khi ai đó cũng thò đũa vào tô đồ ăn đó, chị ta có vẻ nhún nhường thái quá và hình như chưa ăn được bao nhiêu dù bữa ăn kéo dài đã gần 1 giờ đồng hồ, thời gian quá dài để bắt dạ dày phải liên tục nhận thêm đồ ăn.
Những vị cao niên được trọng vọng thấy rõ trong bữa ăn, họ ăn ít và thường xong đầu tiên. Một cô gái như từ dưới đất chui lên bưng đến một khay nước trà rất nóng kính cẩn mời những ông già, các ông mỗi người ngậm một cây tăm nhỏ xíu trong miệng liên tục cà qua cà lại như cách người ta sơn hàng rào không mỏi mệt, bắt đầu uống trà. Một ngụm trà nuốt vào sau đó họ chép miệng liên tục, rồi một ngụm nữa súc ộc ộc trong khi đám đông vẫn miệt mài ăn và thả đồ ăn vào chén của nhau.
Chợt một người phụ nữ quát to với đứa nhỏ có lẽ là con, không hiểu chị ta nói gì, nhưng thằng bé ngồi thụt ra khỏi chiếc chiếu, bẽn lẽn cúi mặt. Chị ta gầm gừ giật chén cơm trên tay nó, chan súp và lấy thêm các món khác còn lại trên mâm, giúi trở lại vào tay nó, miệng vẫn không thôi gầm gừ.
Sau này có dịp tiếp xúc với những người bạn Việt, tôi biết có một nguyên tắc trong bữa ăn với đám trẻ nít : lúc đầu họ khuyến khích chúng ăn nhanh ăn nhiều cho mau lớn, sau đó họ nói : ăn uống phải liên tục quan sát những người xung quanh và điều chỉnh hướng ngồi của mình cho hợp lý, còn thế nào là hợp lý và quan sát những người xung quanh để làm gì thì mỗi bà mẹ dạy con một kiểu. Tóm lại là có một nguyên tắc "ăn trông nồi, ngồi trông hướng".
Ai đó sau khi mút đũa chụt chụt bỗng dùng chính đôi đũa đó gắp thả vô trong đĩa tôi một miếng thịt hình thù kỳ dị, tất cả ồ lên : "Ngon lắm, ngon lắm". Tôi hơi ghê và băn khoăn liệu rằng những thứ mà họ thấy ngon thì tôi có thấy ngon hay không?
Bằng sự thận trọng cần thiết, tôi hiểu rằng phải nhường nó cho người lớn tuổi. Miếng ngon đó đi lòng vòng rất lâu trong các đôi đũa ướt nhẫy, cuối cùng nó thuộc về người chủ thực tế của gia đình, một người đàn ông gầy và khắc khổ, vừa nhai nát nó, anh ta vừa rên rỉ trong miệng những lời bình luận thì phải.
Không ai nghe và cũng không ai trả lời, mọi người còn túi bụi thu gom các thứ cần thiết để cho vào một miếng "bánh đa" vừa được nhúng trong nước cùng với rau sống được vẩy lung tung ướt cả mặt người ngồi bên.
Cái chính rút ra được là: Có những thứ sẽ thừa rất nhiều, có những thứ bị thiếu ngay trong chục phút đầu. Tôi cho rằng đây không chỉ là lỗi của đầu bếp, mà còn chính là lỗi của những người ăn, khi họ không chỉ ăn mà lại tự thấy có trách nhiệm thúc ép người khác phải ăn những món mình thấy ngon.
Và như tôi đã trải qua khi lấy một miếng ức con gà: "Đừng ăn! Đừng ăn! Không ngon! Không ngon!"... tức là ngăn cản người khách ăn một món mà chính họ bày ra đĩa vì nó... không ngon???
Khi bữa ăn kết thúc không ai dám động vào miếng "chả" cuối cùng nằm lại trên đĩa như kiểu nó bị tẩm thuốc độc, cũng không hiểu vì sao.
Ôi ! Một phong cách ăn uống độc đáo! Dù sao tôi thấy bữa ăn của họ tuy căng thẳng, mất trật tự và vất vả quá mức những cũng rất khó quên và rất thân mật với các nguyên tắc vừa mơ hồ vừa nghiêm khắc..."
(Sưu tầm)

Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

Chóng mặt với số tiền khủng người Mỹ bỏ ra để con vào được ĐH danh giá


Theo kết quả nghiên cứu được đăng trên trên trang Town & Country cho thấy, các gia đình ở Mỹ phải chi trả khoản tiền nhiều hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới để cho con được học tại các trường đại học danh giá.

Năm 1973, tạp chí Town & Country đưa ra phân tích, gia đình Mỹ phải bỏ ra số tiền khoảng 300.000 USD (khoảng 6.8 tỉ VNĐ) để cho con vào được đại học.
Năm 2017, con số ước chừng khoảng 1.7 triệu USD (trên 38.6 tỉ VNĐ) để 1 đứa trẻ gia nhập 1 trong những trường đại học thuộc khối Ivy League.
 chong mat voi so tien khung nguoi my bo ra de con vao duoc dh danh gia hinh anh 1
Nhà giàu ở Mỹ coi trọng việc giáo dục các hoạt động khác hơn giáo dục học tập chính
Trong đó, những khoản chi nổi bật gồm :
- Mầm non: 4.500 USD (khoảng 102 triệu VNĐ) cho thủ tục nhập học, 80.000 USD (trên 1.8 tỉ VNĐ) cho học phí tại trường mầm non Horace Mann ở New York.
- Tiểu học: 156.400 USD (trên 3.5 tỉ VNĐ) cho trường Francis Parker ở Chicago, 164.990 (trên 3.7 tỉ VNĐ) cho Học viện Milton ở Milton, Massachusetts.
- Trung học: 157.000 USD (trên 3.56 tỉ VNĐ) cho 4 năm học tại trường Trung học Harvard-Westlake ở Los Angeles (California), 104.000 USD (trên 2.36 tỉ VNĐ) cho một giáo viên dạy kèm ngôn ngữ trong 40 tuần mỗi năm.
- Lớp học ngoại khóa: 29.870 USD (trên 670 triệu VNĐ) cho các lớp học âm nhạc và nghệ thuật dành cho trẻ từ 4 tuổi, 56,600 USD cho việc tham gia 1 giải đấu thể thao du lịch.
- Chuẩn bị trước khi vào đại học: 100.000 USD (trên 2.27 tỉ VNĐ) cho việc tư vấn tham gia vào các trường đại học danh giá.
- Chi phí 1 năm “gap year”: 55.000 USD (khoảng 1.25 tỉ VNĐ) để trải nghiệm du lịch và văn hóa trước khi vào đại học chính thức.
- Đại học: Chi phí cho 4 năm đại học tại Đại học Yale khoảng 280.000 USD (trên 6.36 tỉ VNĐ).
Phân tích trên cho thấy sự khác biệt rất lớn trong việc tiếp cận giáo dục của gia đình giàu có và gia đình có thu nhập thấp. Sự khác biệt lớn nhất nằm ở các hoạt động khác được coi trọng hơn chương trình học tập chính.
Thậm chí, trước khi học tiểu học, các bậc phụ huynh giàu có còn đầu tư tiền để con của họ tham gia vào các lớp học làm giàu với mong muốn chúng có xuất phát điểm nhanh hơn với những đứa trẻ khác.
Tất nhiên, sự giàu có không phải là yếu tố duy nhất để quyết định sự thành công của mỗi người. Bên cạnh đó, các trường đại học cũng cố gắng tuyển sinh rộng rãi hơn, khuyến khích sinh viên đến từ nhiều quốc gia, dân tộc và tầng lớp kinh tế khác nhau.



Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2017

Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế (Digital Creative Portfolio)


Đối với học bổng của Khoa Truyền thông và Thiết kế, bạn phải nộp Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế (Digital Creative Portfolio). Hồ sơ cho bạn cơ hội thể hiện kỹ năng, sở thích và thế mạnh trong sáng tạo tác phẩm thiết kế hay truyền thông số.
Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế cho phép sinh viên có năng lực sáng tạo vượt trội nhưng có thể không đạt điểm cao trong các môn học truyền thống ở trường trung học được thể hiện sản phẩm sáng tạo của bản thân.
Bạn nên tập hợp Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế cẩn thận và tập trung thể hiện bản thân bạn, đồng thời, qua các tác phẩm của mình thể hiện đam mê sáng tạo và thiết kế của bạn. Hồ sơ không nên tập hợp các tác phẩm rời rạc. Chúng tôi khuyến khích bạn tập trung vào chất lượng của các tác phẩm thay vì số lượng.
Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế có thể gồm những loại sau:
  • Thiết kế đồ họa hoặc tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Video, phim hoạt hình hoặc tác phẩm kỹ xảo;
  • Thiết kế âm thanh, phối nhạc hoặc sáng tác nhạc;
  • Các thiết kế tương tác như trang web, ứng dụng điện thoại hay game;
  • Các tác phẩm nghệ thuật thủ công như tranh vẽ, điêu khắc hay nghệ thuật sắp đặt
  • Và bất kỳ tác phẩm thiết kế tâm đắc nào do bạn thực hiện.
Quan trọng nhất, Hồ sơ năng lực thiết kế của bạn cần sắp xếp phù hợp để truyền tải được ý tưởng đằng sau các tác phẩm. Một hồ sơ năng lực tốt phải thể hiện được bạn là ai và vì sao bạn xứng đáng giành được Học bổng ngành Thiết kế.
Định dạng: Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế phải gồm một file video với thời lượng không quá năm phút. Trang bìa hồ sơ cần ghi rõ “Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế" và tên của bạn.
Nộp hồ sơ: Hồ sơ thể hiện năng lực thiết kế cần được đăng lên một kênh phim trực tuyến như Vimeo hoặc YouTube hoặc bất kỳ kho lưu trữ trực tuyến nào như Google Drive và nộp dưới dạng đường dẫn. Các phương thức nộp hồ sơ khác ngoài hình thức trực tuyến đều không được chấp nhận.
Lưu ý:
  • Tất cả các tác phẩm trong hồ sơ đều phải do chính ứng viên sáng tác.